
Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 6 Kết nối tri thức có đáp án
51 câu hỏi
Ngôi thứ nhất số ít
Ngôi thứ nhất số nhiều
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba.
D. Ngôi thứ ba.
Biểu cảm
Nghị luận
Tự sự
Thuyết minh
C. Tự sự.
Lời của con quạ.
Lời của người kể chuyện.
Lời kể của người giấu mặt.
Lời của nhân vật tôi.
B. Lời của người kể chuyện.
Cụm động từ.
Cụm tính từ.
Cụm danh từ.
Cum chủ - vị.
Thông minh, mưu trí, cần cù, siêng năng.
Ngoan ngoãn, hiếu thảo, cần cù, chăm chỉ.
Thông minh, mưu trí, ỷ lại, tự mãn.
Tự cao tự đại, siêng năng, dũng cảm.
A. Thông minh, mưu trí, cần cù, siêng năng.
Tham thì thâm.
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Ngậm đắng nuốt cay.
Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
Khẳng định sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp con quạ chiến thắng.
Ca ngợi sự gan dạ dũng cảm của con quạ đã giành chiến thắng.
Con quạ tự mãn về sự thông minh của nó khi nó tìm được nước uống trong bình.
Kể về trí thông minh và sự kiên trì, nhẫn nại của con quạ khi tìm nước uống.
D. Kể về trí thông minh và sự kiên trì, nhẫn nại của con quạ khi tìm nước uống.
Có cố gắng quyết tâm sẽ chiến thắng.
Khi gặp khó khăn hoạn nạn hãy dùng trí thông minh và sự cố gắng nỗ lực của bản thân. Kiên trì sẽ đem đến thành công.
Ca ngợi con quạ thông minh, nhanh trí tìm ra dòng nước uống.
Khi gặp khó khăn nên buông xuôi, chán nản vì sợ không đem đến thành công.
B. Khi gặp khó khăn hoạn nạn hãy dùng trí thông minh và sự cố gắng nỗ lực của bản thân. Kiên trì sẽ đem đến thành công.
- Quạ đã nảy ra ý tưởng thả những viên sỏi nhỏ vào trong bình, đến khi mực nước dâng lên đến nơi mà nó có thể với tới được.
- Quạ có những đức tính kiên trì, nhẫn nại; bình tĩnh giải quyết sự việc; thông minh, sáng tạo.
- Bài học khiến em tâm đắc nhất: Để đạt thành công, con người không thể chỉ dựa vào trí thông minh sẵn có mà còn cần kiên trì và nỗ lực không ngừng nghỉ.
Con quạ đã tìm được dòng nước trong lành nhờ trí thông minh và lòng nhẫn nại, kiên trì vượt lên hoàn cảnh. Mặc dù rất khát và gặp phải tình huống trớ trêu (mực nước thấp, cổ bình cao, quạ không thể đưa mỏ xuống được) nhưng con quạ vẫn bình tĩnh, nhẫn nại và sử dụng sự nhanh trí của mình để đạt được thành công. Câu chuyện là bài học quý giá cho mỗi chúng ta về sự thông minh, kiên trì trước khó khăn trong cuộc sống.
Truyện cổ tích
Truyện đồng thoại
Truyền thuyết
Thần thoại
A. Truyện cổ tích
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ ba
Ngôi thứ hai
Cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ ba
Đúng
Sai
B. Sai
Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo
Biểu tượng cho sự sống và tình yêu thương
Biểu tượng cho sự sống ấm no của dân làng
Biểu tượng cho sự sống và ước mơ cao đẹp
C. Biểu tượng cho sự sống ấm no của dân làng
Vì em nghĩ mọi người đều thương yêu em
Vì em bé muốn mẹ được khỏe mạnh
Vì em thích loại giống lạ mới thấy lần đầu
Vì em có lòng tốt muốn chia sẻ cho dân làng
D. Vì em có lòng tốt muốn chia sẻ cho dân làng
Ca ngợi ý nghĩa của loài cây
Ca ngợi lòng hiếu thảo
Ca ngợi tình cảm gia đình
Ca ngợi tình mẫu tử
Từ láy
Từ nhiều nghĩa
Từ ghép
Từ đồng âm
C. Từ ghép
Trạng ngữ chỉ thời gian
Trạng ngữ chỉ mục đích
Trạng ngữ chỉ nơi chốn
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
A. Trạng ngữ chỉ thời gian
Qua câu chuyện, em thấy mình cần mỗi chúng ta đều là những người con trong gia đình. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, quan tâm, chăm sóc, hiếu thảo với cha mẹ. Đồng thời, trong xã hội, chúng ta cũng là một phần của tập thể, cộng đồng. Vì vậy, mỗi người cần biết san sẻ, quan tâm với lợi ích cộng đồng.
PTBĐ: Tự sự
- Ngôi kể thứ ba.
- Đặc điểm của ngôi kể thứ ba:
+ Người kể tự giấu mình, gọi tên các nhân vật theo tên, đặc điểm của nhân vật đó.
+ Cách kể này giúp người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật, tạo nên sự khách quan cho câu chuyện.
a. - “buôn”: động từ chỉ hoạt động mua bán để kiếm lấy lời lãi của người bán hàng.
- Cách giải nghĩa từ: Phân tích nội dung nghĩa của từ.
b. - Cụm danh từ: Người lái buôn, một tải bông, một lần nữa, con sông nhỏ.
- Đặt câu:
+ Người lái buôn có một con lừa để chở hàng.
+ Bên cạnh nhà ông bà tôi có một con sông nhỏ.
+ Anh ta lại làm gia đình thất vọng một lần nữa.
+ Con lừa phải vác trên lưng một tải bông.
Qua câu chuyện trên, em thấy rằng, khi làm bất cứ chuyện gì, không thể mãi cứng nhắc áp dụng những kinh nghiệm đã có sẵn. Chúng ta cần phải xem tình hình thực tế như thế nào để “tùy cơ ứng biến”, lựa chọn cách làm phù hợp và hiệu quả.
Câu chuyện được kể trong Bánh chưng, bánh giầy liên quan đến phong tục gói bánh chưng, làm bánh giầy vào dịp Tết hay vào các dịp lễ hội truyền thống của người Việt.
- Trước khi được vua cha truyền ngôi cho, Lang Liêu sống gần như một người thường dân nơi thôn đã, “chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai".
- Việc tác giả dân gian nhấn mạnh vào đặc điểm cuộc sống ấy thể hiện tư tưởng coi trọng nghề nông - nghề sản xuất ra lúa gạo để nuôi sống mọi người, Mặt khác, đây cũng là cách tạo ra yếu tố bất ngờ cho truyện kể, vì cuối cùng, khác với những điều người trong cuộc có thế dự đoán, chính vật phẩm mà Lang Liêu đăng lên trong lễ Tiên vương lại làm đẹp ý vua cha hơn hết.
- “Trong trời đốt, không gì quý bằng hạt gạo” - đó là lời một vị thần hiện lên trong giấc mộng của Lang Liêu. Lời nói đó thể hiện quan niệm rất sâu sắc của nhân dân về giá trị của những vật phẩm ngỡ tầm thường mà kết tinh trong đó bao công sức lao động và sáng tạo của người bình dân, lại có khả năng nuôi sống con người. Sự thực, đó là lời tôn vinh đối với lúa gạo, nghề trồng lúa nước và đối với lao động nói chung.
Khi kể về sự kiện Vưa Hùng truyền ngôi cho Lang Liêu, tác giả dân gian muốn thể hiện sự ngưỡng mộ đối với những người đáng được gọi là anh hùng văn hoá, đã có những sáng tạo làm đẹp cho đời sống xã hội, Đồng thời, tác giả dân gian còn muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với đất trời đã ban tặng cho con người những điều kiện sống tốt đẹp. Kể câu chuyện Lang Liêu lên làm vua cũng chính là kể về sự “lên ngôi” của lúa gạo và lòng trung hậu.
- Những câu văn có sử dụng dấu chấm phấy trong văn bản:
+ Giặc ngoài đã dẹp yên, nhưng giặc trong phải đề phòng; dân có ấm no, ngai vàng mới vững.
+ Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai; bây giờ nhìn quanh quẩn trong nhà, cũng chỉ lúa khoai là nhiều.
- Trong cả hai câu văn trên, dấu chấm phẩy đã được dùng rất đúng chỗ và hợp lí, khó thay chúng bằng dấu phấy hay dấu chấm.
+ Khó thay bằng dấu chấm vì hai về câu diễn đạt một ý liên tục.
+ Khó thay bằng dấu phẩy vì nội dung các cụm từ trước và sau đó có sự phân biệt khá rõ về tính chất.
Đoạn trích được lấy từ truyền thuyết quả dưa hấu từ thời các vua Hùng.
- Nhân vật Mai có tên đầy đủ là Mai An Tiêm.
Những chi tiết có thể giúp ta hình đụng được hoàn cảnh sống của các nhân vật:
- “Thứ dưa này được bầy chim đem từ phương tây lại, từ đất liền ra cho chúng ta”.
=> Các nhân vật sống trên một hòn đảo giữa Biển Đông.
- “Trời nuôi sống chúng ta rồi”: Câu nói cho biết các nhân vật phải vật lộn với hoàn cảnh để tìm cái ăn, để tồn tại được ở nơi vốn không có người sinh sống.
=> Đó là một hoàn cảnh sống đầy thử thách, đòi hỏi con người phải không ngừng vươn lên nếu muốn tồn tại.
Hoàn toàn có thể xem chi tiết bầy chim đem hạt đến đảo là một chi tiết kì lạ vì:
- Chi tiết đã gây ngạc nhiên cho các nhân vật, khiến Mai phải thốt lên:
“Trời nuôi sống chúng ta rồi!”. Chi tiết đó còn cho thấy người xưa rất tin vào những lực lượng hỗ trợ mang tính thần kì đối với người tốt.
- Chi tiết góp phần khẳng định: một trong những điều làm nên sức hấp dẫn của truyện dân gian, trong đó có truyền thuyết, là sự có mặt của yếu tố kì ảo.
Đoạn trích cho em những suy nghĩ: Giữa con người và thiên nhiên có mối quan hệ thân thuộc, gắn bó. Thiên nhiên bao bọc con người, luôn dành cho con người nhiều cơ hội tốt đẹp để cải thiện cuộc sống.
- đen ngòm: đen thui, đen sì, đen đặc, đen hoắc,...
- kêu váng: kêu ầm, kêu rộn, kêu inh ỏi,...
- xanh um: xanh tốt, xanh tươi, xanh mơn mởn,...
- xanh mướt: xanh đậm, xanh bóng, xanh thẫm (sẫm),...
- đỏ hồng: đỏ lợt (nhợt),...
- đen nhánh: đen ánh, đen bóng, đen óng, đen nhưng nhức,...
=> Các cụm từ đen ngòm, kêu vắng, xanh um, xanh mướt, đỏ hóng, đen nhánh đã được dùng để biểu thị những sắc màu, âm thanh tinh tế, sinh động của nhiều đối tượng trong cuộc sống.
Văn bản có đoạn được trích thuộc loại văn bản thông tin.
- Sự kiện được thuật lại trong đoạn trích là lễ hội đền Cuông (tưởng nhớ vua An Dương Vương).
- Lễ hội được tổ chức tại Nghệ An vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm,
- Tác giả thuật lại sự kiện theo trình tự thời gian, cái gì diễn ra trước được
nói trước, cái gì diễn ra sau thì nói sau.
- Căn cứ xác định: tác giả lần lượt nói về hoạt động trong từng ngày lễ hội, từ ngày 1 2 tháng Hai âm lịch đến ngày 16 tháng Hai âm lịch.
Trong đoạn trích, không kể đoạn đầu mang tính chất giới thiệu chung, đoạn thứ hai tập trung nói về các nghi lễ, còn đoạn thứ ba dành để nói về các hoạt động vui chơi trong thời gian diễn ra lễ hội, Như vậy, cả đoạn trích đã nói được khá toàn điện vừa về tính chất chung của một lễ hội, vừa về đặc điểm riêng của lễ hội đền Cuông, với các nghỉ lễ và hoạt động vui chơi cụ thể.
Cũng như văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4, đoạn trích cho ta biết được đặc điểm chung của một lễ hội tưởng nhớ tiền nhân, ghi công những người đã có đóng góp lớn cho cộng đồng. Đó là, luôn có những nghi lễ trang trọng mà linh thiêng, luôn thể hiện niềm tin về sự hiện hữu của những linh hồn bất tử và luôn chứng minh được sự tiếp diễn không ngừng của cuộc sống cộng đồng, dân tộc.
- Cách xử lí: bỏ dấu chấm sau câu thứ nhất, thay bằng dấu chấm phẩy.
- Câu văn mới sẽ là: “Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng; sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại điện các bạn, ngành và người đến về dự lễ”.
Những yếu tố sau đây giúp ta biết được đoạn trích được lấy từ bản kể một
truyện cổ tích:
- Câu mở đầu nói về sự việc xảy ra vào thời quá khứ xa xưa, thời gian không xác định: Ngày xưa...
- Nhân vật được giới thiệu ngay ở câu đầu: Ngảy xưa, có một người tên là
Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao.
- Sự xuất hiện của những yếu tố có tính chất kì ảo (thần cờ Đế Thích trên
thiên đình cưỡi mây xuống trần, Đế Thích cưỡi mây về trời).
- Có chi tiết gợi trí tò mò của người đọc, người nghe (lời dặn của Đế Thích khi từ biệt Trương Ba để về thiên đình).
Chi tiết cho thấy Trương Ba gặp lại Đế Thích ở phần sau của truyện: Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhờ ngươi có bụng chân thành. Vậy ta cho một nắm hương này, mỗi lần cần đến ta thì tháp lên một cây, ta sẽ xuống.”
Tính chất kì ảo được thể hiện ở nhân vật Đế Thích. Đây là nhân vật thần linh (gọi là thần cờ), ngự trên thiên đình, có khả năng nghe được tiếng nói của con người ở hạ giới, có thể cưỡi mây xuống trần, thoắt ấn thoắt hiện, có loại hương đặc biệt (tặng Trương Ba một nắm, hễ muốn gặp Để Thích thì thắp lên một cây). Những chi tiết lạ lùng, huyền ảo này hoàn toàn không có thực trong đời sống. Đó là kết quả sự thêu dệt bằng trí tưởng tượng phong phú của dân gian.
Nếu phải kể lại đoạn trên bằng lời của một trong các nhân vật đã xuất hiện, em sẽ chọn kể theo lời nhân vật Trương Ba vì:
Trong đoạn trích có ba nhân vật: Trương Ba, Kỵ Như và Đế Thích. Trong đó, Kỵ Như và Đế Thích xuất hiện sau, không biết được tường tận về Trương Ba. Do đó, chọn Trương Ba làm nhân vật kể chuyện là phù hợp nhất.
- Nghĩa của từ “tỉ thí”: đấu với nhau (ở đây là đánh cờ) để phân định người thắng người thua.
Thông tin chính mà đoạn trích đưa đến cho độc giả: Sự đa dạng loài cũng như trữ lượng dồi dào của sinh vật biển ở Biển Đông và lợi ích kinh tế của việc khai thác nguồn tài nguyên này.
Đặc trưng nào của văn bản thông tin được thể hiện qua văn bản:
- Sử dụng nhiều số liệu cụ thể để làm tăng tính thuyết phục của vấn đề được nói tới. Đặc trưng này được thể hiện rõ nét, khi tác giả đưa ra nhiều con số chứng minh Biển Đông là nơi có sự đa dạng sinh học cao và trữ lượng sinh vật biển rất lớn.
Đoạn trích đã đưa đến cái nhìn toàn cảnh về sự “đa dạng loài” ở Biển Đông. Ngoài việc nêu tổng số loài, người viết còn kể chỉ tiết về số lượng các loài thực vật và liệt kê hàng loạt loài động vật quý hiếm khác ngoài cá (cá vốn là loài có trữ lượng lớn nhất).
Đoạn trích gợi lên cùng lúc hai vấn đề: sự đa dạng loài sinh vật biển và nguồn lợi sinh vật biển. Giữa hai vấn để này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nguồn lợi càng lớn nếu sự đa dạng càng lớn. Ngược lại, nguồn lợi sẽ giảm đi nếu sự đa dạng vốn có bị đe dọa.
Những thông tin nói về sự phong phú của sinh vật biển ở Biển Đông giúp
ta nhận thức được đầy đủ hơn về tầm quan trọng của Biển Đông đối với tương lai phát triển của đất nước. Đồng thời, chúng khơi dậy ở ta ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, quyết không để bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm phạm, chiếm đoạt phần lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.
Mỗi dịp Tết đến, xuân về là thời điểm mà mọi người háo hức bắt đầu chuẩn bị đi mua sắm Tết. Những khu chợ trở nên đông vui nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Đường phố những ngày tết lúc nào cũng đông đúc, tấp nập. Đặc biệt phải nhắc đến hội chợ hoa xuân.
Hội chợ hoa xuân sẽ được tổ chức hằng năm. Thời gian diễn ra từ khoảng hai mươi ba Tết đến hết sáng ba mươi Tết. Địa điểm tổ chức thường ở nơi rộng rãi như sân vận động. Mọi người đến xem và mua rất đông đúc, tấp nập. Không khí của hội chợ rộn ràng, háo hức.
Những chiếc xe ra vào tấp nập. Mỗi gian hàng lại bày bán một loại cây riêng. Các chậu cây được xếp thẳng hàng. Bên cạnh những gian hàng bán đào và quất là các gian bán hoa tươi. Các loại hoa được bày bán rất đa dạng. Hoa hồng, hoa cúc, hoa vi-ô-let, hoa lan, hoa dơn, hoa thược dược… Tất cả đã tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc cho chợ hoa. Người bán hồ hởi mời chào khách mua hoa. Mọi người đi chợ hoa như đi trẩy hội để mua được loại hoa ưng ý nhất về chơi vào mấy ngày đẹp nhất.
Đông đúc nhất là khu bán đào, mai và quất. Vì đây là những loại cây đặc trưng của ngày tết, nên mọi người đều muốn mua một chậu đào, mai hoặc quất về chơi Tết. Những chậu cây được tạo với nhiều hình dáng độc đáo. Những nụ hoa đào, hoa mai đã bắt đầu bung nở trong những cơn mưa xuân. Bố em cũng chọn được một chậu đào rất đẹp.
Đã bao đời nay, Tết trở thành một lễ hội nằm trong niềm mong đợi và không thể thiếu của con người Việt Nam. Và những khu chợ hoa cũng đã trở thành một nét đặc trưng không thể thiếu của dịp Tết.
Tôi là Sọ Dừa. Khi mẹ sinh ra, tôi không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt tôi đi, thì tôi liền nói:
- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp.
Vì thương tôi nên mẹ đã để lại nuôi, đặt cho tôi cái tên là Sọ Dừa. Lớn lên, tôi vẫn như lúc nhỏ, lăn lông lốc trong nhà. Mẹ liền nói với tôi:
- Con nhà người ta báy tám tuổi đã đi ở chăn bò, còn mày chẳng được tích sự gì.
Tôi liền bảo với mẹ:
- Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ cứ xin phú ông cho con đi chăn bò.
Nghe vậy, mẹ tôi liền đến hỏi phú ông. Từ đó tôi đến ở nhà phú ông.
Ngày ngày, tôi lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Tôi thấy phú ông mừng ra mặt.
Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho tôi. Hai cô chị độc ác nên thường hắt hủi tôi. Chỉ có cô út hiền lành, đối xử với với tôi.
Một hôm, tôi biến thành người, ngồi thổi sáo trên lưng trâu thì tiếng động, biết có người nên tôi lại hóa về hình dáng cũ. Từ đó, cô út càng chăm sóc tôi nhiều hơn, có thức ăn ngon lại giấu đem cho tôi.
Cuối mùa ở, tôi liền về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Mẹ tôi ửng sốt lắm, nhưng thấy tôi năn nỉ mãi nên cũng sang hỏi phú ông. Khi trở về, bà nói rằng phú ông yêu cầu phải sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mới đồng ý gả con gái. Tôi nói với mẹ cứ yên tâm.
Đến ngày hẹn, mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên khi trong nhà bỗng có đủ những lễ vật mà phú ông yêu cầu. Không chỉ vậy, còn có chục giai nhân khiêng sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông liền hỏi ba cô con gái xem có ai đồng ý, thì chỉ có cô út.
Trong ngày cưới, tôi cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, tôi biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú sang đón cô út về làm vợ. Hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tôi ngày đêm miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua cử tôi đi sứ. Trước khi đi, tôi đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.
Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, tôi nghe thấy tiếng con gà trống gáy vang ba lần:
- Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.
Tôi hạ lệnh cho thuyền vào xem, thì gặp lại vợ mình. Vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc. Tôi đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai người chị của vợ tôi tranh nhau kể chuyện nàng gặp phải rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Tôi không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Nhìn thấy em mình đã trở về bình an, họ xấu hổ bỏ về.
Bạn có thích hoạt động này không?
Hãy lưu hoặc chia sẻ nội dung này đến mọi người.


![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)

















