
13 câu hỏi
a) Câu phủ định
- Đặc điểm: Trong câu có từ "làm sao". Câu xác nhận về việc người được nói đến không xác định, hiểu rõ về vấn đề gì đó.
b) Câu khẳng định
- Đặc điểm: Câu không chứa các từ ngữ phủ định. Câu xác nhận về việc vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân.
c) Câu khẳng định
- Đặc điểm: Câu không chứa các từ ngữ phủ định. Câu thông báo về hành động phải làm.
d) Câu phủ định
- Đặc điểm: Câu có từ "chưa". Câu xác nhận về việc chị Dậu vẫn còn đang giận.
a) Không ai là không muốn đuổi chúng đi.
b) Không có ngày nào Thị Nở không đi qua vườn nhà hắn.
c) Từ đấy, không ngày nào Hoài Văn không xuống các thôn xóm, vận động bà con đứng lên cứu nước.
|
Câu |
Từ có nghĩa phủ định |
Nét khác nhau giữa từ đó với “không” |
|
a |
Đâu phải |
- "Không" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không xảy ra hoặc không đúng. - "Đâu phải" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không đúng hoặc không thích hợp. |
|
b |
Đâu phải |
- "Không" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không xảy ra hoặc không đúng. - "Đâu phải" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không đúng hoặc không thích hợp. |
|
c |
Không thể |
- "Không thể" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không thể xảy ra hoặc không thể làm được. - "Không" mang ý nghĩa phủ định, chỉ sự không xảy ra hoặc không đúng. |
a) Câu này được dùng với mục đích khẳng định. Vì trong câu, Trần Quốc Tuấn đã sử dụng từ "đời nào không có?" để chứng tỏ rằng từ xưa đến nay, không có một đời nào mà các bậc trung thần nghĩa sĩ không bỏ mình vì nước.
b) Câu này được dùng với mục đích nghi vấn (hỏi để được trả lời). Với việc sử dụng từ "có bao giờ", Nguyễn Huy Tưởng hỏi xem liệu có một người nào có thể hết được hay không, nhằm tạo ra sự suy nghĩ và cân nhắc từ phía người đọc hoặc nghe.
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bài văn thường tập trung làm sáng tỏ nội nội dung và ý nghĩa của một nhận định, một ý kiến về tư tưởng, tình cảm hay quan niệm về lối sống, cách ứng xử,...
- Để viết được bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, em cần chú ý:
+ Tìm hiểu kĩ nội dung, ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí được nêu trong đề
+ Trình bày rõ ý kiến (đồng tình hay phản đối) của người viết về tư tưởng, đạo lí ấy và lí giải vì sao.
+ Tìm ý và lập dàn ý cho bài viết: Căn cứ vào đề bài để xác định cách tìm ý cho phù hợp (đặt câu hỏi hoặc suy luận).
+ Sử dụng lí lẽ và bằng chứng cụ thể để làm rõ ý kiến, tăng sức thuyết phục cho bài viết.
- Đề 1: Suy nghĩ về câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”.
- Đề 2: Suy nghĩ về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”
- Đề 3: Suy nghĩ về 2 câu thơ của Chế Lan Viên:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.”
- Giống nhau: Cả hai đều thuộc kiểu bài nghị luận xã hội, những vấn đề gần gũi và có ý nghĩa với mọi người. Cách làm cả hai kiểu bài đều vận dụng kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận,...
- Khác nhau: Bài nghị luận về một vấn đề của đời sống thường lấy một hiện tượng có thật trong cuộc sống (con người, sự việc,...), có thể tích cực hoặc tiêu cực để yêu cầu người viết bản luận, ngợi ca hoặc phê phán, còn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là kiểu bài thường nhân một câu danh ngôn, tục ngữ, ca dao,…để yêu cầu người viết bàn luận.
- Ý nghĩa câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.”:
+ Đây là cách nói hình ảnh: “Làm ma” tức là chết, “làm vương” tức là làm vua. Câu nói có nghĩa đen: Ta thà chết chứ không thèm làm vua cho xứ người – đất Bắc (chỉ Trung Quốc).
- Câu nói ấy cũng có thể suy rộng ra theo nghĩa bóng: Con người sống cần giữ khí tiết, “chết trong còn hơn sống đục”, “giấy rách phải giữ lấy lề”,... chỉ cách sống trong sạch, đúng với nhiều tình huống và hoàn cảnh khác nhau.
- Lí do danh tướng Trần Bình Trọng nói rằng “thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”:
+ Đối với ông, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn hòa bình cho đất nước; đánh đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi nước Nam mới là điều quan trọng hàng đầu. Ông sẵn sàng hi sinh để bảo vệ quê hương và sẽ không bao giờ đầu hàng trước tiền tài, danh vọng, quyền lực xứ Bắc.
+ Câu nói đã thể hiện tinh thần anh dũng, khí phách hiên ngang và lòng yêu nước sâu sắc Trần Bình Trọng dành cho đất nước.
- Trong một bài viết nghị luận, các thành phần chính gồm vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng chứng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
+ Vấn đề: Đây là điều mà bài viết đang thảo luận. Nó thường được đưa ra nhằm kích thích sự quan tâm của người đọc và làm nền tảng cho việc trình bày các ý kiến sau này.
+ Ý kiến: Đây là quan điểm hoặc luận điểm của người viết về vấn đề được đề cập. Ý kiến được hỗ trợ bằng lí lẽ và bằng chứng.
+ Lí lẽ: Lí lẽ là cách người viết sử dụng luận thuyết logic để chứng minh tính hợp lý của ý kiến hay quan điểm của mình. Lí lẽ cung cấp những lập luận, suy luận và giải thích để thuyết phục người đọc về tính đúng đắn của ý kiến.
+ Bằng chứng: Bằng chứng là các thông tin, sự kiện, tài liệu hoặc tư liệu khác được sử dụng để chứng minh tính chất đúng đắn của ý kiến. Bằng chứng có thể bao gồm các tài liệu nghiên cứu, số liệu thống kê, ví dụ cụ thể hoặc trích dẫn từ các tác giả uy tín.
- Câu chuyển đoạn trong bài nghị luận cần thiết vì:
+ Tạo sự liên kết: Câu chuyển đoạn giúp tạo sự liên kết và mạch lạc giữa các phần khác nhau trong bài viết. Nó giúp người đọc theo dõi một cách dễ dàng và tổ chức thông tin một cách rõ ràng.
+ Đưa ra lập luận mới: Câu chuyển đoạn có thể được sử dụng để giới thiệu một lập luận mới hoặc triển khai một phần quan trọng khác của ý kiến. Điều này giúp tăng tính thuyết phục và độ thống nhất của bài viết.
+ Chuyển dạng suy nghĩ: Câu chuyển đoạn cho phép người viết chuyển từ một ý kiến sang một ý kiến khác một cách mượt mà. Nó cũng giúp xây dựng sự liên kết giữa các lí lẽ và bằng chứng để tạo thành một luận điểm rõ ràng và mạch lạc.
Để nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một nhân vật lịch sử hoặc tác phẩm văn học, em cần chú ý các yêu cầu:
- Nghe kĩ nội dung giới thiệu về đối tượng mà người nói đã trình bày.
- Ghi lại các ý chính theo hệ thống (ý lớn, ý nhỏ và các ví dụ minh họa tiêu biểu…)
- Trình bày bản tóm tắt ý chính theo từng mức độ.
Kĩ năng nói và nghe có liên quan với nhau, nhất là yêu cầu nói nghe tương tác trong các tình huống trao đổi, thảo luận. Tuy vậy, việc rèn luyện hai kĩ năng này có những yêu cầu khác nhau. Kĩ năng nói thuộc năng lực tạo lập văn bản, còn kĩ năng nghe thuộc năng lực tiếp nhận văn bản (một bên tạo ra và một bên thu nhận thông tin). Việc rèn luyện mỗi kĩ năng có yêu cầu riêng. Bài này yêu cầu kĩ năng nghe là chính, khác yêu cầu nói và nói nghe tương tác là chính.
Kĩ năng nói có những yêu cầu như: biết trình bày đúng nội dung, đúng đối tượng và bối cảnh; có kĩ năng, kĩ thuật thuyết trình tạo được hiệu quả, gây được chú ý và hứng thú ở người nghe; có thái độ nói phù hợp;... Kĩ năng nghe (biết nghe) thể hiện ở các yêu cầu: hiểu đúng nội dung và thông tin nghe được; có kĩ năng nghe, biết tóm tắt các ý chính / thông tin cơ bản nghe được và có thái độ nghe đúng mực (tập trung, chú ý, cổ vũ, động viên người nói,...).
Các yêu cầu cần chú ý trong khi thực hành nói và nghe:
- Thực hành nghe và ghi lại các ý chính của bài thuyết trình.
- Kiểm tra và chỉnh sửa các lỗi sai trong bài nói của mình.
- Chú ý đến ngữ điệu và giọng điệu trong quá trình nói.
- Thực hành thường xuyên.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.

![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)
![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)



















