Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 Cánh diều có đáp án
54 câu hỏi
“Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi. Họ vừa bắt xong.
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có truyện:
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…
(Lão Hạc – Nam Cao)
Từ nào thay thế được từ "đi đời" trong câu "Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!"?
Chết
Hi sinh
Bỏ mạng
Hết đời
D. Hết đời
Móm mém.
Vui vẻ.
Xót xa.
Ái ngại.
A. Móm mém.
Ý nào sau đây nói đúng nhất về nội dung của đoạn văn sau:
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước [...] Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…
Sự yếu đuối của lão Hạc
Sự già nua của lão Hạc
Sự đau đớn về tinh thần của lão Hạc
Sự cực khổ của lão Hạc
C. Sự đau đớn về tinh thần của lão Hạc
Qua nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm, em hiểu được gì về người nông dân trong xã hội cũ?
Họ là những con người có số phận nghèo khổ, bần cùng trong xã hội.
Giàu lòng yêu thương gia đình, trân trọng tình cảm.
Luôn giữ tấm lòng trong sạch, cao đẹp giữa những bùn nhơ của xã hội thực dân nửa phong kiến.
Tất cả đều đúng
D. Tất cả đều đúng
Qua đoạn trích, em thấy lão Hạc là người có tính cách như thế nào?
Là một người có số phận đau thương nhưng có phẩm chất cao quý.
Là người nông dân sống ích kỉ đến mức gàn dở, ngu ngốc.
Là người nông dân có thái độ sống vô cùng cao thượng.
Là người nông dân có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.
A. Là một người có số phận đau thương nhưng có phẩm chất cao quý.
Nhận xét nào sau đây nói không đúng về nghệ thuật xây dựng nhân vật Lão Hạc?
Sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể là nhân vật chứng kiến và hiểu toàn bộ câu chuyện.
Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật đặc sắc.
Xây dựng được nhân vật có tính cộng đồng, đại diện cho xã hội đương thời.
Mang tính triết lí sâu sắc.
D. Mang tính triết lí sâu sắc.
Câu: “Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão khóc mếu như con nít” xét về mặt cấu tạo ngữ pháp thuộc kiểu câu nào ?
Câu đơn
Câu ghép
B. Câu ghép
Liệt kê những từ tượng hình, tượng thanh có trong đoạn trích ? Nêu tác dụng ?
- Từ tượng hình: Móm mém
- Từ tượng thanh: Hu hu
- Tác dụng: Mô phỏng hình dáng miệng lão Hạc khi khóc và tiếng khóc của lão qua đó gợi lên sự đau khổ của lão Hạc sau khi bán chó.
Nếu em là lão Hạc, trong tình huống đó em có nên bán con chó đi không ? Vì sao ?
Nếu em là lão Hạc, trong tình huống đó em sẽ không bán con chó đi, thay vào đó em sẽ cho câu Vàng cho một gia đình nào đó khiến em yên tâm (nhà ông giáo Thứ chẳng hạn,...) vì mặc dù không thể nuôi được nữa nhưng em không muốn loài vật mình yêu thương, chăm sóc bị hành hạ hoặc bị giết bởi những người độc ác.
Theo em qua truyện ngắn Lão Hạc, mảng hiện thực cuộc sống nào được phản ánh và giá trị nhân đạo của tp được thể hiện như thế nào?
- Hiện thực cuộc sống và số phận đau khổ của người nông dân trước cách mạng tháng Tám được phản ánh.
- Trước hết, giá trị nhân đạo của tác phẩm được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm, sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc của nhà văn trước số phận đau thương, bất hạnh của người lao động, đặc biệt là của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.
- Truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng với người nông dân (lão Hạc) của nhà văn; đồng thời ngợi ca những phẩm cao quý của lão Hạc...
Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.
Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu, hắn chửi số kiếp hắn, và sau cùng thì chửi vợ. Ô! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu rồi tình cờ có một bữa rượu say. Dì Hảo chẳng nói năng gì.
Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc còn hăm hai. Cái cơ nghiệp người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.
(Trích Dì Hảo - Tuyển tập truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao, NXB, Văn học, 2017)
Nhân vật trung tâm của đoạn trích là:
Dì Hảo
"Hắn"
Tôi
Bà tôi
A. Dì Hảo
Nghị luận, tự sự
Nghị luận, miêu tả
Tự sự, biểu cảm
Miêu tả, thuyết minh
C. Tự sự, biểu cảm
Đứa con chết, mà dì thì què liệt
Con chết, dì bị què liệt, chồng mắng chửi, bỏ dì bơ vơ
Con chết, dì bị què liệt và buôn bán thua lỗ
Cơ nghiệp của dì tan tác theo gió bốn phương.
B. Con chết, dì bị què liệt, chồng mắng chửi, bỏ dì bơ vơ
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau là gì: Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ.
So sánh
Liệt kê
So sánh, điệp từ
So sánh, nói quá.
C. So sánh và điệp từ
Lão Hạc (Lão Hạc, Nam Cao)
Chí Phèo (Chí Phèo, Nam Cao)
Phương Định (Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê)
Ông Sáu (Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng)
B. Chí Phèo (Chí Phèo, Nam Cao)
Họ bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn
Họ bị tha hóa cả về nhân hình, nhân tính
Họ phải sống cuộc sống mất tự do, bị cầm tù về thể xác và tinh thần.
Họ không chỉ chỉ nghèo khổ về vật chất, họ còn bị đối xử bất công, bị tra tấn về tinh thần
D. Họ không chỉ chỉ nghèo khổ về vật chất, họ còn bị đối xử bất công, bị tra tấn về tinh thần
01 biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.
- Biện pháp điệp từ "và"
- Tác dụng: Sau điệp từ "và" là "nước mắt", là "lời than thở". Vì vậy việc sử dụng điệp từ này nhấn mạnh nỗi đau khổ, bất hạnh của nhân vật người bà, đau khổ vì cuộc đời của chính mình, đau khổ thay cho con, nỗi đau khổ chồng chất lên nhau. Phép điệp còn tạo nhịp điệu cho lời văn.
Tư tưởng nhân đạo của đoạn trích được thể hiện như thế nào?
- Lòng cảm thông, thương xót của nhà văn đối với số phận bất hạnh của người nông dân, của dì Hảo
- Tố cáo xã hội bất công với những hủ tục, những kẻ xấu xa gây nên nỗi bất hạnh cho con người.
- Trân trọng khát vọng của con người về cuộc sống bớt khổ cực hơn.
Viết về người nông dân, phản ánh bi kịch bị tha hóa của người nông dân
Viết về người trí thức, phản ánh vẻ đẹp tâm hồn của người trí thức
Viết về người trí thức, phản ánh bi kịch tinh thần của người trí thức trước Cách mạng tháng Tám
Viết về người nông dân, phản ánh nỗi bất hạnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám
D. Viết về người nông dân, phản ánh nỗi bất hạnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám
ANH HAI
- Ăn thêm cái nữa đi con!
- Nhận xét, rút ra bài học từ trải nghiệm của bản thân. Vận dụng cao: - Có lối viết sáng tạo, hấp dẫn lôi cuốn; kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm để kể lại cụ thể chuyến đi. - Lời văn sinh động, giàu cảm xúc, có giọng điệu riêng.
- Ngán quá, con không ăn đâu!
- Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!
- Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!
Thằng bé lắc đầu nguầy nguậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường sát mép cổng. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đì.
Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:
- Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn. Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.
- Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh – Con bé nói rồi thút thít.
- Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!
(Theo Lý Thanh Thảo)
Tự sự
Biểu cảm
Miêu tả
Nghị luận
A. Tự sự
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba
Có sự chuyển đổi ngôi kể
C. Ngôi thứ ba
Dòng nào chỉ ra một từ tượng hình, một từ tượng thanh trong văn bản?
Chỏng chơ, lấm láp
Nguầy nguậy, lấm láp
Hôi hám, chỏng chơ
Thút thít, chỏng chơ
D. Thút thít, chỏng chơ
Nêu nội dung chính của văn bản trên.
Nội dung chính của văn bản: Câu chuyện kể về cách cư xử của thằng bé con nhà giàu và hai đứa trẻ, tác giả ca ngợi tình anh em ruột thịt yêu thương, đùm bọc dù cuộc sống nghèo khổ.
Sự việc nào làm nổi bật ý nghĩa nhan đề? Đó là ý nghĩa gì?
- Sự việc: Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thô.
- Ý nghĩa: Ca ngợi tình cảm anh em ruột thịt yêu thương, đùm bọc, nhường nhịn, sẻ chia, gắn bó khăng khít.
Câu nói của người anh “Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!” chứng tỏ điều gì? Tìm câu tục ngữ, ca dao có cùng ý nghĩa.
* Câu nói của người anh chứng tỏ:
- Chứng tỏ sự hồn nhiên, trong sáng của 2 anh em.
- Anh luôn yêu thương, nhường nhịn, quan tâm, chăm sóc em.
- Tình cảm anh em là vô cùng thiêng liêng cao đẹp. Dù cuộc sống có nghèo đói, khốn khổ nhưng anh vẫn luôn yêu thương, đùm bọc, nhường nhịn em.
* Câu tục ngữ cùng ý nghĩa: Anh em như thể tay chân Rách làm đùm bọc dở hay đỡ đần.
Qua văn bản, em hiểu tác giả muốn gửi gắm thông điệp nào?
Thông điệp gửi gắm: Tác giả muốn cho mọi người thấy tình cảm anh em sâu sắc trong hoàn cảnh khó khăn và đồng thời phê phán những người không biết trân trọng tình cảm đó.
BÁNH TRÔI NƯỚC
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Hồ Xuân Hương)
Bài thơ được viết bằng chữ Quốc ngữ theo thể thơ thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
D. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Qua hình ảnh chiếc bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn nói gì về người phụ nữ?
Vẻ đẹp tâm hồn.
Vẻ đẹp hình thể.
Vẻ đẹp và số phận long đong.
Số phận bất hạnh.
C. Vẻ đẹp và số phận long đong
Trong nghĩa thứ nhất của bài thơ Bánh trôi nước, chiếc bánh trôi nước được miêu tả như thế nào?
Chiếc bánh được làm từ bột nếp, nhào nặn thành viên tròn, màu trắng, bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Chiếc bánh được nhào nặn, bên trong chứa nhân, bánh có màu đỏ và nổi trên mặt nước khi luộc.
Chiếc bánh có hình vuông, màu trắng và bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Chiếc bánh được làm từ bột gạo, có hình ống với nhiều màu sắc khác nhau.
A. Chiếc bánh được làm từ bột nếp, nhào nặn thành viên tròn, màu trắng, bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Nhận xét nào đúng khi nói về những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bánh trôi nước?
Bài thơ vừa tả thực về chiếc bánh trôi, vừa thể hiện vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu cao đẹp của người phụ nữ, vừa cảm thông cho thân phận chìm nổi của họ.
Bài thơ đã thể hiện sâu sắc vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu, son sắt, thủy chung của người phụ nữ.
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp hình thức của chiếc bánh trôi và vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ.
Bài thơ đã miêu tả sinh động hình ảnh chiếc bánh trôi, một món ăn độc đáo của dân tộc.
A. Bài thơ vừa tả thực về chiếc bánh trôi, vừa thể hiện vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu cao đẹp của người phụ nữ, vừa cảm thông cho thân phận chìm nổi của họ.
Ở nghĩa thứ hai (lớp nghĩa hàm ẩn) trong bài thơ Bánh trôi nước, hình ảnh người phụ nữ được miêu tả như thế nào?
Lớp nghĩa thứ hai: Hình ảnh người phụ nữ hiện lên là người phụ nữ xinh đẹp, da trắng, thân hình cân đối nhưng số phận lại long đong ba chìm bảy nổi, và dù sống trong cảnh tối tăm nhưng người phụ nữ ấy vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình.
Em hãy nêu nhận xét về ngôn ngữ trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Nhận xét về ngôn ngữ: Ngôn ngữ bình dị, giàu hình ảnh, gắn liền với cuộc sống.
Nêu chủ đề của bài thơ Bánh trôi nước, từ đó kể tên một tác phẩm (ghi rõ tên tác giả) có chung chủ đề ấy.
- Chủ đề: Thân phận người phụ nữ
- Bài thơ cùng chủ đề: Thương vợ - Trần Tế Xương
Qua bài thơ Bánh trôi nước, em có cảm nghĩ gì về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ?
Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ: Xinh đẹp nhưng khổ cực, lận đận, truân chuyên
THU VỊNH
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến)
Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Thất ngôn bát cú đường luật
Thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Thất ngôn xen lục ngôn
Song thất lục bát
A. Thất ngôn bát cú đường luật
Những phương thức biểu đạt nào được sử dụng trong bài thơ?
Miêu tả, tự sự
Biểu cảm, tự sự
Biểu cảm, miêu tả
Tự sự, nghị luận
C. Biểu cảm, miêu tả
Đặc điểm gieo vần của bài thơ Thu vịnh là:
Gieo vần chân
Vần bằng
Vần “ao” được gieo ở tiếng thứ 7 của các câu 1, 2, 4, 6, 8
Cả ba đáp án trên
D. Cả ba đáp án trê
Điểm nhìn để đón nhận cảnh thu của Nguyễn Khuyến trong bài thơ Thu vịnh là:
Điểm nhìn từ trên cao
Điểm nhìn từ dưới thấp
Điểm nhìn từ gần đến cao xa, từ cao xa trở về gần
Điểm nhìn từ cao xa, về gần thấp rồi lại đến cao xa
D. Điểm nhìn từ cao xa, về gần thấp rồi lại đến cao xa
Hình ảnh nào xuất hiện trong cả hai bài thơ Thu vịnh và Thu điếu?
Trời thu
Ao thu
Trăng thu
Lá thu
A. Trời thu
Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ
Bức tranh thiên nhiên ảm đạm, hiu hắt
Bức tranh thiên nhiên đẹp, thanh sơ, yên bình nhưng tĩnh lặng, gợi buồn
Bức tranh thiên nhiên mới mẻ, kì thú, đậm chất phương xa, xứ lạ
C. Bức tranh thiên nhiên đẹp, thanh sơ, yên bình nhưng tĩnh lặng, gợi buồn
Cảnh nhớ nhung, sầu muộn
Cô đơn, u hoài
Chán chường, ngán ngẩm
U buồn, tủi hổ
D. U buồn, tủi hổ
Dòng nào sau đây không biểu đạt nội dung của bài thơ?
Vẻ đẹp thanh sơ, tĩnh lặng của cảnh vật mùa thu.
Nỗi niềm u uẩn của nhà thơ.
Vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, bình dị, gắn bó với quê hương, đất nước của Nguyễn Khuyến.
Những chiêm nghiệm của tác giả trong một lần làm thơ về mùa thu.
D. Những chiêm nghiệm của tác giả trong một lần làm thơ về mùa thu.
Xác định biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ sau, nêu tác dụng:
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
- Biện pháp nghệ thuật:
+ So sánh: nước biếc như tầng khói phủ
+ Đối: nước biếc >< song thưa; tầng khói phủ >< bóng trăng vào.
- Tác dụng:
+ Các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong hai câu thơ trên góp phần tạo ấn tượng về bức tranh thiên nhiên đẹp huyền ảo, thơ mộng.
+ Đồng thời tăng tính gợi hình, tạo sự cân đối, nhịp nhàng cho bài thơ
Qua các hình ảnh về mùa thu trong bài thơ, tác giả thể hiện tình cảm gì với thiên nhiên.
Tình cảm của tác giả với thiên nhiên:
- Yêu thiên nhiên đắm say, mãnh liệt. Yêu thiên nhiên, ông cảm nhận thiên nhiên, ông cảm nhận thiên nhiên mùa thu bằng những vần thơ đẹp, giàu hình ảnh, cảm xúc của một tâm hồn nhạy cảm.
- Yêu thiên nhiên chính là yêu quê hương, đất nước – đây là vẻ đẹp trong thơ Nguyễn Khuyến. Tình yêu yêu quê hương đất nước không ồn ào phô trương mà lặng kẽ, sâu sắc, mãnh liệt.
THƯƠNG VỢ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
(Trần Tế Xương)
Thất ngôn bát cú đường luật
Thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Thất ngôn xen lục ngôn
Song thất lục bát
A. Thất ngôn bát cú đường luật
Dòng nào sau đây được xem là chủ đề của bài thơ Thương vợ?
Thương vợ là bài thơ thành công trong cách vận dụng và sáng tạo ca dao và thành ngữ. Đây là bài thơ trữ tình hay nhất của thơ văn trung đại viết về người vợ.
Thương vợ là bài thơ tỏ niềm cảm thông sâu sắc với thân phận người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến không có niềm hạnh phúc gia đình “một duyên hai nợ”.
Thương vợ là bức chân dung chân thực về người vợ đảm đang, chịu thương, chịu khó, là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống Việt Nam: tháo vát, cần cù, lam lũ và giàu đức hy sinh. Đồng thời thể hiện tình cảm thương quý, biết ơn của nhà thơ đối với vợ.
Thương vợ bộc lộ nỗi đau thầm kín của nhà thơ vì vỡ mộng công danh, đành để vợ con vất vả, nghèo khổ.
C. Thương vợ là bức chân dung chân thực về người vợ đảm đang, chịu thương, chịu khó, là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống Việt Nam: tháo vát, cần cù, lam lũ và giàu đức hy sinh. Đồng thời thể hiện tình cảm thương quý, biết ơn của nhà thơ đối với vợ.
Tú Xương gửi gắm tâm sự gì qua hai câu thơ “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công”?
Tình yêu chung thủy của ông đối với người vợ của mình.
Sự biết ơn của ông Tú đối với công lao của bà Tú.
Sự trân trọng của ông đối với tình yêu chung thủy của bà Tú.
Sự trân trọng của ông đối với tấm lòng và đức độ của bà Tú.
D. Sự trân trọng của ông đối với tấm lòng và đức độ của bà Tú.
Nghĩa của từ “hờ hững” trong câu “Có chồng hờ hững cũng như không” là:
Chỉ có cái vẻ bên ngoài hoặc trên danh nghĩa, chứ sự thật không phải.
(Làm việc gì) tỏ ra chỉ là làm lấy có, không có sự chú ý.
(Làm việc gì) chỉ vừa đến mức được cái vẻ như đã làm.
Tỏ ra lạnh nhạt trong quan hệ tình cảm, không chút để ý đến.
D. Tỏ ra lạnh nhạt trong quan hệ tình cảm, không chút để ý đến.
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Nghệ thuật của 2 câu thơ:
- Sử dụng lối nói dân gian một cách sáng tạo.
- Sử dụng từ láy giàu giá trị gợi hình biểu cảm.
- Sử dụng biện pháp đảo ngữ và nghệ thuật đối.
→ Tác dụng: Thể hiện sự hoá thân của đối tượng trữ tình thành “thân cò”, làm nổi bật cái vất vả đảm đang của bà Tú và ẩn sau câu chữ vẫn là tấm lòng nhà thơ với cái nhìn ái ngại, cảm thông.
- Từ ngữ có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú: thân cò (lam lũ, vất vả, chịu thương, có phần xót xa, tội nghiệp xuất hiện trong cái rợn ngợp của cả không gian và thời gian).
- Trong ca dao hình ảnh con cò thường dùng để chỉ người phụ nữ trong xã hội cũ. Ở đây Tú Xương đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ để chỉ sự lam lũ cực nhọc của bà Tú.
Câu “Nuôi đủ năm con với một chồng” diễn tả nỗi vất vả của bà Tú như thế nào?
Câu “Nuôi đủ năm con với một chồng” diễn tả nỗi vất vả của bà Tú: Nuôi năm đứa con đã vô cùng vất vả, lại thêm người chồng với đầy đủ nhu cầu ăn, mặc, và cả những thú phong lưu kẻ sĩ của ông, ngần ấy làm oằn đôi vai của bà Tú.
Từ hình tượng bà Tú trong văn bản Thương vợ em có suy nghĩ gì về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh bà Tú:
- Người phụ nữ Việt Nam luôn cần cù, chăm chỉ lao động trong cuộc sống dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, có khó khăn đến đâu.
- Dù cuộc sống, công việc của họ có gặp phải nhiều khó khăn nhưng ở họ vẫn luôn giữ được tinh thần lạc quan, sự cần mẫn, chăm chỉ vốn có của mình.
- Họ là những người không được lựa chọn cuộc đời, số phận cho mình, họ chỉ được cách chấp nhận số phận của mình được người khác sắp đặt và cố gắng hòa nhập với cuộc sống ấy.
- Người phụ nữ Việt Nam dù có gặp phải người chồng hờ hững hay tệ bạc cũng vẫn luôn giữ cho mình nhân phẩm cao đẹp vốn có để chấp nhận và cùng chung sống.
Em hãy viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện em yêu thích.
Thạch Lam là nhà văn tiêu biểu thuộc nhóm Tự lực văn đoàn. Truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa là một truyện ngắn xuất sắc của ông viết về đề tài trẻ em.
Truyện bắt đầu bằng khung cảnh của buổi sáng mùa đông được nhà văn khắc họa tinh tế. Chỉ sau một đêm mưa rào, trời bắt đầu nổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến khiến con người tưởng rằng mình đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, cậu thấy mọi người trong nhà, mẹ và chị đã trở dậy, ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Mọi người đều “đã mặc áo rét cả rồi”. Ở ngoài sân “Gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Bầu trời không u ám, toàn một màu trắng đục”. Những cây lan trong chậu “lá rung động và hình như sắt lại vì rét”. Và sơn cũng thấy lạnh, cậu vơ vội cái chăn trùm lên đầu rồi gọi chị.
Mẹ Sơn đã bảo Lan - chị gái của Sơn vào buồng lấy thúng áo ra. Mẹ Sơn lật cái vỉ buồm, lục đống quần áo rét. Bà giơ lên một chiếc áo bông cánh xanh đã cũ nhưng còn lành. Đó chính là chiếc áo của Duyên - đứa em gái đáng thương của Sơn đã mất năm lên bốn tuổi. Người vú già đã “với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía, tay mân mê các đường chỉ”. Khi nghe mẹ nhắc về em gái, Sơn cũng cảm thấy “nhớ em, cảm động và thương em quá”. Cậu xúc động khi thấy mẹ “hơi rơm rớm nước mắt”. Chiếc áo bông chính là kỉ vật gợi nhớ về người em gái đã mất với biết bao tình yêu thương sâu sắc.
Sau khi mặc xong áo ấm, chị em Sơn đi ra chợ chơi.Thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc - những đứa trẻ em nghèo khổ vẫn phải mặc những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Môi chúng nó “tím lại”, chỗ áo quần rách “da thịt thâm đi”. Gió lạnh thổi đến, chúng nó lại “run lên, hai hàm răng đập vào nhau”. Khi nhìn thấy Sơn và Lan trong những bộ quần áo ấm áp, chúng cảm thấy xuýt xoa, ngưỡng mộ. Hai chị em Sơn tỏ ra thân thiết với chúng chứ không khinh khỉnh như các em họ của Sơn.
Và đặc biệt là khi Lan nhìn thấy Hiên đang đứng “co ro” bên cột quán, trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo “rách tả tơi”, “hở cả lưng và tay”. Cả hai chị em đều cảm thấy thương xót cho con bé. Sơn chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt thoáng qua trong tâm trí Sơn - đó là đem chiếc áo bông cũ của em Duyên cho Hiên. Nghĩ vậy, cậu đã nói với chị gái của mình, nhận được sự đồng tình của chị. Chị Lan đã “hăm hở” chạy về nhà lấy áo. Còn Sơn thì đứng yên lặng đợi chờ, trong lòng tự nhiên thấy “ấm áp vui vui”. Cái áo cũ mà chị em Sơn đem cho Hiên thể hiện tấm lòng nhân hậu của hai đứa trẻ.
Về đến nhà, hai chị em Sơn lo lắng khi người vú già biết mẹ đã biết chuyện hai chị em lén mang áo cho Hiên. Sơn cảm thấy lo lắng, sợ hãi và sang nhà tìm Hiên để đòi lại áo. Nhưng đó là một phản ứng bình thường của một đứa trẻ khi mắc lỗi và bị phát hiện. Đến khi trở về nhà, chị em Sơn vô cùng ngạc nhiên khi thấy mẹ con cái Hiên đang ở nhà mình. Mẹ Hiên đem chiếc áo bông đến trả mẹ của Sơn. Có thể thấy dù sống khó khăn, khổ cực nhưng bà vẫn giữ vững phẩm chất tốt đẹp: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Còn người mẹ của Sơn, sau khi nghe rõ việc, bà đã cho mẹ của Hiên mượn năm hào về may áo ấm cho con. Điều đó thể hiện mẹ Sơn là một người trái tim nhân hậu. Sau khi mẹ con Hiên về, mẹ Sơn không tức giận, đánh mắng con mà còn “vẫy hai con lại gần, rồi âu yếm”. Đó chính là tấm lòng vị tha cũng như giàu lòng yêu thương của người mẹ.
Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” nhẹ nhàng mà thật sâu sắc. Tác phẩm đã giúp người đọc hiểu hơn về giá trị của tình yêu thương giữa con người. Đây quả là tác phẩm xuất sắc của nhà văn Thạch Lam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – cái tên mà mỗi nhắc đến trong lòng mỗi chúng ta lại có những cảm xúc riêng. Bác không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại, vị cha già kính yêu giàu lòng nhân ái mà Bác còn là nhà thơ, nhà văn lỗi lạc của dân tộc Việt Nam ta. Trong thơ Bác, trăng luôn là đề tài bất tận để tạo nên vẻ đẹp riêng trong thơ Người. Và Rằm tháng giêng là một bài thơ như vậy. Qua bài thơ, ta có thể thấy được tình yêu thiên nhiên hoà quyện với tình yêu quê hương, đất nước và niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Rằm tháng giêng là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật được viết bằng chữ Hán. Tác phẩm viết về đề tài thiên nhiên, cảm hứng sáng tác bài thơ bắt nguồn từ cảnh trăng sáng ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ được viết năm 1948 xuất hiện trên báo “Cứu quốc” như truyền thêm cho quân và dân ta tình yêu thương vô bờ đối với quê hương đất nước, đồng thời đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu nước sâu nặng của Bác Hồ.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh tuyệt vời trong đêm nguyên tiêu. Thời gian và không gian trong 2 câu thơ đầu tràn ngập vẻ đẹp và sức xuân:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên
(Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)
Ánh trăng đêm rằm tháng giêng mang vẻ đẹp khác thường vì trời đất lúc này đang vào xuân. Trong đêm rằm, mặt trăng tròn đầy, ánh trăng bao trùm lên vạn vật. Ánh trăng khiến cho cảnh vật mang vẻ đẹp thật hữu tình và ta có cảm giác như trăng chưa bao giờ đẹp và tròn như vậy. Quê hương, đất nước bao trùm là một màu xanh bát ngát của xuân giang, dòng sông lúc này như được tiếp thêm thứ sức sống mới dưới không khí mát lành của mùa xuân và tiếp nối đó màu xanh của xuân thiên. Mùa xuân là mùa của lộc non. Xuân phơi phới có ở muôn nẻo, xuân của dòng sông, dòng nước và xuân trong cả không gian cao rộng của bầu trời. Từ “xuân” được điệp lại ba lần làm nổi bật lên vẻ đẹp của cây cối, sông nước, bầu trời, mây gió,... trong đêm rằm đầu năm. Chỉ với một chữ “tiếp” mà câu thơ như bừng sáng. Câu thơ trở nên có hồn và sống động hơn. Cả dòng sông và bầu trời như đang nối liền với nhau tạo ra không gian bao la đến vô tận. Hai câu thơ không tả mà giàu sức gợi hình ảnh, gợi màu sắc dù nó là bức tranh về cảnh khuya có hai gam màu trắng và đen, sáng và tối. Người đọc thích thú khi hình dung cảnh đêm xuân đẹp bao nhiêu thì càng cảm phục cái tài thơ của Bác bấy nhiêu.
Trên khung cảnh thiên nhiên vào đêm rằm tháng giêng hình ảnh con người xuất hiện thật thú vị, ta có thể cảm nhận rõ nét vẻ đẹp tâm hồn con người trên nền thiên nhiên tuyệt diệu:
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
(Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.)
Trên một chiếc thuyền nhỏ trôi lênh đênh giữa dòng sông, Bác đang cùng với những người chiến sĩ của mình bàn bạc việc nước. Hình ảnh “Yên ba thâm xứ” gợi lên không gian sông nước mênh mang, sâu thẳm mịt mù khói sóng. Từ ngàn xưa, khói sóng thường là không gian gợi nỗi sầu li hương, khoảnh khắc nhớ nhà của những tao nhân mặc khách. Thế nhưng trong câu thơ này “yên ba thâm sứ” được kết hợp với “đàm quân sự” đã hoàn toàn xóa đi nội dung của ý thơ xưa. Tình yêu thiên nhiên hòa lẫn tình yêu và trách nhiệm với quê hương, đất nước. Ánh trăng kia như đang đồng cảm cho nỗi vất vả, lo toan của người thi nhân- người chiến sĩ cộng sản. Có lẽ từ đây, ta đã đủ nhận ra được tinh thàn trách nhiệm và mong muốn đất nước được độc lập có Bác lớn lao như thế nào. Đêm đã khuya nhưng vầng trăng vẫn luôn dõi theo Bác, đợi Bác trở về:
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Trời khuya vậy mà ánh sáng của trăng vẫn tràn ngập khắp nơi, trăng như đang đồng hành cùng với thi nhân. Hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền” thật đẹp và kì lạ, ánh trăng đang soi dòng nước hay ánh trăng đã rơi xuống mạn thuyền để cùng với thi nhân bạc bạc việc chung của đất nước. Trăng gắn bó với người nghệ sĩ biết thưởng thức vẻ đẹp của trăng và chính người nghệ sĩ phải có tâm hồn giao hoà, lãng mạn thì mới có thể nhìn thấy trăng đang đồng hành với mình. Và chỉ sau khi bàn bạc việc nước xong xuôi, Người mới có thời gian ngắm nhìn thiên nhiên bằng một trái tim say mê nhất. Như vậy, chúng ta có thể thấy được một tâm hồn thi sĩ cao đẹp của Bác Hồ. Hai câu thơ vừa mang nét hiện đại vừa mang nét cổ điển, chất hiện đại đó chính là tinh thần thép, là chất chiến đấu của Bác:
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Nhật kí trong tù)
Bài thơ đã khép lại nhưng ấn tượng về bức tranh thiên nhiên trong đêm nguyên tiêu cùng tâm hồn yêu thiên nhiên, trách nhiệm tinh thần với dân tộc, đất nước của Bác vẫn vẹn nguyên trong lòng mỗi độc giả.
Như vậy, chỉ qua bốn câu thơ ngắn gọn được viết theo thể thể thơ thất ngôn tứ tuyệt mang phong vị Đường thi đã dựng xây nên bức tranh thiên nhiên trong đêm trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp vừa cổ điển, lãng mạn lại vừa hiện đại, đồng thời đã làm nổi bật hình tượng Bác giao hoà giữa vẻ đẹp của người chiến sĩ với thi sĩ. Bằng biện pháp điệp ngữ và những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, ngôn ngữ giàu nhạc điệu, gợi cảm cộng hưởng với phong cách thơ vừa cổ điển vừa hiện đại, Bác đã vẽ nên bức tranh trăng trên sông nước tràn đầy sắc xuân. Qua đây, ta cũng nhận ra được tâm hồn yêu thiên nhiên và phong thái lạc quan của người chiến sĩ cộng sản.
Tóm lại, Rằm tháng giêng có thể được xem là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Bài thơ giúp ta hình dung một cách cụ thể bức tranh đêm trăng trên sông nước thật đẹp, hiểu thêm tấm lòng yêu dân, yêu nước, yêu thiên nhiên sâu sắc của vị lãnh tụ vĩ đại, phong thái ung dung, tự tại, lạc quan của vị cha già kính yêu của dân tộc.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.
Gợi ý cho bạn
Tài liệu phổ biến Lớp 8
Tài liệu phổ biến Văn

![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)



![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)

















