Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 6 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 6 Kết nối tri thức có đáp án

A
Admin
VănLớp 6336 lượt thi
51 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc văn bản sau:

Một con quạ đang khát nước. Nó bay rất lâu để tìm nước nhưng chẳng thấy một giọt nước nào. Mệt quá, nó đậu xuống cành cây nghi. Nó đứng nhìn quanh và bỗng thấy một cái bình ở dưới một gốc cây.

Khi tới gần, nó mới phát hiện ra rằng cái bình có chứa rất ít nước, và nó không thể chạm mỏ đến gần đáy mà uống được. Nó thử đủ cách để thò mỏ được đến mặt nước, nhưng mọi cố gắng của nó đều thất bại.

Nhìn chung quanh, quạ thấy những viên sỏi nhỏ nằm lay lắt gần đấy. Lập tức, nó dùng mỏ gắp một viên sỏi thả vào bình. Cứ như vậy, nó gắp những viên sỏi khác và tiếp tục thả vào bình.

Chẳng bao lâu, nước đã dâng lên đến miệng bình. Giờ thì nó có thể thò mỏ vào để uống nước. Quạ rất vui sướng khi nhìn thấy công sức của mình đã có kết quả. Quạ uống thỏa thích những giọt nước mát ngọt rồi bay lên cây nghỉ ngơi.

(Con quạ thông minh, Kho tàng truyện dân gian Việt Nam).

1. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Truyện Con quạ thông minh được kể theo ngôi thứ mấy?

Ngôi thứ nhất số ít

Ngôi thứ nhất số nhiều

Ngôi thứ hai

Ngôi thứ ba.

Xem đáp án

D. Ngôi thứ ba.

2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Truyện Con quạ thông minh sử dụng phương thức biểu đạt nào? 

Biểu cảm

Nghị luận

Tự sự

Thuyết minh

Xem đáp án

C. Tự sự.

3. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu chuyện Con quạ thông minh được kể bằng lời của nhân vật nào?

Lời của con quạ.

Lời của người kể chuyện.

Lời kể của người giấu mặt.

Lời của nhân vật tôi.

Xem đáp án

B. Lời của người kể chuyện.

4. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Các cụm từ “ một cái bình, những viên sỏi, những giọt nước” thuộc cụm từ gì? 

Cụm động từ.

Cụm tính từ.

Cụm danh từ.

Cum chủ - vị.

Xem đáp án
C. Cụm danh từ.
5. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Con quạ có được những dòng nước trong lành là nhờ vào những phẩm chất nào?

Thông minh, mưu trí, cần cù, siêng năng.

Ngoan ngoãn, hiếu thảo, cần cù, chăm chỉ.

Thông minh, mưu trí, ỷ lại, tự mãn.

Tự cao tự đại, siêng năng, dũng cảm.

Xem đáp án

A. Thông minh, mưu trí, cần cù, siêng năng.

6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Thành ngữ nào sau đây diễn tả đúng công việc quạ gắp những viên sỏi vào bình có được nước uống?

Tham thì thâm.

Có công mài sắt, có ngày nên kim.

Ngậm đắng nuốt cay.

Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

Xem đáp án
B. Có công mài sắt, có ngày nên kim.
7. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nhận xét nào sau đây đúng với nội dung truyện Con quạ thông minh?

Khẳng định sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp con quạ chiến thắng.

Ca ngợi sự gan dạ dũng cảm của con quạ đã giành chiến thắng.

Con quạ tự mãn về sự thông minh của nó khi nó tìm được nước uống trong bình.

Kể về trí thông minh và sự kiên trì, nhẫn nại của con quạ khi tìm nước uống.

Xem đáp án

D. Kể về trí thông minh và sự kiên trì, nhẫn nại của con quạ khi tìm nước uống.

8. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào sau đây nói đúng về bài học rút ra từ câu chuyện Con quạ thông minh?

Có cố gắng quyết tâm sẽ chiến thắng.

Khi gặp khó khăn hoạn nạn hãy dùng trí thông minh và sự cố gắng nỗ lực của bản thân. Kiên trì sẽ đem đến thành công.

Ca ngợi con quạ thông minh, nhanh trí tìm ra dòng nước uống.

Khi gặp khó khăn nên buông xuôi, chán nản vì sợ không đem đến thành công.

Xem đáp án

B. Khi gặp khó khăn hoạn nạn hãy dùng trí thông minh và sự cố gắng nỗ lực của bản thân. Kiên trì sẽ đem đến thành công.

9. Tự luận
• 1 điểm

Quạ đã làm gì để có thể với được tới nước? Từ việc làm trên, em thấy quạ có những đức tính gì? Từ đó, em rút ra được bài học gì cho bản thân trong cuộc sống?

Xem đáp án

- Quạ đã nảy ra ý tưởng thả những viên sỏi nhỏ vào trong bình, đến khi mực nước dâng lên đến nơi mà nó có thể với tới được.

- Quạ có những đức tính kiên trì, nhẫn nại; bình tĩnh giải quyết sự việc; thông minh, sáng tạo.

- Bài học khiến em tâm đắc nhất: Để đạt thành công, con người không thể chỉ dựa vào trí thông minh sẵn có mà còn cần kiên trì và nỗ lực không ngừng nghỉ.

10. Tự luận
• 1 điểm

Nêu suy nghĩ của em về cách con quạ tìm được dòng nước trong lành để uống.

Xem đáp án

Con quạ đã tìm được dòng nước trong lành nhờ trí thông minh và lòng nhẫn nại, kiên trì vượt lên hoàn cảnh. Mặc dù rất khát và gặp phải tình huống trớ trêu (mực nước thấp, cổ bình cao, quạ không thể đưa mỏ xuống được) nhưng con quạ vẫn bình tĩnh, nhẫn nại và sử dụng sự nhanh trí của mình để đạt được thành công. Câu chuyện là bài học quý giá cho mỗi chúng ta về sự thông minh, kiên trì trước khó khăn trong cuộc sống.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau:

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngàynay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mờimẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo.Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằngngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngàymới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước đểtưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn nhữnglá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạcó râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống.Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên câu bé đặt têncho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có câyngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Truyện cổ tích Việt Nam - Nguồn truyencotich.vn)

11. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Truyện Sự tích cây ngô thuộc thể loại nào? 

Truyện cổ tích

Truyện đồng thoại

Truyền thuyết

Thần thoại

Xem đáp án

A. Truyện cổ tích

12. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Ngôi thứ nhất

Ngôi thứ ba

Ngôi thứ hai

Cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba

Xem đáp án

B. Ngôi thứ ba

13. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Trong câu chuyện, em bé cứu sống được mẹ là nhờ tìm được thầy lang giỏi, theo em đúng hay sai?

Đúng

Sai

Xem đáp án

B. Sai

14. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo em, cây ngô biểu tượng cho điều gì của dân làng Pako?

Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo

Biểu tượng cho sự sống và tình yêu thương

Biểu tượng cho sự sống ấm no của dân làng

Biểu tượng cho sự sống và ước mơ cao đẹp

Xem đáp án

C. Biểu tượng cho sự sống ấm no của dân làng

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Vì sao em bé lại đem giống ngô cho mọi người?

Vì em nghĩ mọi người đều thương yêu em

Vì em bé muốn mẹ được khỏe mạnh

Vì em thích loại giống lạ mới thấy lần đầu

Vì em có lòng tốt muốn chia sẻ cho dân làng

Xem đáp án

D. Vì em có lòng tốt muốn chia sẻ cho dân làng

16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Chủ đề nào sau đây đúng với truyện Sự tích cây ngô?

Ca ngợi ý nghĩa của loài cây

Ca ngợi lòng hiếu thảo

Ca ngợi tình cảm gia đình

Ca ngợi tình mẫu tử

Xem đáp án
B. Ca ngợi lòng hiếu thảo
17. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trong câu văn “Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ.” từ lũ lượt là từ gì? 

Từ láy

Từ nhiều nghĩa

Từ ghép

Từ đồng âm

Xem đáp án

C. Từ ghép

18. Trắc nghiệm
• 1 điểm

“Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ.” Từ in đậm trong câu văn thuộc loại trạng ngữ nào?

Trạng ngữ chỉ thời gian

Trạng ngữ chỉ mục đích

Trạng ngữ chỉ nơi chốn

Trạng ngữ chỉ nguyên nhân

Xem đáp án

A. Trạng ngữ chỉ thời gian

19. Tự luận
• 1 điểm

Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải có tráchnhiệm gì với cha mẹ và cộng đồng?

Xem đáp án

Qua câu chuyện, em thấy mình cần mỗi chúng ta đều là những người con trong gia đình. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, quan tâm, chăm sóc, hiếu thảo với cha mẹ. Đồng thời, trong xã hội, chúng ta cũng là một phần của tập thể, cộng đồng. Vì vậy, mỗi người cần biết san sẻ, quan tâm với lợi ích cộng đồng.

Đoạn văn

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:

NGƯỜI ĐI BUÔN VÀ CON LỪA

Người lái buôn phải thường xuyên vào thành để mua đồ, và chất lên vaiLừa để chở về nhà. Con Lừa của người lái buôn nghĩ rằng mình rất thôngminh, lúc nào cũng thích động não, nghĩ mọi cách để có thể khiến cho đồmình phải chở càng nhẹ càng tốt.

Một lần, người lái buôn mua một tải muối. Ông ta buộc tải thật chặt,chất lên lưng Lừa, rồi đi đằng sau thúc Lừa đi nhanh. Đi được một lúc, ngườilái buôn và Lừa đi đến một con sông nhỏ, người lái buôn thúc Lừa lội xuốngnước. Lừa không cẩn thận đã bị trượt chân, ngã xuống nước. Nước sông đãngấm vào miệng tải muối khiến cho muối bị tan ra rất nhiều.

Khi Lừa ta đứng dậy thì phát hiện ra tải muối mà mình chở đã nhẹ hơnrất nhiều, trong lòng cảm thấy thích chí lắm. Có được kinh nghiệm lần này,mỗi lần qua sông, Lừa ta đều giả vờ trượt chân ngã để cho bớt một ít đồ trênlưng xuống sông. Người lái buôn biết vậy, định bụng sẽ phạt Lừa. Người láibuôn vào trong thành mua một tải bông, và chất lên lưng Lừa. Lại một lầnnữa đi qua con sông nhỏ, nhìn thấy sông, Lừa ta vui mừng thầm reo lên,không ngần ngừ bước xuống sông. Khi đến giữa sông, Lừa ta lại giả vờ trượtchân ngã. Lừa sung sướng nghĩ: “Khi mà mình đứng lên chắc chắn đồ trênlưng mình sẽ nhẹ hơn rất nhiều đây". Nhưng khi Lừa ta vừa mới đứng dậy, đột nhiên thấy đồ trên lưng mình nặng hơn trước rất nhiều. Thì ra, tải bông sau khi hút nước đã trở nên nặng hơn trước rất nhiều. Lừa ta không ngờ trên lưng tải bông nặng như vậy, đành cúi đầu ngậm ngùi đi tiếp không dám than vãn gì.

(Kho tàng truyện ngụ ngôn chọn lọc)

20. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy xác định phương thức biểu đạt của văn bản trên?

Xem đáp án

PTBĐ: Tự sự

21. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản trên sử dụng ngôi kể nào? Em hãy trình bài những hiểu biết của em về ngôi kể vừa tìm được.

Xem đáp án

- Ngôi kể thứ ba.

- Đặc điểm của ngôi kể thứ ba:

+ Người kể tự giấu mình, gọi tên các nhân vật theo tên, đặc điểm của nhân vật đó.

+ Cách kể này giúp người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật, tạo nên sự khách quan cho câu chuyện.

22. Tự luận
• 1 điểm

a. Giải nghĩa từ “buôn” trong nhan đề: Người đi buôn và con lừa” và cho biết em chọn cách nào để giải nghĩa từ.

b. Tìm một cụm danh từ trong đoạn trích sau và đặt câu với cụm danh từ vừa tìm:

“Người lái buôn vào trong thành mua một tải bông, và chất lên lưng Lừa. Lại một lần nữa đi qua con sông nhỏ, nhìn thấy sông, Lừa ta vui mừng thầm reo lên, không ngần ngừ bước xuống sông."

Xem đáp án

a. - “buôn”: động từ chỉ hoạt động mua bán để kiếm lấy lời lãi của người bán hàng.

- Cách giải nghĩa từ: Phân tích nội dung nghĩa của từ.

b. - Cụm danh từ: Người lái buôn, một tải bông, một lần nữa, con sông nhỏ.

- Đặt câu:

+ Người lái buôn có một con lừa để chở hàng.

+ Bên cạnh nhà ông bà tôi có một con sông nhỏ.

+ Anh ta lại làm gia đình thất vọng một lần nữa.

+ Con lừa phải vác trên lưng một tải bông.

23. Tự luận
• 1 điểm

Trình bày suy nghĩ của em về bài học qua câu chuyện trên (từ 3 - 4 dòng).

Xem đáp án

Qua câu chuyện trên, em thấy rằng, khi làm bất cứ chuyện gì, không thể mãi cứng nhắc áp dụng những kinh nghiệm đã có sẵn. Chúng ta cần phải xem tình hình thực tế như thế nào để “tùy cơ ứng biến”, lựa chọn cách làm phù hợp và hiệu quả.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY

Hùng Vương lúc về già, muốn truyền ngôi, nhưng nhà vua có những hai mươi người con trai, biết chọn ai cho xứng đáng? Giặc ngoài đã dẹp yên, nhưng giặc trong phải đề phòng; dân có ấm no, ngai vàng mới vững.

Nhà vua bèn gọi các con lại, nói:

- Tổ tiên ta từ khi dựng nước, đã truyền được sáu đời. Giặc Ân nhiều lần xâm lấn bờ cõi, nhờ phúc ấm Tiên vương ta đều đánh đuổi được, thiên hạ được hưởng thái bình. Nhưng ta già rồi, không sống mãi ở đời, người nối ngôi ta phải biết nối chí ta, không nhất thiết phải là con trưởng. Năm nay, nhân lễ Tiên vương, hễ trong các con, người nào làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên vương chứng giám.

Các ông lang ai cũng muốn ngôi báu về mình, nên ai cũng cố làm vừa ý vua cha. Nhưng ý vua cha như thế nào, không ai đoán được. Họ chỉ biết đua nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon đem về lễ Tiên vương.

Người buồn nhất là Lang Liêu. Ông là con thứ mười tám; mẹ ông trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm mà chết. So với anh em, ông thiệt thòi nhất. Anh em, tả hữu nhiều, khắp trên núi, dưới biển, đâu có của quý là sai người đi tìm. Còn ông neo đơn biết lấy gì lễ Tiên vương cho vừa ý vua cha? Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai; bây giờ nhìn quanh quẩn trong nhà, cũng chỉ khoai lúa là nhiều. Nhưng khoai lúa thì tầm thường quá!

Một đêm, ông nằm mộng thấy thần nhân đến bảo:

- Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ chán. Các thứ khác, tuy ngon, nhưng hiếm, mà người không làm ra được. Còn lúa gạo thì tự tay ta trồng lấy, trồng nhiều được nhiều. Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương!

Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng thầm. Ngẫm nghĩ bao nhiêu, ông càng thấy lời thần nhân nói đúng bấy nhiêu. Ông bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn đùm lại thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, ông đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn.

Đến ngày lễ Tiên vương, các ông lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng tới, chẳng thiếu thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn cho gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần nhân ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất, cúng Tiên vương.

Lễ xong, vua cho đem bánh ra ăn cùng với quần thần. Ai cũng tấm tắc khen ngon.

Vua họp mọi người lại nói:

- Bánh hình tròn là tượng Trời, đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ, muôn loài, đặt tên là bánh chưng. Lá gói ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên vương chứng giám.

Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và mới có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giầy. Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết.

(Theo Trương Chính, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập I - Văn học dân gian, NXB Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 548 - 550)

24. Tự luận
• 1 điểm

Câu chuyện được kể liên quan đến phong tục nào của người Việt còn truyền đến ngày nay?

Xem đáp án

Câu chuyện được kể trong Bánh chưng, bánh giầy liên quan đến phong tục gói bánh chưng, làm bánh giầy vào dịp Tết hay vào các dịp lễ hội truyền thống của người Việt.

25. Tự luận
• 1 điểm

Trước khi nối ngôi vua, Lang Liêu có cuộc sống như thế nào? Việc nhấn mạnh vào đặc điểm cuộc sống ấy thể hiện dụng ý gì của tác giả dân gian?

Xem đáp án

- Trước khi được vua cha truyền ngôi cho, Lang Liêu sống gần như một người thường dân nơi thôn đã, “chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai".

- Việc tác giả dân gian nhấn mạnh vào đặc điểm cuộc sống ấy thể hiện tư tưởng coi trọng nghề nông - nghề sản xuất ra lúa gạo để nuôi sống mọi người, Mặt khác, đây cũng là cách tạo ra yếu tố bất ngờ cho truyện kể, vì cuối cùng, khác với những điều người trong cuộc có thế dự đoán, chính vật phẩm mà Lang Liêu đăng lên trong lễ Tiên vương lại làm đẹp ý vua cha hơn hết.

26. Tự luận
• 1 điểm

"Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo” - đó là lời một vị thần hiện lên trong giấc mộng của Lang Liêu. Lời nói đó cho thấy điều gì về cách nhìn nhận của nhân dân đối với nghề trồng lúa nước?

Xem đáp án

- “Trong trời đốt, không gì quý bằng hạt gạo” - đó là lời một vị thần hiện lên trong giấc mộng của Lang Liêu. Lời nói đó thể hiện quan niệm rất sâu sắc của nhân dân về giá trị của những vật phẩm ngỡ tầm thường mà kết tinh trong đó bao công sức lao động và sáng tạo của người bình dân, lại có khả năng nuôi sống con người. Sự thực, đó là lời tôn vinh đối với lúa gạo, nghề trồng lúa nước và đối với lao động nói chung.

27. Tự luận
• 1 điểm

Khi kể về sự kiện Vua Hùng truyền ngôi cho Lang Liêu, tác giả dân gian muốn gửi gắm suy nghĩ, ước vọng gì?

Xem đáp án

Khi kể về sự kiện Vưa Hùng truyền ngôi cho Lang Liêu, tác giả dân gian muốn thể hiện sự ngưỡng mộ đối với những người đáng được gọi là anh hùng văn hoá, đã có những sáng tạo làm đẹp cho đời sống xã hội, Đồng thời, tác giả dân gian còn muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với đất trời đã ban tặng cho con người những điều kiện sống tốt đẹp. Kể câu chuyện Lang Liêu lên làm vua cũng chính là kể về sự “lên ngôi” của lúa gạo và lòng trung hậu.

28. Tự luận
• 1 điểm

Tìm trong văn bản những câu có sử dụng dấu chấm phẩy. Nêu lập luận của em nhằm khẳng định dấu chấm phẩy đã được tác giả văn bản dùng rất đúng chỗ và hợp lí.

Xem đáp án

- Những câu văn có sử dụng dấu chấm phấy trong văn bản:

+ Giặc ngoài đã dẹp yên, nhưng giặc trong phải đề phòng; dân có ấm no, ngai vàng mới vững.

+ Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai; bây giờ nhìn quanh quẩn trong nhà, cũng chỉ lúa khoai là nhiều.

- Trong cả hai câu văn trên, dấu chấm phẩy đã được dùng rất đúng chỗ và hợp lí, khó thay chúng bằng dấu phấy hay dấu chấm.

+ Khó thay bằng dấu chấm vì hai về câu diễn đạt một ý liên tục.

+ Khó thay bằng dấu phẩy vì nội dung các cụm từ trước và sau đó có sự phân biệt khá rõ về tính chất.

Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Tự nhiên, một hôm có một đàn chim lớn bay từ phương tây lại, đậu đenngòm cả một bãi cát. Rồi chúng bay đến trước mặt hai vợ chồng kêu váng cảlên, thả xuống năm sáu hột. Ít lâu sau từ những hột ấy mọc ra một loại câydây bò lan xanh um cả bãi, có rất nhiều quả xanh mướt, to bằng đầu người.Mai trẩy một quả, bổ ra thấy ruột đỏ hồng, hột đen nhánh. Vợ chồng con cáicùng nếm thấy vị ngòn ngọt thanh thanh, Mai reo lên:

- Ôi đây là thứ dưa lạ, chưa từng thấy bao giờ. Hãy gọi nó lò dưa tây, vì thứdưa này được bầy chim đưa từ phương tây lại từ đất liền ra cho chúng ta.Trời nuôi sống chúng ta rồi

(Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1, NXB Khoa họcxã hội, 1976, tr. 81)

29. Tự luận
• 1 điểm

Dựa vào sự tìm đọc và hiểu biết của em, hãy cho biết nhân vật Mai đượcnhắc tới trong đoạn trích có họ tên đầy đủ là gì?

Xem đáp án

Đoạn trích được lấy từ truyền thuyết quả dưa hấu từ thời các vua Hùng.

- Nhân vật Mai có tên đầy đủ là Mai An Tiêm.

30. Tự luận
• 1 điểm

Hãy chỉ ra những chi tiết có thế giúp ta hình dung được hoàn cảnh sống củacác nhân vật. Hoàn cảnh đó có tính chất gì nổi bật?

Xem đáp án

Những chi tiết có thể giúp ta hình đụng được hoàn cảnh sống của các nhân vật:

- “Thứ dưa này được bầy chim đem từ phương tây lại, từ đất liền ra cho chúng ta”.

=> Các nhân vật sống trên một hòn đảo giữa Biển Đông.

- “Trời nuôi sống chúng ta rồi”: Câu nói cho biết các nhân vật phải vật lộn với hoàn cảnh để tìm cái ăn, để tồn tại được ở nơi vốn không có người sinh sống.

=> Đó là một hoàn cảnh sống đầy thử thách, đòi hỏi con người phải không ngừng vươn lên nếu muốn tồn tại.

31. Tự luận
• 1 điểm

Có thể xem chi tiết bầy chim đem hạt đến đảo là một chi tiết kì lạ không?Vì sao?

Xem đáp án

Hoàn toàn có thể xem chi tiết bầy chim đem hạt đến đảo là một chi tiết kì lạ vì:

- Chi tiết đã gây ngạc nhiên cho các nhân vật, khiến Mai phải thốt lên:

“Trời nuôi sống chúng ta rồi!”. Chi tiết đó còn cho thấy người xưa rất tin vào những lực lượng hỗ trợ mang tính thần kì đối với người tốt.

- Chi tiết góp phần khẳng định: một trong những điều làm nên sức hấp dẫn của truyện dân gian, trong đó có truyền thuyết, là sự có mặt của yếu tố kì ảo.

32. Tự luận
• 1 điểm
Từ những gì được gợi lên trong đoạn trích, ern suy nghĩ như thế nào về mớiquan hệ giữa con người và thiên nhiên?
Xem đáp án

Đoạn trích cho em những suy nghĩ: Giữa con người và thiên nhiên có mối quan hệ thân thuộc, gắn bó. Thiên nhiên bao bọc con người, luôn dành cho con người nhiều cơ hội tốt đẹp để cải thiện cuộc sống.

33. Tự luận
• 1 điểm

Đoạn trích có sử dụng một số cụm từ rất ấn tượng như: đen ngòm, kêu váng, xanh um, xanh mướt, đỏ hồng, đen nhánh. Hãy thử thay thế chúng bằng những cụm từ khác có khả năng biểu đạt tương đương và rút ra nhận xét về việc làm này.

Xem đáp án

- đen ngòm: đen thui, đen sì, đen đặc, đen hoắc,...

- kêu váng: kêu ầm, kêu rộn, kêu inh ỏi,...

- xanh um: xanh tốt, xanh tươi, xanh mơn mởn,...

- xanh mướt: xanh đậm, xanh bóng, xanh thẫm (sẫm),...

- đỏ hồng: đỏ lợt (nhợt),...

- đen nhánh: đen ánh, đen bóng, đen óng, đen nhưng nhức,...

=> Các cụm từ đen ngòm, kêu vắng, xanh um, xanh mướt, đỏ hóng, đen nhánh đã được dùng để biểu thị những sắc màu, âm thanh tinh tế, sinh động của nhiều đối tượng trong cuộc sống.

Đoạn văn

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

Đền Cuông gắn với một huyền thoại trong lịch sử chống ngoại xâm củadân tộc. Đền thờ Thục An Dương Vương - một vị vua có công lớn trong buổiđầu dựng nước. Lễ hội đền Cuông được tổ chức vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm thu hút đông đảo người dân về dự. Sau nhiều năm bị lãng quên, năm 1993, lễ hội đền Cuông được phục hồi. Từ đó đến nay, lễ hội được duy trì hàng năm và trở thành một sinh hoạt văn hoa tâm linh không thể thiếu của người dân Nghệ An và du khách thập phương.

[...] Gần 20 năm qua, lễ hội đền Cuông được tổ chức hằng năm với các lễ nghi trang trọng mà linh thiêng: lễ khởi quang, lễ cáo trung thiên, lễ yết, lễ rước, lễ đại tế và lễ tạ. Lễ khởi quang diễn ra đầu tiên, được tổ chức vào ngày 12 tháng Hai âm lịch để xin phép các vị thần cho nhân dân dọn dẹp đền, chuẩn bị cho lễ hội. Sau lễ khai quang là lễ cáo trung thiên được tổ chức vào sáng ngày 14 tháng Hai để báo cáo với các vị thần rằng công việc dọn dẹp đền đó hoàn thành, mời các vị về đền tham dự lễ hội và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân, Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng. Sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại diện các ban ngành và người dân về dự lễ. Cũng trong tối 14 tháng Hai, còn có lễ rước vua và công chúa vị hành, Sáng 15 tháng Hai tiến hành lễ rước vua, công chúa và tướng Cao Lỗ từ đình Xuân Ái về đền Cuông. Sau đó là lễ đại tế. Lễ đại tế là lễ chính, bao gồm 8 bước. Trình tự và nội dung của buổi lễ tương tự như lễ yết, nhưng có thêm hai lần dâng hương, rượu. Lễ tế được tổ chức vào sáng ngày 16 tháng Hai để tạ ơn các vị thần đã về dự lễ. Trong thời gian lễ hội, ban ngày có các trò chơi truyền thông, thi đấu thể thao như đánh đu, chọi gà, kéo co, cờ người, biểu diễn võ cổ truyền, thi đấu bóng chuyền, hội trại, ... ban đêm có hát ca trù, tuồng, chèo, đốt lửa trại, ... Không khí lễ hội thật là hấp dẫn, tưng bừng, náo nhiệt.

(Theo Anh Tuấn, Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội, tạp chí điện tử Văn hoá Nghệ An, ngày 29/3/2012)

34. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản có đoạn được trích ở trên thuộc loại văn bản gì?

Xem đáp án

Văn bản có đoạn được trích thuộc loại văn bản thông tin.

35. Tự luận
• 1 điểm

Sự kiện nào được thuật lại trong đoạn trích? Sự kiện đó diễn ra ở đâu, vào thời điểm nào trong năm?

Xem đáp án

- Sự kiện được thuật lại trong đoạn trích là lễ hội đền Cuông (tưởng nhớ vua An Dương Vương).

- Lễ hội được tổ chức tại Nghệ An vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm,

36. Tự luận
• 1 điểm
Tác giả đã thuật lại sự kiện theo trình tự nào? Căn cứ vào đâu mà em xác định như vậy?
Xem đáp án

- Tác giả thuật lại sự kiện theo trình tự thời gian, cái gì diễn ra trước được

nói trước, cái gì diễn ra sau thì nói sau.

- Căn cứ xác định: tác giả lần lượt nói về hoạt động trong từng ngày lễ hội, từ ngày 1 2 tháng Hai âm lịch đến ngày 16 tháng Hai âm lịch.

37. Tự luận
• 1 điểm

Đoạn trích đã làm nổi bật được đặc trưng của lễ hội nói chung, lễ hội đền Cuông nói riêng như thế nào?

Xem đáp án

Trong đoạn trích, không kể đoạn đầu mang tính chất giới thiệu chung, đoạn thứ hai tập trung nói về các nghi lễ, còn đoạn thứ ba dành để nói về các hoạt động vui chơi trong thời gian diễn ra lễ hội, Như vậy, cả đoạn trích đã nói được khá toàn điện vừa về tính chất chung của một lễ hội, vừa về đặc điểm riêng của lễ hội đền Cuông, với các nghỉ lễ và hoạt động vui chơi cụ thể.

38. Tự luận
• 1 điểm

Hãy liên hệ với văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4 (Ngữ văn 6, tập hai) và rút ra nhận xét về điểm chung của các lễ hội tưởng nhớ tiền nhân, ghi công những người đã có đóng góp lớn cho cộng đồng.

Xem đáp án

Cũng như văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4, đoạn trích cho ta biết được đặc điểm chung của một lễ hội tưởng nhớ tiền nhân, ghi công những người đã có đóng góp lớn cho cộng đồng. Đó là, luôn có những nghi lễ trang trọng mà linh thiêng, luôn thể hiện niềm tin về sự hiện hữu của những linh hồn bất tử và luôn chứng minh được sự tiếp diễn không ngừng của cuộc sống cộng đồng, dân tộc.

39. Tự luận
• 1 điểm

Nêu cách xử lí của em nếu được yêu cầu nhập hai câu sau đây thành một và có sử dụng dấu chấm phẩy: “Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng. Sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại diện các bạn, ngành và người dân về dự lễ”

Xem đáp án

- Cách xử lí: bỏ dấu chấm sau câu thứ nhất, thay bằng dấu chấm phẩy.

- Câu văn mới sẽ là: “Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng; sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại điện các bạn, ngành và người đến về dự lễ”.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:

Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao. Nước cờ của anh chàng không mấy ai trong thiên hạ địch nổi.

Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh. Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Trung Quốc. Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liên xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí. Hai người đọ tài nhau mấy ván liền không phân thua được. Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo:

- Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng đừng có hòng gỡ nổi.

Bấy giờ Đế Thích là thân cờ đang ngồi trên thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần định cho y biết tay. Trương Ba và Kỵ Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi cạnh bàn cờ. Ông cụ thủng thỉnh mách cho Kỵ Như mấy nước. Phút chốc bên Kỵ Như chuyển bại thành thắng. Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông già ở đâu đến làm cho mình lâm vào thế bí. Nhưng nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xoá, mặt mũi không có vẻ là người trần, chàng chợt hiểu, liền sụp xuống lạy mà rằng: “Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt không biết, xin thứ lỗi. “Đế Thích cười bảo: “Ta nghe nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết”. Trương Ba liên giữ Đế Thích lại mua rượu, giết gà khoản đãi rất chu tất. Đế Thích tuy mới gặp cũng rất yêu mến Trương Ba. Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành. Vậy ta cho một nắm hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống.” Nói đoạn, cưỡi mây bay về trời.

(Nguyễn Đổng Chi, Hồn Trương Ba da hàng thịt, trích Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 369)

40. Tự luận
• 1 điểm

Những yếu tố nào giúp em biết đoạn trên đây được trích từ bản kể truyện cổ tích?

Xem đáp án

Những yếu tố sau đây giúp ta biết được đoạn trích được lấy từ bản kể một

truyện cổ tích:

- Câu mở đầu nói về sự việc xảy ra vào thời quá khứ xa xưa, thời gian không xác định: Ngày xưa...

- Nhân vật được giới thiệu ngay ở câu đầu: Ngảy xưa, có một người tên là

Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao.

- Sự xuất hiện của những yếu tố có tính chất kì ảo (thần cờ Đế Thích trên

thiên đình cưỡi mây xuống trần, Đế Thích cưỡi mây về trời).

- Có chi tiết gợi trí tò mò của người đọc, người nghe (lời dặn của Đế Thích khi từ biệt Trương Ba để về thiên đình).

41. Tự luận
• 1 điểm

Ở phần sau của truyện, Đế Thích và Trương Ba sẽ còn gặp nhau. Chi tiết nàotrong đoạn trích đã hé lộ điều đó?

Xem đáp án

Chi tiết cho thấy Trương Ba gặp lại Đế Thích ở phần sau của truyện: Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhờ ngươi có bụng chân thành. Vậy ta cho một nắm hương này, mỗi lần cần đến ta thì tháp lên một cây, ta sẽ xuống.”

42. Tự luận
• 1 điểm
Phân tích tính chất kì ảo của một nhân vật trong đoạn trích.
Xem đáp án

Tính chất kì ảo được thể hiện ở nhân vật Đế Thích. Đây là nhân vật thần linh (gọi là thần cờ), ngự trên thiên đình, có khả năng nghe được tiếng nói của con người ở hạ giới, có thể cưỡi mây xuống trần, thoắt ấn thoắt hiện, có loại hương đặc biệt (tặng Trương Ba một nắm, hễ muốn gặp Để Thích thì thắp lên một cây). Những chi tiết lạ lùng, huyền ảo này hoàn toàn không có thực trong đời sống. Đó là kết quả sự thêu dệt bằng trí tưởng tượng phong phú của dân gian.

43. Tự luận
• 1 điểm
Nếu phải kể lại đoạn trên bằng lời của một trong các nhân vật đã xuất hiện,em sẽ chọn kể theo lời nhân vật nào? Vì sao?
Xem đáp án

Nếu phải kể lại đoạn trên bằng lời của một trong các nhân vật đã xuất hiện,em sẽ chọn kể theo lời nhân vật Trương Ba vì:

Trong đoạn trích có ba nhân vật: Trương Ba, Kỵ Như và Đế Thích. Trong đó, Kỵ Như và Đế Thích xuất hiện sau, không biết được tường tận về Trương Ba. Do đó, chọn Trương Ba làm nhân vật kể chuyện là phù hợp nhất.

44. Tự luận
• 1 điểm

Dựa vào các câu “Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếngcao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Ky Như liên xách khăn gói sang Nam tìmđến tận nhà tỉ thí”, em hãy đoán nghĩa của từ tỉ thí.

Xem đáp án

- Nghĩa của từ “tỉ thí”: đấu với nhau (ở đây là đánh cờ) để phân định người thắng người thua.

Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Biển Đông có đa dạng loài sinh vật biển rất cao và nguồn lợi sinh vật biểnphong phú với hơn 160 000 loài, bao gồm 10 000 loài thực vật và 260 loàichim biển. Trữ lượng các loài động vật biển ước tính khoảng 32,5 tỉ tấn,trong đó các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Trong vùng biển này còn cónhiều loài động vật quý hiếm, như đồi mồi, rắn biển, chim biển và thú biển.Ngoài ra, Biển Đông còn cung cấp nhiều loài rong biển có giá trị kinh tế.Riêng biển Việt Nam đã có khoảng 638 loài rong biển. Đây là nguồn thựcphẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú đặc trưng cho mộtvùng biển nhiệt đới.

(Theo Nguyễn Chu Hồi (Chủ biên), An ninh môi trường và hoà bình ở BiểnĐông, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2019, tr. 34 - 35)

45. Tự luận
• 1 điểm

Thông tin chính mà đoạn trích đưa đến cho độc giả là gì?

Xem đáp án

Thông tin chính mà đoạn trích đưa đến cho độc giả: Sự đa dạng loài cũng như trữ lượng dồi dào của sinh vật biển ở Biển Đông và lợi ích kinh tế của việc khai thác nguồn tài nguyên này.

46. Tự luận
• 1 điểm

Đặc trưng nào của văn bản thông tin đã được thể hiện đậm nét qua đoạntrích?

Xem đáp án

Đặc trưng nào của văn bản thông tin được thể hiện qua văn bản:

- Sử dụng nhiều số liệu cụ thể để làm tăng tính thuyết phục của vấn đề được nói tới. Đặc trưng này được thể hiện rõ nét, khi tác giả đưa ra nhiều con số chứng minh Biển Đông là nơi có sự đa dạng sinh học cao và trữ lượng sinh vật biển rất lớn.

47. Tự luận
• 1 điểm

Cái nhìn toàn diện của người viết về sự “đa dạng loài” ở Biển Đông đã được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Xem đáp án

Đoạn trích đã đưa đến cái nhìn toàn cảnh về sự “đa dạng loài” ở Biển Đông. Ngoài việc nêu tổng số loài, người viết còn kể chỉ tiết về số lượng các loài thực vật và liệt kê hàng loạt loài động vật quý hiếm khác ngoài cá (cá vốn là loài có trữ lượng lớn nhất).

48. Tự luận
• 1 điểm

Em suy nghĩ như thế nào về mối quan hệ giữa vấn đề “nguồn lợi” và vấn đề “đa dạng loài sinh vật biển"?

Xem đáp án

Đoạn trích gợi lên cùng lúc hai vấn đề: sự đa dạng loài sinh vật biển và nguồn lợi sinh vật biển. Giữa hai vấn để này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nguồn lợi càng lớn nếu sự đa dạng càng lớn. Ngược lại, nguồn lợi sẽ giảm đi nếu sự đa dạng vốn có bị đe dọa.

49. Tự luận
• 1 điểm

Những thông tin về sự phong phú của sinh vật biển ở Biển Đông có ý nghĩa như thế nào đối với nhận thức và hành động của chúng ta hôm nay?

Xem đáp án

Những thông tin nói về sự phong phú của sinh vật biển ở Biển Đông giúp

ta nhận thức được đầy đủ hơn về tầm quan trọng của Biển Đông đối với tương lai phát triển của đất nước. Đồng thời, chúng khơi dậy ở ta ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, quyết không để bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm phạm, chiếm đoạt phần lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.

50. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện văn hóa (lễ hội dân gian, hội chợ xuân, chợ Tết,...) mà em đã tìm hiểu, quan sát hoặc trực tiếp tham gia.

Xem đáp án

Mỗi dịp Tết đến, xuân về là thời điểm mà mọi người háo hức bắt đầu chuẩn bị đi mua sắm Tết. Những khu chợ trở nên đông vui nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Đường phố những ngày tết lúc nào cũng đông đúc, tấp nập. Đặc biệt phải nhắc đến hội chợ hoa xuân.

Hội chợ hoa xuân sẽ được tổ chức hằng năm. Thời gian diễn ra từ khoảng hai mươi ba Tết đến hết sáng ba mươi Tết. Địa điểm tổ chức thường ở nơi rộng rãi như sân vận động. Mọi người đến xem và mua rất đông đúc, tấp nập. Không khí của hội chợ rộn ràng, háo hức.

Những chiếc xe ra vào tấp nập. Mỗi gian hàng lại bày bán một loại cây riêng. Các chậu cây được xếp thẳng hàng. Bên cạnh những gian hàng bán đào và quất là các gian bán hoa tươi. Các loại hoa được bày bán rất đa dạng. Hoa hồng, hoa cúc, hoa vi-ô-let, hoa lan, hoa dơn, hoa thược dược… Tất cả đã tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc cho chợ hoa. Người bán hồ hởi mời chào khách mua hoa. Mọi người đi chợ hoa như đi trẩy hội để mua được loại hoa ưng ý nhất về chơi vào mấy ngày đẹp nhất.

Đông đúc nhất là khu bán đào, mai và quất. Vì đây là những loại cây đặc trưng của ngày tết, nên mọi người đều muốn mua một chậu đào, mai hoặc quất về chơi Tết. Những chậu cây được tạo với nhiều hình dáng độc đáo. Những nụ hoa đào, hoa mai đã bắt đầu bung nở trong những cơn mưa xuân. Bố em cũng chọn được một chậu đào rất đẹp.

Đã bao đời nay, Tết trở thành một lễ hội nằm trong niềm mong đợi và không thể thiếu của con người Việt Nam. Và những khu chợ hoa cũng đã trở thành một nét đặc trưng không thể thiếu của dịp Tết.

51. Tự luận
• 1 điểm

Hãy viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích mà em yêu thích.

Xem đáp án

Tôi là Sọ Dừa. Khi mẹ sinh ra, tôi không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt tôi đi, thì tôi liền nói:

- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp.

Vì thương tôi nên mẹ đã để lại nuôi, đặt cho tôi cái tên là Sọ Dừa. Lớn lên, tôi vẫn như lúc nhỏ, lăn lông lốc trong nhà. Mẹ liền nói với tôi:

- Con nhà người ta báy tám tuổi đã đi ở chăn bò, còn mày chẳng được tích sự gì.

Tôi liền bảo với mẹ:

- Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ cứ xin phú ông cho con đi chăn bò.

Nghe vậy, mẹ tôi liền đến hỏi phú ông. Từ đó tôi đến ở nhà phú ông.

Ngày ngày, tôi lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Tôi thấy phú ông mừng ra mặt.

Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho tôi. Hai cô chị độc ác nên thường hắt hủi tôi. Chỉ có cô út hiền lành, đối xử với với tôi.

Một hôm, tôi biến thành người, ngồi thổi sáo trên lưng trâu thì tiếng động, biết có người nên tôi lại hóa về hình dáng cũ. Từ đó, cô út càng chăm sóc tôi nhiều hơn, có thức ăn ngon lại giấu đem cho tôi.

Cuối mùa ở, tôi liền về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Mẹ tôi ửng sốt lắm, nhưng thấy tôi năn nỉ mãi nên cũng sang hỏi phú ông. Khi trở về, bà nói rằng phú ông yêu cầu phải sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mới đồng ý gả con gái. Tôi nói với mẹ cứ yên tâm.

Đến ngày hẹn, mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên khi trong nhà bỗng có đủ những lễ vật mà phú ông yêu cầu. Không chỉ vậy, còn có chục giai nhân khiêng sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông liền hỏi ba cô con gái xem có ai đồng ý, thì chỉ có cô út.

Trong ngày cưới, tôi cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, tôi biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú sang đón cô út về làm vợ. Hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tôi ngày đêm miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua cử tôi đi sứ. Trước khi đi, tôi đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.

Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, tôi nghe thấy tiếng con gà trống gáy vang ba lần:

- Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Tôi hạ lệnh cho thuyền vào xem, thì gặp lại vợ mình. Vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc. Tôi đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai người chị của vợ tôi tranh nhau kể chuyện nàng gặp phải rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Tôi không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Nhìn thấy em mình đã trở về bình an, họ xấu hổ bỏ về.