Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 8 Cánh diều có đáp án
49 câu hỏi
Gần trưa, Chiêu Minh vương hộ tống nhà vua tiễn Trần Quốc Tuấn ra bến Đông làm lễ tế cờ xuất sư. […] Không khí trang trọng đến tức thở. Nhân Tông vái Trần Quốc Tuấn và phán:
- Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
Trần Quốc Tuấn nghiêm trang đáp lễ:
- Lão thần thề không để nhục mệnh của bệ hạ.
Nhân Tông ban kiếm Thượng Phương, trao quyền chém trước tâu sau cho Trần Quốc Tuấn. Nhà vua chăm chú nhìn vị tướng già và thấy Trần Quốc Tuấn quắc thước lạ lùng.
Từ trên đài cao, Trần Quốc Tuấn lặng nhìn các đội quân hàng ngũ chỉnh tề bên dưới. […] Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mệnh nặng nề. Ông thét lớn:
- Bớ ba quân!
Tiếng dạ vang dậy kinh thành và sông nước.
Trần Quốc Tuấn lại thét tiếp:
- Quan gia đã hạ chỉ cho ta lĩnh cờ tiết chế cùng các ngươi xuất sư phá giặc. Kiếm Thượng Phương đây! -Trần Quốc Tuấn nâng cao kiếm lên khỏi đầu.
- Ai trái mệnh, phản dân, hại nước, ta sẽ nghiêm trị không tha.
Quân sĩ lại đồng thanh dạ ran. Nhân Tông vẫy Dã Tượng lại gần, cầm lấy cái gậy trúc xương cá của Trần Quốc Tuấn. Nhà vua ân cần trao cây gậy cho vị tướng già và dặn dò: […]
- Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe.
(Trích Trên sông truyền hịch, Hà Ân)
Ý nào nói đúng về phương thức biểu đạt của văn bản?
Tự sự, biểu cảm, nghị luận
Tự sự, nghị luận, miêu tả
Tự sự, miêu tả, biểu cảm
Tự sự, thuyết minh, nghị luận
Vua Trần Nhân Tông gửi gắm với Trần Quốc Tuấn vấn đề trọng đại gì?
Trao kiếm
Dặn dò nhiều điều
Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe.
Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
D. Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
Rượu quý, quyền lãnh đạo ba quân.
Ban kiếm Thượng Phương , quyền gặp vua bất cứ lúc nào.
Áo choàng, quyền quản lí quân sĩ.
Ban kiếm Thượng Phương, quyền chém trước tâu sau.
D. Ban kiếm Thượng Phương, quyền chém trước tâu sau.
Tại sao không khí buổi lễ tế cờ xuất sư được miêu tả trang trọng đến tức thở?
Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân Nguyên - Mông xâm lược.
Vì đây là buổi lễ vua lên ngôi.
Vì đây là buổi lễ quan trọng của hoàng cung.
Vì đây là buổi chia tay sinh tử.
A. Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân Nguyên - Mông xâm lược.
Vua rất anh minh
Vua rất tin tưởng Trần Quốc Tuấn
Vua rất tin tưởng vào tài năng cầm quân của Trần Quốc Tuấn, chờ đợi chiến thắng trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông.
Cả A, B, C.
C. Vua rất tin tưởng vào tài năng cầm quân của Trần Quốc Tuấn, chờ đợi chiến thắng trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông.
Trần Quốc Tuấn rất tự tin.
Trần Quốc Tuấn tự tin và thể hiện quyết tâm mang về chiến thắng để báo đáp niềm tin tưởng của vua.
Trần Quốc Tuấn hứa hẹn chiến thắng quân giặc.
Trần Quốc Tuấn sẽ bảo vệ danh dự cho vua.
B. Trần Quốc Tuấn tự tin và thể hiện quyết tâm mang về chiến thắng để báo đáp niềm tin tưởng của vua.
“Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mệnh nặng nề”. Câu văn này gợi đến tâm trạng, cảm xúc gì của Trần Quốc Tuấn?
Trần Quốc Tuấn cảm nhận được sức mạnh của dân tộc và niềm hứng khởi khi đón nhận sứ mệnh vua ban.
Trần Quốc Tuấn thấy vui vẻ.
Trần Quốc Tuấn thấy ai cũng đáng tin yêu
Trần Quốc Tuấn thấy dân tộc mình thật kiên cường.
A. Trần Quốc Tuấn cảm nhận được sức mạnh của dân tộc và niềm hứng khởi khi đón nhận sứ mệnh vua ban.
Có thể hiểu câu dặn dò của vua với Trần Quốc Tuấn "Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe” như thế nào?
Vua mong Trần Quốc Tuấn bình an trở về.
Vua mong Trần Quốc Tuấn biết bảo trọng thân thể vì vua, vì đất nước.
Vua lo lắng, yêu mến, kính trọng Trần Quốc Tuấn.
Cả A, B, C
D. Cả A, B, C
Trần Quốc Tuấn là một vị tướng giỏi, uy nghi, dũng mãnh. Ông được các vua thời Trần tín nhiệm, nhân dân yêu mến, là con người suốt cả đời theo nghiệp nhà binh, bảo vệ đất nước bao phen khỏi kẻ thì xâm lược, đã từng đánh giặc Mông Nguyên lần thứ nhất năm 1257, lần thứ hai năm 1285, lần thứ ba năm 1288.
Qua văn bản và cách biểu hiện của các nhân vật, em rút ra được bài học gì cho bản thân?
Bài học cho bản thân:
- Chúng ta cần phải sống và làm việc hết mình vì đất nước.
- Phải đặt lợi ích, vận mệnh dân tộc lên mọi lợi ích khác.
- Dù là ở cương vị cao hơn cũng luôn phải tôn trọng người lớn tuổi, người có tài.
- Khi làm việc gì cũng luôn cần sự tự tin và quyết tâm.
- Ơ! mai Du ơi, suốt lúa nhiều có đau tay không? [...]
Ơ! mai Liêu ơi, suốt lúa chưa nhiều, không đau tay đâu. Phải suốt cho mau chớ. Suốt lâu mai mốt thằng Pháp tới rẫy nó lấy hết hột lúa, không có mà ăn, bụng đói đi vào rừng [...]
- Làng Kông-hoa mình không theo Pháp, nó kêu đi xâu, không đi, nó kêu đi thuế, không đi. Nó đánh, mình bỏ chạy trong núi [...].
Buổi sáng nay, Liêu mang gùi ra rẫy, đến nước suối Thi-om thì gặp anh Núp. [...]
Bây giờ, anh đi đâu?
- Anh đi An-khê. Liêu mở tròn hai con mắt lớn:
- Di An-khê làm chi? Anh không sợ thằng Pháp à? Tháng trước lũ làng Ba-lang không chịu đi xâu, nó tới bỏ bom chết ba mươi người. Ngày bữa kia, nó bắn làng Đê-tùng trong nhà rông chết mười bảy người. Nó ghét người Ba-na mình lắm, anh đi coi nó làm chi? Núp lấy ngón chân tẩy một cái rêu trên hòn đá:
- Nó làm chết người Ba-na mình nhiều quá, Liêu ạ. Anh đi coi thứ đánh có được không... Thôi, ông trời lên cao rồi, anh di cho kịp.[...] Anh Núp không có cha từ năm lên hai tuổi, chỉ còn mẹ già, em nhỏ, thế mà giỏi quá. Một mình chặt miết cũng ngả được cây to, đẩy được hòn đá, cho lửa ăn cái rừng, tỉa lúa, tỉa bắp xuống, làm ăn no đủ nhất làng.
Lũ già làng như bok Pa, bok Sung thương anh Núp, tối ngồi ở nhà rông, gỗ ống điếu xuống cối gạo, khen:
- Núp con người tốt, biết làm ăn, thanh niên trong làng làm rẫy không ai bằng Núp. Lũ làng có ai dau, Núp trước tiên đi vô rừng hái cái lá tốt về cho uống mau lành; lũ làng có ai chết, Núp trước tiên di vô núi tìm cái cây to về làm hòm. Con người có cái tay giỏi, đan cái gùi cũng được, đan cái rổ cũng được. Già làng nói biết nghe lời, tốt lắm!...
(Trích, Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc)
Tự sự
Miêu tả
Biểu cảm
Nghị luận
A. Tự sự
Nhân vật chính trong truyện là ai?
Là mai Du
Là mai Liêu
Là Núp
Là già làng
C. Là Núp
Dân làng Ba-na đứng lên chống Pháp.
Thực dân Pháp đánh chiếm và anh Núp – người con đồng bào dân tộc Ba-na đangtìm cách đứng lên đấu tranh.
Đồng bào Tây Nguyên đánh giặc Pháp.
Đồng bào Tây Nguyên đánh giặc Mỹ.
B. Thực dân Pháp đánh chiếm và anh Núp – người con đồng bào dân tộc Ba-na đang tìm cách đứng lên đấu tranh.
Vì mai Du suốt lúa chưa được nhiều.
Vì nếu chậm thì thực dân Pháp tới nó sẽ cướp hết lúa.
Vì nếu không có đủ lúa ăn sẽ phải vào rừng.
Cả A, B, C.
B. Vì nếu chậm thì thực dân Pháp tới nó sẽ cướp hế
Kiên cường, coi Pháp chính là kẻ thù, không cần nghe lời.
Sợ Pháp nên bỏ chạy.
Không hiểu tình hình đất nước.
Gan dạ.
A. Kiên cường, coi Pháp chính là kẻ thù, không cần nghe lời.
Đoạn văn này cho em biết gì về bản chất của kẻ thù: “Tháng trước lũ làng Ba-lang không chịu đi xâu, nó tới bỏ bom chết ba mươi người. Ngày bữa kia, nó bắn làng Đê-tùng trong nhà rông chết mười bảy người. Nó ghét người Ba-na mình lắm..”?
Thực dân Pháp xảo quyệt
Thực dân Pháp rất độc ác và tàn bạo, chúng coi rẻ tính mạng con người, chỉ lăm le chiếm đóng, thống trị dân ta.
Thực dân Pháp âm mưu xâm chiếm nước ta.
Thực dân Pháp tàn ác.
B. Thực dân Pháp rất độc ác và tàn bạo, chúng coi rẻ tính mạng con người, chỉ lăm le chiếm đóng, thống trị dân ta.
Việc Núp không sợ chết và quyết định đi An - Khê để xem có đánh được giặc Pháp không chứng tỏ điều gì?
Núp lúc là một người gan dạ, có tính toán, có tầm nhìn vì anh biết muốn đánh được kẻ thù thì phải hiểu rõ ràng cặn kẽ.
Núp khao khát được đánh giặc
Núp muốn lập công.
Núp quá liều lĩnh.
A. Núp lúc là một người gan dạ, có tính toán, có tầm nhìn vì anh biết muốn đánh được kẻ thù thì phải hiểu rõ ràng cặn kẽ
Vì sao già làng như bok Pa, bok Sung lại thương và khen Núp?
Vì Núp mồ côi cha nhưng khỏe mạnh, chăm chỉ.
Vì Núp làm rẫy rất giỏi.
Vì Núp rất tốt bụng với mọi người, già làng nói thì biết nghe lời.
Cả A, B, C.
D. Cả A, B, C.
Qua những điều em biết ở văn bản trên, em hãy nêu suy nghĩ của mình về nhân vật Núp?
- Mặc dù sinh ra trong một hoàn cảnh không may mắn nhưng Núp luôn chăm chỉ và cố gắng.
- Anh có một trái tim yêu nước cháy bỏng. Anh đã có suy nghĩ khác biệt với mọi người là cố gắng tìm hiểu kẻ thù để đánh đuổi kẻ thù.
=> Suy nghĩ về nhân vật: cảm phục, yêu mến, kính trọng về con người luôn biết vượt khó, giàu ý chí, nghị lực và tình yêu đất nước.
Thông qua nhân vật Núp, em có thêm những kinh nghiệm gì trong cuộc sống khi gặp những khó khăn, biến cố?
Thông qua nhân vật Núp đã cho em thêm những kinh nghiệm trong cuộc sống khi gặp những khó khăn, biến cố.
+ Luôn luôn nỗ lực vươn lên trong cuộc sống ở tất cả mọi lĩnh vực.
+ Sống hết mình và sống thật tốt thì chắc chắn sẽ được nhiều người yêu mến.
+ Luôn chăm chỉ lao động và chúng ta sẽ thành công trong cuộc sống.
+ Khi đất nước có xâm lăng, hãy luôn hướng về tổ quốc để giành lại tự do.
TRẦN ĐĂNG KHOA: TÁC GIẢ CỦA TUỔI THƠ TRONG TRẺO
Được biết đến là cây bút nổi bật trong giới thi ca Việt Nam, Trần Đăng khoa là người có nét riêng xuất sắc trog số các nhà thơ đương đại trước năm 1975. Ông luôn có cái nhìn bao quát về cuộc sống, những chất liệu được dệt trong các tác phẩm hầu hết là sự quen thuộc xung quanh.
Suốt hơn năm mươi năm sáng tác, Trần Đăng Khoa đã cho ra đời hơn hia mươi tập thơ và trường ca như Khúc hát người anh hùng, Bên cửa sổ may bay hay Chân dung và đối thoại, chưa kể đến một số tập bút kí và tiểu luận phê bình. Tuy nhiên nổi trội nhất vẫn là Góc sân và khoảng trời hay.
Bằng những đặc sắc trong ngòi bút, Trần Đăng Khoa đã ghi dấu ấn trong lòng người đọc bao kí ức về miền tuổi thơ với chất thơ nhẹ nhàng, hồn nhiên mà đầy chân thật nhưng cũng không kém phần sâu sắc với nhiều tầng ý nghĩa.
Mười tuổi ông đã có những câu thơ vo cùng trong trẻo và xúc động chạm đến trái tim người đọc. Qua lăng kính của một cậu bé, hạt gạo hiện lên trong bức tranh đầy màu sắc cùng với giọt mồ hôi và nỗi khó nhọc của người nông dân. Không những thế, tác phẩm Hạt gạo làng ta còn chứa đựng cả hình ảnh tảo tần của những người phụ nữ hậu phương. Bao nhiêu hạt gạo là bấy nhiêu chân tình cùng nỗi nhớ nhung khắc khoải của quê hương dành cho tiền tuyến....[ Hạt gạo làng ta]
Quê hương và thiên nhiên luôn hiện hữu trong các tác phẩm của Trần Đăng Khoa như một hình tượng nghệ thuật giau sức gợi, được cảm nhận bằng tấm lòng cảu một người con đã gắn bó với mảnh đất mình sinh ra và lớn lên....[Trăng ơi từ đâu đến?]
Thơ của Trần Đăng Khoa không chỉ hồn nhiên, trong sáng mà còn du dương như một bản đồng giao với cách gieo chữ có hồn, có nhịp. Trong thơ của ông, nhạc điệu không chỉ là giai điệu của tâm hôn mà còn khả năng tạo hình, tạo nghĩa tinh tế. Thế giới âm thanh giàu tiết tấu trong từng vần thơ của cậu bé mười bốn tuổi đã phần nào khẳng định tài năng xuất chúng với trình độ thượng thừa trong cách chơi chữ xứng đáng với danh xưng “thần đồng” thi ca. Kông những thế nahf thơ còn lồng ghép linh hoạt nhiều phép nghệ thuật như ẩn dụ, nhân hóa hay từ láy khiến thơ của ông không những hóm hỉn, vui nhộn mà còn vô cùng có chiều sâu và đầy tinh tế...[ Cây dừa]
Điều khiến thơ ông khác lạ so với những nhà thơ cùng độ tuổi lúc bấy giờ là cách đưa thế giới xung quanh vào tác phâm bằng một tâm hồn sâu sắc cùng
đôi mắt quan sát nhạy bén. Từng vần thơ Trần Đăng Khoa đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp hồn nhiên, chân thực của trẻ thơ nên dễ dàng chạm đến trái tim của độc giả và để lại trong họ miền kí ức tươi đẹp của những ngày còn thơ bé. Dù có phủ bao nhiêu lớp bụi của thời gian thì thơ Trần Đăng Khoa vẫn luôn sống mãi trong dòng chảy văn chương bởi những nội dung, nghệ thuật đặc sắc chứa đựng trong từng câu chữ...
Cho đến tận hôm nay, Trần Đăng Khoa vẫn mãi là tinh tú trên bầu trời văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông không chỉ đóng góp cho thơ ca nước nhà những áng thơ bay bổng mà còn giúp người đọc lưu giữ miền kí ức tuổi thơ vào sâu trong tâm khảm.
(Theo Thiên Nhi, https://revologuecom/tac-gia-tran-dang-khoa)
Văn bản trên thuộc thể loại văn bản nào?
Nghị luận văn học.
Nghị luận xã hội
Văn bản thơ
Văn bản truyện trưởng.
A. Nghị luận văn học.
Chất liệu làm nên tác phẩm thơ Trần Đăng Khoa là gì?
Con người và các mối quan hệ
Những sự vật giải dị, quen thuộc xung quanh
Những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày
Những vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên
B. Những sự vật giải dị, quen thuộc xung quanh
Châm biếm, đả kích
Hài hước vui vẻ, tự nhiên
Mạnh mẽ, mãnh liệt
Nhẹ nhàng hồn nhiên nhưng sâu sắc
D. Nhẹ nhàng hồn nhiên nhưng sâu sắc
Để chứng minh thơ Trần Đăng Khoa trong veo và xúc động, chạm tới trái tim người đọc, tác giả bài viết đã phân tích những bài nào?
Cây dừa
Đám ma bác giun
Hạt gạo làng ta
Trăng ơi từ đâu đến
C. Hạt gạo làng ta.
Đánh dấu X vào đặc trưng nghệ thuật của thơ Trần Đăng Khoa được nhắc đến trong văn bản?

1, 4
Văn bản được kết thúc bằng nội dung nào?
Khẳng định vẻ đẹp trong phong cách và giá trị thơ ca của Trần Đăng Khoa
Bàn về những tác phẩm mới xuất bản của Trần Đăng Khoa.
Phát biểu cảm nghĩ về con người Trần Đăng Khoa thể hiện trong thơ ca.
Nói về con người Trần Đăng Khoa ở thời điểm hiện tại.
A. Khẳng định vẻ đẹp trong phong cách và giá trị thơ ca của Trần Đăng Khoa
Câu hỏi
Câu cầu khiến
Câu cảm thán
Câu kể.
A. Câu hỏi
VD: Mưa
Sắp mưa
Sắp mưa
Những con mối
Bay ra
Mối trẻ
Bay cao
Mối già
Bay thấp
Gà con
Rối rít tìm nơi
Ẩn nấp
Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gươm
Kiến
Hành quân
Đầy đường
Lá khô
Gió cuốn
Bụi bay
Cuồn cuộn
Cây dừa.
Đám ma bác giun
Hạt gạo làng ta.
Trăng ơi từ đâu đến?
D. Trăng ơi từ đâu đến?
BÁNH TRÔI NƯỚC
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Hồ Xuân Hương)
Dòng nào dưới đây thể hiện đúng đặc điểm bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương?
Bài thơ được viết bằng chữ Quốc ngữ theo thể thơ thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật
Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
D. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Qua hình ảnh chiếc bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn nói gì về người phụ nữ?
Vẻ đẹp tâm hồn.
Vẻ đẹp hình thể.
Vẻ đẹp và số phận long đong.
Số phận bất hạnh.
C. Vẻ đẹp và số phận long đong
Trong nghĩa thứ nhất của bài thơ Bánh trôi nước, chiếc bánh trôi nước được miêu tả như thế nào?
Chiếc bánh được làm từ bột nếp, nhào nặn thành viên tròn, màu trắng, bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Chiếc bánh được nhào nặn, bên trong chứa nhân, bánh có màu đỏ và nổi trên mặt nước khi luộc.
Chiếc bánh có hình vuông, màu trắng và bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Chiếc bánh được làm từ bột gạo, có hình ống với nhiều màu sắc khác nhau.
A. Chiếc bánh được làm từ bột nếp, nhào nặn thành viên tròn, màu trắng, bên trong chứa nhân, khi cho vào nước thì vừa chìm vừa nổi.
Nhận xét nào đúng khi nói về những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bánh trôi nước?
Bài thơ vừa tả thực về chiếc bánh trôi, vừa thể hiện vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu cao đẹp của người phụ nữ, vừa cảm thông cho thân phận chìm nổi của họ.
Bài thơ đã thể hiện sâu sắc vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu, son sắt, thủy chung của người phụ nữ.
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp hình thức của chiếc bánh trôi và vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ.
Bài thơ đã miêu tả sinh động hình ảnh chiếc bánh trôi, một món ăn độc đáo của dân tộc.
A. Bài thơ vừa tả thực về chiếc bánh trôi, vừa thể hiện vẻ đẹp hình thức và tấm lòng nhân hậu cao đẹp của người phụ nữ, vừa cảm thông cho thân phận chìm nổi của họ.
Ở nghĩa thứ hai (lớp nghĩa hàm ẩn) trong bài thơ Bánh trôi nước, hình ảnh người phụ nữ được miêu tả như thế nào?
Lớp nghĩa thứ hai: Hình ảnh người phụ nữ hiện lên là người phụ nữ xinh đẹp, da trắng, thân hình cân đối nhưng số phận lại long đong ba chìm bảy nổi, và dù sống trong cảnh tối tăm nhưng người phụ nữ ấy vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình.
Ở nghĩa thứ hai (lớp nghĩa hàm ẩn) trong bài thơ Bánh trôi nước, hình ảnh người phụ nữ được miêu tả như thế nào?
Nhận xét về ngôn ngữ: Ngôn ngữ bình dị, giàu hình ảnh, gắn liền với cuộc sống.
Nêu chủ đề của bài thơ Bánh trôi nước, từ đó kể tên một tác phẩm (ghi rõ tên tác giả) có chung chủ đề ấy.
- Chủ đề: Thân phận người phụ nữ
- Bài thơ cùng chủ đề: Thương vợ - Trần Tế
Qua bài thơ Bánh trôi nước, em có cảm nghĩ gì về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ?
Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ: Xinh đẹp nhưng khổ cực, lận đận, truân chuyên
HỒ CHÍ MINH VÀ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Thứ Bảy, 1-9-2018.
Bằng chính sự gan góc, quyết tâm của cả dân tộc vì một nền Cộng hoà Dân chủ, quyền tự do, độc lập thật sự, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định dân tộc Việt Nam phải được tự do và độc lập; “nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập”.
[…]
(1) Ngày 4-5-1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng 5, Người yêu cầu Trung uý Giôn, báo vụ của OSS (cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ), điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ.
(2) Ngày 22-8-1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25-8, Người vào nội thành, ở tầng 2 nhà 48 Hàng Ngang.
Sáng 26-8-1945, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, bàn các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân. Ngày ra mắt Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 27-8-1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ và đề nghị đầu tháng 9, Chính phủ ra mắt quốc dân và đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị.
Người đưa bản thảo để các thành viên Chính phủ xét duyệt, đề nghị duyệt kĩ, vì ta sẽ đọc không phải chỉ để đồng bào cả nước ta nghe, mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh nghe. […]
Ngày 28 và 29-8, ban ngày, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền, trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thì giờ soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối, tại 48 Hàng Ngang, một căn buồng vừa là phòng ăn, vừa là phòng tiếp khách, Bác tự đánh máy Tuyên ngôn Độc lập ở một cái bàn tròn.
Ngày 30-8, Bác mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý cho bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Người đọc cho mọi người nghe và hỏi ý kiến. Ngày 31-8, Bác bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.
(3) 14 giờ ngày 2-9-1945, trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
(Theo baodanang.vn)
Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Văn bản nghị luận
Văn bản thông tin
Hành chính công vụ
Ý kiến khác
B. Văn bản thông tin
Văn bản Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập cung cấp thông tin về?
Bác Hồ
Bản Tuyên ngôn Độc lập
Bác Hồ và bản Tuyên ngôn độc lập
Bác Hồ và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
C. Bác Hồ và bản Tuyên ngôn độc lập
Văn bản Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập đã cung cấp đầy đủ thông tin về sự kiện ra đời bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đúng hay sai?
Đúng
Sai
A. Đúng
Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào vào thời gian nào?
1/5/1945
2/5/1945
3/5/1945
4/5/1945
B. 2/5/1945
Nêu nội dung chính của văn bản.
Văn bản Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập đã cung cấp đầy đủ thông tin về sự kiện ra đời bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Em thấy thông tin nào trong văn bản cần chú ý nhất? Vì sao?
Thông tin cần chú ý nhất là thời gian vì đây là văn bản thông tin, sự kiện lịch sử thì cần làm rõ thời gian của nó.
Viết đoạn văn ngắn (200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự tự do.
Ai trong chúng ta cũng sẽ luôn nhớ về ngày 2/9 tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Bác đã đưa đất nước ta đến với tự do. Vậy tự do có ý nghĩa như thế nào? Tự do được hiểu là tình trạng khi một cá nhân không bị xử ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng ý chí nguyện vọng của chính mình. Cá nhân chúng ta thì sự tự do được thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày như ăn ngủ nghỉ, chúng ta tự do chọn món ăn mà mình thích, chọn bộ quần áo phù hợp mà không chịu sự ràng buộc, áp đặt nào cả. Trong học tập của vậy. Hiện nay người ta cũng luôn đề cao sự tự do ngôn luận, sự tự do trong việc phát triển bản thân. Sự tự do không chỉ xoay quanh cuộc sống đời thường mà sự tự do còn là đề tài mà được nhiều tác giả đưa vào tác phẩm của mình. Chẳng hạn, như bài thơ " Khi con tu hú" của Tố Hữu với hoàn cảnh ngục tù, sự giam cầm khiến cho nhà thơ muốn làm một cuộc vượt ngục bằng tinh thần để tìm lấy sự tự do. Tự do có vai trò to lớn với mỗi con người. Đối với cá nhân đó là đem lại những quyền cơ bản nhất của họ và tự cho họ quyền quyết định vận mệnh cá nhân. Còn đối với xã hội sự tự do sẽ giúp cho xã hội tiến bộ và văn minh hơn. Vai trò quan trọng của tự do như vậy nên chúng ta cần phải có sự phê phán những hành vi cướp đoạt quyền tự do của người khác, đó là điều trái với lẽ thường. Hãy nhận thức đúng với sự tự do và bảo vệ sự tự do đó cho bản thân.
Em hãy viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện em yêu thích.
Khúc ca của văn chương mang một sức mạnh thật kì diệu, nó đi sâu vào tiềm thức, trái tim của người đọc, từ đó để lại biết bao rung động, suy ngẫm về cuộc đời. Giữa vườn hoa văn chương Việt Nam ấy có một khúc ca viết về người mẹ thật đẹp, được ánh lên dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Ngọc Tư. Với phong cách viết văn giản dị mà tình cảm, “Người mẹ vườn cau” đã trở thành một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng và đem lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.
Trong văn học, đề tài về mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận với các nghệ sĩ bởi tình yêu thương, sự hy sinh của người mẹ. Tấm lòng của người mẹ là những đại dương sâu thẳm mà suốt cuộc đời con người không thể đo đạc cũng không thể thấu hiểu hết. Ở đó, các nhà văn có thể bộc lộ, thể hiện tâm tư tình cảm của mình dành cho người mẹ yêu quý và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng không ngoại lệ, cô cũng đóng góp vào đề tài ấy với tác phẩm Người mẹ vườn cau. Tập truyện ngắn được trích trong “Xa xóm mũi - 2016”. Tập truyện “Xa xóm Mũi” là tập truyện gồm 11 truyện ngắn viết cho thiếu nhi mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn lấy nhan đề này để chỉ những người mẹ có công với Cách mạng, người mẹ ấy không có tên gọi cụ thể mà chỉ gọi theo đặc điểm nơi ở.
Tác phẩm mang đến cho người đọc bằng một tình huống của nhân vật “tôi” khi được cô giáo giao cho bài văn viết về mẹ. Với một đề bài như vậy nhưng nhân vật “tôi” lại không có cách nào để viết được. Sau đó “tôi" hồi tưởng về kỉ niệm hồi nhỏ, kỉ niệm cùng người bà của mình. Với việc xây dựng tình huống truyện đã khiến cho người đọc cảm nhận được sự gần gũi. Không những thế còn dễ dàng truyền tải nội dung đến các độc giả về hình ảnh người bà thông qua các chi tiết miêu tả, cuộc đối thoại của các nhân vật trong văn bản.
Với lối suy nghĩ ngây ngô trẻ con của nhân vật tôi thì không biết hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn đối với bố thì lại có tận hai mẹ, cũng chính điều này đã làm cho nhân vật tôi có tới hai bà nội: Nội ở Phố Đông, Nội ở vườn cau. Trong kỉ niệm của “tôi" đã được về nhà Nội ở vườn cau chơi. Khung cảnh nơi đây dường như vẫn như hôm qua đọng mãi trong kí ức của nhân vật. Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu, giọt tong tong. Hình ảnh về cuộc sống giản dị, đơn sơ đã in hằn vào trong tiềm thức của “tôi" mỗi khi nhớ đến người bà vườn cau. Khung cảnh bình yên bao nhiêu thì càng làm hiện lên hình ảnh Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu, sợ trời mưa mấy đứa sẽ bị cảm. Nội là một bà mẹ anh hùng, theo lời kể của bố bà làm nghề bán ve chai, đưa thư, mang thức ăn, tin tức… Mang trong mình dáng vẻ còn cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua đã khiến cho người đọc hình ảnh thân thuộc. Tất cả đã ánh lên được sự hy sinh thầm lặng của người mẹ già, cả một đời vất vả, lam lũ, nhưng vẫn luôn là hậu phương vững chắc cho những đứa con của mình đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Những hình ảnh gắn với người bà vườn cau trong tâm trí của “tôi" đó là hôm về nhà Nội do có giỗ của chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ có vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản, nhưng lại vô cùng ấm áp. Sau cơn mưa mọi người ào ào kéo đến nhà bà khiến cho nhân vật “tôi” có một thắc mắc sao nhà bà lại nhiều con như vậy. Thế nhưng khi nghe các chú kể về khung cảnh ngày xưa khiến cho “tôi" phần nào cũng hiểu ra được. Cảnh ba gắp thức ăn cho bà rồi bà lại gắp thức ăn cho “tôi” và bà xoa đầu bảo “tôi” ăn cho chóng lớn đã cho thấy khung cảnh gia đình thật ấm áp và tràn đầy hạnh phúc.
Mọi người cùng hàn huyên chuyện cũ, tiếng cười vang vọng khắp gian nhà nhỏ. Còn “tôi” lại được nội dẫn ra vườn cau. Vườn cau nhà Nội thật thú vị, chắc cũng vì lý do này, bố gọi nội là "Mẹ vườn cau". Ở vườn, cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Đêm hôm ấy, “tôi” được Nội mắc mùng cho ngủ, nhưng vì lạ giường mà mãi không ngủ được, Nội liền kể cho “tôi” nghe về câu chuyện của bà. Người trên bàn thờ hôm nay là hai đồng chí thân thiết với bố, các chú đều là những người hiên ngang, anh dũng và Nội chính là mẹ của hai đồng chí đã hi sinh đó. Nội được gọi là mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy chỉ làm nghề bán ve chai nhưng “Nội còn đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức". Sau cái gánh ve chai ấy là công việc cách mạng mà Nội đã âm thầm, không quản hiểm nguy mang đến cho ba, cho các chú. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng khiến nhân vật “tôi" hiểu ra rằng “anh hùng” đâu cần phải là người cao to hay có súng. “Anh hùng" có thể là những người rất bình thường thôi nhưng công việc họ làm cho đất nước thật phi thường!
Thế nhưng hiện tại do ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển lên phố luôn. Cũng đã từ rất lâu mà nhân vật “tôi” chưa được quay lại thăm nội vườn cau, thế nhưng trong tâm hồn của “tôi" vẫn luôn dành cho bà một tình cảm đặc biệt. Chỉ còn là ký ức: “chốn ấy còn chín lừ quả ngọt, hương cau còn nồng nàn trắng xoá, tóc nội chắc bạc nhiều hơn…” Không những nhân vật “tôi” mà trong tâm trạng của người cha cũng vậy, luôn lo lắng cho bà. Và chỉ đến khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình “bạc”, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định “Mai về nội “vườn cau”, con ha?". Văn bản nói về những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn trở về thực tại, mẹ của nhân vật “tôi” chỉ “là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc”. Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” không hề buồn vì viết về mẹ đâu chỉ bằng vài câu. Đây là bài học về sự biết ơn, kính trọng đến những người mẹ. Có những người mẹ bình dị mà thật nhân hậu, lớn lao, tình mẹ là tình cảm thiêng liêng, có sức lay động và cảm hoá mạnh mẽ.
Tác phẩm đã tạo nên tình huống truyện vô cùng độc đáo. Với ngôi kể thứ nhất đã đem đến cho người đọc được sự gần gũi, dường như người đọc đang hòa mình với nhân vật tôi để trở về với kí ức tuổi thơ bên người bà của mình. Chỉ là những đoạn đối thoại ngắn, lối trần thuật tự nhiên, những câu văn đậm chất khẩu ngữ Nam bộ đã góp phần tạo nên lối kể chuyện mộc mạc, giản dị. Không tô vẽ, không cường điệu hóa, “Người mẹ vườn cau” đã hiện lên rõ nét trước mắt người đọc như chính những người con Nam Bộ chân thành, bộc trực, giàu đức hy sinh. Tất cả đã đưa đến cho người đọc hình ảnh về một người mẹ anh hùng tần tảo, yêu thương các con của mình.
Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi đến của văn học thế nên Andecxen đã từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Đúng vậy, Nguyễn Ngọc Tư với những trải nghiệm của chính mình đã phát hiện cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới. Truyện ngắn "Người mẹ vườn cau" đã mang gợi đến cho mỗi chúng ta những kỉ niệm hạnh phúc về gia đình và những bài học về việc báo đáp công ơn của mẹ. Ai rồi cũng có gia đình riêng nhưng mái ấm có mẹ chờ luôn là ngôi nhà mà chúng ta nên trở về nhất. Giống như một nhà thơ đã từng viết về mẹ vậy:
“Mẹ ơi, mẹ như bình minh rạng ngời
Soi sáng con đường đời con đi
Mẹ là bầu trời, mẹ là biển rộng
Mẹ là tình yêu sâu lắng trong trái tim con.”
Em hãy viết bài văn phân tích một tác phẩm thơ em yêu thích.
Chủ quyền dân tộc luôn là một vấn đề nóng bỏng không chỉ của thời điểm hiện tại mà ngay cả trong những ngày quá khứ xa xưa. “Sông núi nước Nam” có thể coi là bản tuyên ngôn về độc lập, chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Bài thơ thể hiện ý chí kiên cường và quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ông cha.
Về xuất xứ của bài “Sông núi nước Nam” có rất nhiều ghi chép khác nhau, nhưng chúng đều có điểm chung đó là: bài thơ ra đời gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của dân tộc. Vì có nhiều giả thuyết khác nhau về sự ra đời của tác phẩm nên bài thơ thường được để khuyết danh. “Sông núi nước Nam” có thể coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, mang hai nội dung lớn: Khẳng định độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó.
Hai câu đầu khẳng định độc lập dân tộc trên cơ sở cương vực lãnh thổ và chủ quyền:
“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
Trước hết về chủ quyền, Đại Việt là đất nước có chủ quyền riêng, điều này được thể hiện rõ qua cụm từ “Nam đế cư”. Trong phần dịch thơ được dịch là “vua Nam ở”. Ở đây chúng ta cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đế và vua, vì đây là hai khái niệm rất khác nhau. “Đế” là duy nhất, toàn quyền, có quyền lực cao nhất; “Vua” thì có nhiều, phụ thuộc vào đế, quyền lực xếp sau đế. Bởi vậy, khi sử dụng chữ đế trong bài đã khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam, đồng thời khi sử dụng “Nam đế” thì mới sánh ngang hàng với “Bắc đế”, độc lập và không phụ thuộc vào Bắc đế.
Về cương vực lãnh thổ, nước ta có cương vực riêng đã được quy định ở sách trời. Căn cứ vào thiên thư nước ta nằm ở phía nam núi Ngũ Lĩnh thuộc địa phận sao Dực và sao Chẩn. Dựa vào sách trời để khẳng định chủ quyền của đất nước rất phù hợp với tâm lý, niềm tin của con người ngày xưa (tin vào số phận, mệnh trời) bởi vậy càng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Đồng thời sách trời ở đây cũng tương ứng với chân lí khách quan, qua đó tác giả cũng ngầm khẳng định sự độc lập của đất nước ta là chân lý khách quan chứ không phải ý muốn chủ quan.
Hai câu sau khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng những từ ngữ mang ý nghĩa kinh miệt “nghịch lỗ” – lũ giặc làm điều trái ngược, để gọi những kẻ đi xâm lược. Ngoài ra để vạch trần tính chất phi nghĩa cuộc chiến tranh, tác giả còn đưa ra hình thức câu hỏi “như hà” (cớ sao). Bởi điều chúng làm là phi nghĩa, đi ngược lại chân lý khách quan nên tất yếu sẽ chuốc lại bại vong. Câu thơ cuối vừa có tính chất khẳng định, vừa như là lời răn đe, cảnh báo trước hành động xâm lược của chúng: các người sẽ chuốc lấy bại vong hoàn toàn khi xâm lược Đại Việt.
Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc và cô đọng. Tác phẩm chỉ có hai mươi tám chữ nhưng lại ẩn chứa những tư tưởng và tình cảm lớn: khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc và nêu lên quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập đó. Ngôn từ cô đọng, giàu sức gợi cảm: nam đế cư, nghịch lỗ, như hà… Kết hợp hài hòa giữa biểu cảm và biểu ý: bài thơ thiên về nghị luận trình bày nhưng ẩn sâu bên trong là những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả. Giọng thơ trang trọng, hào hùng, đầy tự tin.
Bài thơ ngắn gọn, hàm súc mà chưa đựng những tư tưởng tình cảm lớn lao, cao đẹp. Văn bản là bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc ta về độc lập, chủ quyền của đất nước. Tác phẩm đã tạo niềm tin, sức mạnh chính nghĩa cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Em hãy viết bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Nếu hỏi trên thế giới này nơi nào ấm áp hơn cả, tôi chỉ có một câu trả lời duy nhất ấy là hai chữ "gia đình". Gia đình bên ta từ khi ta thuở ấu thơ, cho ta những nhận thức đầu đời, cho ta được thứ tình cảm ấm áp nhất mà không một nơi nào có được. Có một câu nói rất hay của Euripides rằng: "Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận" khiến mỗi một chúng ta phải trầm tư nhớ lại về "gia đình", hai tiếng thật thiêng liêng.
Gia đình là một tổ chức nhỏ, nơi một nhóm người có cùng huyết thống, cùng sinh sống, đùm bọc che chở lẫn nhau, cho nhau tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc. Ở đó ta thường nghe thấy những tiếng gọi cha, gọi mẹ thật ngọt ngào, những lời dạy bảo đầy ân cần cho con cái, ta cũng thấy viễn cảnh những đứa con đứa cháu hết mực hiếu kính ông bà cha mẹ. Và dù bằng cách nào người trong một gia đình cũng không bao giờ có thể từ bỏ nhau, bởi sợi dây liên hệ trong ấy không chỉ đơn thuần là huyết thống mà còn là tình thân, những kỷ niệm chung trong suốt đời người, không thể nói bỏ là bỏ. Gia đình chính là một phần tử cấu nên xã hội, gia đình có tốt đẹp thuận hòa thì xã hội mới có thể phát triển.
Về cụm từ "tai ương số phận", trong một đời người dài đến gần trăm năm, tôi khẳng định rằng chẳng có ai có thể bình bình an an vượt qua mà không gặp chút trắc trở nào cả. Nói xui xẻo, ví như bạn là một cô gái trẻ, vừa tốt nghiệp đại học quyết chí đi làm ăn bằng tất cả vốn liếng và kinh nghiệm ít ỏi, nhưng rồi bị phá sản, chẳng ai muốn chìa tay ra giúp bạn, duy chỉ có gia đình sẵn sàng trả hết nợ nần cho bạn bằng mọi giá, rồi đưa bạn về an ủi vỗ về. Hoặc khi bạn chẳng may gặp tai nạn thương tích, thì bạn bè đến thăm nom cũng được mấy đợt, chỉ có cha mẹ bạn là luôn ở bên chăm từng miếng ăn giấc ngủ, bạn đau một chút họ cũng xót lòng xót ruột rồi. Hay là khi đau đớn vì tình yêu, cũng chỉ có tình thân trong gia đình mới có thể vực dậy chúng ta mà thôi. Nói nhiều ví dụ như vậy là để khẳng định rằng gia đình chính là nơi cho chúng ta động lực, sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trắc trở, gia đình cũng luôn là chiếc tổ ấm áp để chúng ta quay về ủ ấm bất cứ lúc nào. Từ đó chúng ta trở nên mạnh mẽ và có niềm tin hơn vào cuộc sống, có thể thấy vai trò của gia đình đối với mỗi một cá nhân là vô cùng quan trọng.
Gia đình là cái nôi sinh ra và nuôi lớn con người, những bước đi đầu đời, tiếng nói đầu tiên, những bài học về cung cách đối nhân xử thế, bài học về đạo đức đi thưa về gửi đều xuất phát từ gia đình. Mái ấm gia đình là nơi ươm mầm cho những tài năng, là nơi phát triển nhân cách của một con người, gia đình có êm ấm hạnh phúc thì ở đó con người mới có thể có được những nền tảng tốt, như là một loại phản xạ có điều kiện hình thành từ thuở ta còn ấu thơ, dần ngấm sâu vào máu thịt, thành một lẽ đương nhiên. Những tình cảm, những gì mà gia đình đã vun đắp dạy dỗ sẽ trở thành thứ hành trang quý giá mà bạc vàng cũng không bao giờ có thể mua được, theo bước chúng ta vào đời. Đó là những hành trang vững bền qua năm tháng, cũng là cơ sở ban đầu để định hình nhân cách và năng lực của mỗi chúng ta trên chặng đường đua trong tương lai.
Trong cuộc đời con người luôn xuất hiện 3 loại tình cảm ấy là tình yêu, tình bạn và tình thân, thì hai loại tình cảm kể trước là vô thường, có thể thay đổi bất cứ lúc nào mà ta không thể biết được. Riêng chỉ có tình thân, tình cảm gia đình là mãi mãi, đó là thứ tình cảm thật thiêng liêng, đẹp đẽ, không phải chỉ hình thành ngày một ngày hai, mà theo từng năm tháng, trong từng giai đoạn của đời người, tạo nên mối quan hệ khăng khít bằng huyết thống và những kỷ niệm gắn bó buồn vui đủ cả. Nếu như tình yêu là sự thu hút lẫn nhau của hai trái tim, thiên về cảm xúc, tình bạn là sự đồng điệu về tâm hồn là tri âm, tri kỷ vì có những điểm tương đồng bù trừ lẫn nhau. Thì ở tình thân ta thấy được một thứ tình cảm gắn bó không chỉ thiên về cảm xúc mà còn thiên về lý trí, về bản năng vốn có từ muôn đời nay, từ buổi đầu tiến hóa.
Dẫu biết rằng yêu gia đình là một suy nghĩ rất đúng đắn và tích cực, thế nhưng chúng ta cần phải biết phân biệt đúng sai, thương yêu không có nghĩa là bao che, dung túng, nuông chiều. Điều đó chỉ khiến con em chúng ta trở nên đổ đốn, ảo tưởng vị trí của mình trong xã hội, đôi khi chính sự bao che của gia đình chính là nguyên nhân đưa con em bước vào bước đường tội lỗi. Bởi họ ỷ có gia đình che chở, không biết hối cải, sửa chữa lỗi lầm, không nhận ra được khuyết điểm của bản thân, không thể phát triển được đó là một sai lầm vô cùng nghiêm trọng. Thế nên đúng thì tuyên dương, sai thì phải chỉ bảo dạy dỗ đàng hoàng, người trong một gia đình cần thấu hiểu lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau.
Xã hội hiện đại nhưng dường như nhận thức của một số con người vẫn còn đang ở thời nguyên thủy, họ sống một cách vô tâm, vô tình, lạnh nhạt với cha mẹ người thân, thậm chí là đánh mắng hành hạ người đã dưỡng dục họ. Có kẻ thì đánh đập bạo hành con cái, rồi thì đang tâm vứt bỏ gia đình, vứt bỏ con cái bơ vơ để đi tìm cuộc sống cho riêng mình một cách thật ích kỷ và tàn nhẫn. Tất cả những hành động ấy đều đã đi ngược lại với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, khiến con người trở nên cô độc, tách biệt với gia đình, khó có thể thành công trong cuộc sống bởi những nền tảng tâm hồn đầu tiên của họ vốn dĩ đã bị khiếm khuyết đi rồi.
Bản thân mỗi chúng ta được sống trong một mái ấm gia đình đã là một điều rất may mắn, so với những người bơ vơ không gia đình không người thân. Thế nên chúng ta cần phải hết sức trân trọng, vun đắp tình cảm với những người thân trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, yêu thương anh chị em. Lòng luôn hướng về gia đình, không nên khiến cho cha mẹ thất vọng hay phiền lòng, lỡ có rời xa gia đình đi học đi làm xa, thì gắng thường xuyên gọi điện về thăm hỏi, có thời gian thì tranh thủ trở về cùng cha mẹ ăn bữa cơm đoàn viên, quan tâm đến tình hình sức khỏe của cha mẹ đừng để khi đã muộn thì hối cũng không kịp nữa rồi. Ở lứa tuổi học sinh thì cần nhất là vâng lời cha mẹ, chăm ngoan học hành tu dưỡng đạo đức, trở thành niềm hy vọng, tương lai của gia đình và xã hội.
Hai tiếng "gia đình" thật thiêng liêng và cao cả, mỗi lúc chùn chân mỏi gối, nản chí ta lại nghĩ về gia đình để tiếp tục cố gắng, cố gắng không nổi nữa thì đã có gia đình sẵn sàng chờ đón ta trở về nghỉ ngơi sau những tháng ngày vất vả. Gia đình thân thương ấm áp đến thế, nên chúng ta cần phải gắng sức mà vun đắp, tạo dựng một gia đình một hậu phương thật vững chắc, để bản thân có thể yên tâm vững bước trên đường đời nhé các bạn trẻ.
Lưu Quang Vũ đã dùng bút pháp sắc sảo và tư duy đương đại để dàn dựng vở kịch “Tôi và chúng ta”. Tác phẩm phản ánh một mặt hiện tại của nền sản xuất xã hội, là sự đấu tranh giữa bóng tối và ánh sáng, những ý tưởng đổi mới thường bị coi là điên rồ và vấp phải sự phản đối của những người có quan điểm lạc hậu và bảo thủ, đặc biệt là những người được “chống lưng” cảm thấy có quyền.
Đoạn trích “Tôi và chúng ta” là cảnh thứ ba của vở kịch, đánh dấu sự xung đột ý kiến đầu tiên về việc thay đổi cách tiếp cận và phương thức hoạt động trong một doanh nghiệp nhà nước mang tên Thắng Lợi. Một bên là tư duy bảo thủ, lạc hậu, tuân thủ một cách mù quáng các quy tắc, quy định do cấp trên đặt ra mà không xem xét liệu chúng có còn phù hợp hay không. Điều này được đại diện bởi Nguyễn Chính (Phó giám đốc) và Trường (Giám đốc sản xuất). Hai cá nhân này được Trần Khắc (đại diện Thanh tra) hậu thuẫn nên thường xuyên công khai chống lệnh cấp trên, thậm chí phớt lờ những gì Giám đốc Hoàng Việt nói, cho rằng đó là điên rồ, trái quy định.
Mở đầu đoạn trích là cuộc họp của toàn thể nhân sự trong công ty, giám đốc Hoàng Việt tuyên bố lý do cuộc họp và mở màn cho Lê Sơn, người đề xuất kế hoạch cải tổ của mình. Lê Sơn vốn nhút nhát nhưng có năng lực, nhiều lần phải cố gắng phát biểu, nhưng với sự hướng dẫn đặt câu hỏi của Hoàng Việt, cuối cùng anh cũng nói được ý tưởng sáng tạo của mình, điều có lẽ hoàn toàn mới đối với mọi người có mặt. Những đại diện khác của tư tưởng cải cách tiến bộ, những người đã nhận ra những bất cập và những quy định cứng nhắc đang kìm hãm sự phát triển của công ty và bóp nghẹt đời sống của người lao động, có Thành (tổ trưởng tổ sản xuất 1) và nhiều công nhân khác.
Theo Lê Sơn, xí nghiệp có thể tăng mức sản xuất gấp 5 lần nếu mở rộng mặt hàng và nguyên liệu máy móc, cần thêm từ 300 đến 500 công nhân. Đây là những con số chưa từng được suy nghĩ trước đó và chỉ tiêu biên chế được cấp trên cho phép chỉ có 15 chỉ tiêu như vậy, không thể thay đổi theo ý kiến của Lê Sơn.
Khi Hoàng Việt hỏi về nguồn gốc của kế hoạch sản xuất được nhắc đến, Trưởng phòng tổ chức lao động trả lời rằng nó được cấp trên đưa xuống. Tuy nhiên, mọi người không biết cấp trên đó là ai và Hoàng Việt nhận thấy sự phi logic của vấn đề này. Anh cho rằng việc đưa ra kế hoạch ngược đời và việc lập kế hoạch phải do cơ sở đưa ra rồi mới được cấp trên xem xét và duyệt là hợp lý hơn. Vì vậy, Hoàng Việt quyết định từ nay chủ động đặt ra kế hoạch cho chính xí nghiệp.
Câu nói của Hoàng Việt đã khiến mọi người bất ngờ và gây ra nhiều khó khăn. Đầu tiên là vấn đề về chỉ tiêu biên chế, Hoàng Việt đã tuyển thợ hợp đồng để giải quyết vấn đề này. Sau đó, anh ta đã tạm dừng việc xây dựng nhà khách để ứng tiền trả lương trước cho công nhân. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn là tài chính, với Trưởng phòng tài vụ không muốn chi tiền dù đã được giám đốc ký. Hoàng Việt đã đứng ra chịu trách nhiệm và thay thế người này bằng cô Loan kế toán, để thực hiện quyết định của mình một cách quyết liệt nhưng cần thiết, bởi không thể làm được gì nếu có người cứng đầu và không chấp nhận thay đổi.
Câu chuyện chưa dừng lại ở đó. Đến lúc này, Nguyễn Chính, thủ lĩnh của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu bắt đầu lên tiếng và liên tục chất vấn Hoàng Việt bằng những câu hỏi hóc búa. Tuy nhiên, Hoàng Việt với tư cách là giám đốc cũng không dại gì đến mà không chuẩn bị trước và đã chuẩn bị sẵn mọi lời giải thích hợp lý cho phó giám đốc. Ông chỉ ra những tiêu cực của việc “đối xử với những người chăm chỉ và những người lười biếng như nhau” và kết luận “đây là loại chủ nghĩa xã hội gì?” Cuối cùng, ông đề xuất nguyên tắc “làm nhiều nhận nhiều, làm ít nhận ít”, công nhân nhiệt liệt hoan nghênh. Trưởng phòng tài chính chị Trường tiếp tục ‘nhai đi nhai lại’ nguyên tắc không biết chán nhưng với Hoàng Việt.
Về phần giám thị Trường, ông chỉ bắt đầu phản đối khi nghe Hoàng Việt nói sẽ bỏ chức giám sát vì thấy thừa và phí thời gian. Anh cảm thấy điều này là phi logic vì trong nhận thức của anh, vị trí giám sát viên rất quan trọng. Tuy nhiên, chỉ với một câu nói, Hoàng Việt đã khiến Trường im lặng: “Chức vụ không quan trọng. Chỉ quan trọng hiệu quả công việc”. Cuối buổi chỉ còn anh Quý và chị Bông ở lại động viên, hỗ trợ Hoàng Việt. Nguyễn Chính luôn dùng lý luận như nguyên tắc, quy định, đặc biệt khẳng định “quy định mà đồng chí thảm sát tồn tại bền vững hàng chục năm” là hết sức bảo thủ, lạc hậu.
Hoàng Việt đã hoàn toàn đúng khi khẳng định với Nguyễn Chính một quy luật khách quan “Vạn vật không đứng yên, cuộc đời không đứng yên một chỗ, cái đúng hôm qua đã trở thành vật cản của ngày hôm nay, chúng ta phải tìm cách vượt qua nó .” Chắc hẳn ông đã hiểu sâu sắc những quy luật vận động của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyễn Chính không còn tranh cãi gì nữa, tức giận bỏ đi, buông lời thách thức: “Được… đồng chí tự tin quá! Để xem!” Có lẽ anh đang mong có ngày Hoàng Việt thất bại để anh chế giễu, nhưng điều đó khó có thể xảy ra. Trong phòng chỉ còn lại Lê Sơn và Hoàng Việt tâm sự với nhau. Lê Sơn nhắc Hoàng Việt về Nguyễn Chính, nhưng Hoàng Việt không nản vì anh rất vững vàng, tin vào kế hoạch của mình và tin tưởng Lê Sơn.
Đoạn trích này là khởi đầu cho sóng gió ở doanh nghiệp nhà nước Thắng Lợi. Ở đây diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai phe đối lập, một bên là bảo thủ, lạc hậu, một bên là đổi mới tư duy, cách làm, hướng tới trình độ sản xuất cao hơn, bảo đảm chi tiêu của người lao động. Và thắng lợi bước đầu của cuộc đấu tranh mà phe có khát vọng đổi mới, dám nghĩ dám làm chính là nhờ sự vững vàng và thông minh của đạo diễn Hoàng Việt. Đây cũng là tiền đề cho những xung đột, đấu tranh gay gắt hơn nữa chờ đợi ở phần sau của vở kịch.
Em hãy viết bài giới thiệu một cuốn sách để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng em.
Thơ – những âm vần và nhịp điệu dễ nhớ, giản dị mà lại sâu sắc. Tôi thích thơ, nó mang lại cho tôi cảm giác như đang lạc vào một khoảng không gian cùng với tác giả. Trong không gian ấy tôi cảm nhận được cả niềm vui, nỗi buồn và cả sự tiếc nuối mà tác giả mang đến trong tác phẩm. Một bài thơ có thể ngắn có thể dài, nhưng nó lại chứa đựng cả một tư tưởng lớn bao trùm cả một thời đại. Vì chính lẽ đó, tôi đã đến thư viện trường rất thường xuyên để tìm đến những bài thơ hay và tình cờ tôi đã thấy được cuốn sách “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân, trong đó có các tác giả mà tôi yêu thích cùng với các bài thơ của họ. Và như một lẽ tất nhiên, tôi đã mượn nó để thỏa mãn sự hiếu kỳ của mình.
Mở đầu của cuốn sách là một bài phê bình về “Một thời đại trong thi ca”. Tôi đã rất ngỡ ngàng vì có những thứ chưa tiếp xúc và chưa biết. Vì vậy, tôi đã định bỏ nó lại, nhưng Sapphire đã viết: “Tác giả gửi đi những thông điệp và việc của người đọc là giải mã những thông điệp đó một cách thấu đáo nhất có thể”. Quyết tâm của tôi lại nổi lên, tôi mở sách ra và ngồi đọc, tìm tòi tỉ mỉ những thông tin chưa biết. Quả thật, quyển sách đã đem đến cho tôi rất nhiều sự ngạc nhiên.
“Thi nhân Việt Nam” là cuốn sách phê bình về phong trào thơ mới Việt Nam, do hai anh em nhà văn Hoài Thanh và Hoài Chân biên soạn. Đây là một hợp tuyển thơ đầu tiên của thời kỳ thơ mới – những bài thơ lãng mãn chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương tây, ghi nhận lại những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ giá trị trong khoảng 1932–1941. Cuốn sách bình luận theo phương pháp chủ quan, được nhiều nhà văn đánh giá rất cao về giọng bình và trình độ cảm nhận của tác giả. Cuốn sách đã tập hợp được rất nhiều tác giả mà tôi yêu thích cũng như các thi nhân ưu tú nhất của thời kỳ này. Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử,…Tổng cộng có tất cả 44 nhà thơ và Tản Đà – nhà thơ giao thoa giữa hai thời đại cũ và mới được ở “ghế danh dự”.
Tác giả đã viết “Thi nhân Việt Nam” một cách rất tỉ mỉ và chân thành. Đây là một tài liệu tốt để rèn luyện kĩ năng lí luận văn học. Cuốn sách sẽ đem lại cho bạn những kiến thức phong phú. Chẳng hạn như ông đã nói rằng không thể lấy độ dài để định giá một bài thơ; nêu cách nhận diện thơ mới sao cho đúng đắn, là phải “sánh bài hay với bài hay”, bởi lẽ “cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng một thời nào”. Đồng thời ông cũng nói lên hai thời đại bao gồm trong cái ta chung và cái tôi riêng, tấn bi kịch của các nhà thơ mới, gợi ý cho họ lối thoát bằng tình yêu tiếng Việt.
Có một câu văn đặc biệt được trích dẫn ở nhiều tư liệu: “Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. Câu văn này thật sự rất hay, nó như một sự tổng kết cho một thời đại rực rỡ huy hoàng của thơ ca. Và nó cũng được rất nhiều thế hệ sau nhớ đến để mang theo suốt chặng đường đời của mình. Hoài Thanh, Hoài Chân đã làm rung động cả một thế hệ theo sau như vậy.
“Thi nhân Việt Nam” cũng đã trải qua một thời thăng trầm. Khi nó mới được xuất bản, người ta phủ nhận nó vì nó dám khen cái thứ “thơ buồn”. Nhưng điều càng bất ngờ hơn chính là Hoài Thanh cũng không ít hơn một lần chối bỏ nó. Có lẽ vì nó không hợp thời hợp thế chăng? Một cuốn sách tổng kết lại cả một giai đoạn thơ ca khi mới xuất hiện bị người ta phủ định, thì dần dà về sau, khi nhìn lại những tác phẩm ấy, ta mới hiểu rõ, mới sâu sắc cảm nhận được sự đánh giá, phê bình của tác giả dành cho một quãng thời gian đổi mới. Cuốn sách dù đã được trả về đúng vị trí, giá trị của nó nhưng thật đáng tiếc, Hoài Thanh đã mất, và cũng đem theo một nỗi niềm u uẩn.
“Thi nhân Việt Nam” là một cuốn sách rất hay. Nó phù hợp với những người yêu thơ ca. Nó cũng phù hợp với những ai muốn tìm nguồn tư liệu để tích lũy kiến thức, nâng cao khả năng lí luận văn học. Cuốn sách không phải cứ đọc ngày một ngày hai là xong, mà trong từng câu chữ, ta phải ngẫm đi ngẫm lại rất nhiều lần để hiểu được ý nghĩa của nó. Tin tôi đi, thời gian của bạn sẽ không lãng phí nếu bạn dùng để đọc và ngẫm cuốn sách này. Đọc xong sách, tôi cảm nhận sâu sắc rằng Hoài Thanh không hổ danh là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của Văn học Việt Nam hiện đại. “Thi nhân Việt Nam” chính là cuốn sách hay nhất viết về Thơ mới, và cũng là một trong những cuốn sách hay nhất của phê bình văn học Việt Nam.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.
Gợi ý cho bạn
Tài liệu phổ biến Lớp 8
Tài liệu phổ biến Văn

![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)



![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)

















