Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có đáp án

A
Admin
VănLớp 847 lượt thi
35 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc kĩ đoạn trích dưới đây, sau đó trả lời các câu hỏi:

NGÔ QUYỀN ĐẠI PHÁ QUÂN NAM HÁN

Ngô Quyền là một trong những vị vua lừng danh bậc nhất của lịch sử nước nhà.

Ông quê ở Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội ngày nay), là người mưu lược, sức khoẻ vô song. Sau, làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ, được Dương Đình Nghệ gả con gái cho, lại cho quyền cai quản Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).

Tháng Ba năm Đinh Dậu (937), Dương Đình Nghệ bị con nuôi là Kiều Công Tiễn giết chết.

Tháng Chạp năm ấy, Ngô Quyền kéo quân từ Ái Châu ra hỏi tội Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn sợ, sai sứ sang cầu cứu quân Nam Hán (Trung Quốc). Vua Nam Hán muốn nhân nước ta có loạn mà đem quân đánh chiếm, bèn sai con út là Hoằng Tháo đem thật nhiều chiến thuyền, theo sông Bạch Đằng tiến vào nước ta.

Nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, Ngô Quyền nói với các tướng:

- Hoằng Tháo bất quá chỉ là một đứa trẻ dại khở, phải đem quân từ xa tới, đã mỏi mệt lại nghe tin Kiều Công Tiễn bị giết chết, hắn mất kẻ nội ứng thì hồn vía sẽ chẳng còn.

Ta lấy sức đang khoẻ để địch với quân mỏi mệt thì tất sẽ phá được. Nhưng bọn chúng hơn ta ở chỗ nhiều chiến thuyền. Nay, nếu ta sai người đem cọc lớn vạt nhọn, đầu thì bịt sắt, ngầm đóng xuống trước ở cửa biển, dụ cho thuyền của chúng theo nước triều lên mà vào phía trong của hàng cọc thì ta hoàn toàn có thể chế ngự chúng, quyết không cho chiến thuyền nào tẩu thoát.

Định đoạt mưu kế xong, Ngô Quyền bèn sai đem cọc đóng xuống hai bên bờ cửa sông. Khi nước triều lên, Ngô Quyền sai quân đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả thua để dụ địch đuổi theo. Quả nhiên Hoằng Tháo trúng kế. Khi chiến thuyền của chúng lọt vào vùng cắm cọc, đợi đến khi nước triều rút, cọc nhô dần lên, Ngô Quyền bèn tung quân, liều chết mà đánh. Quân Hoằng Thao bị rối loạn, nước triều lại xuống gấp, thuyền vướng cọc mà lật úp, quân sĩ chết đến quá nửa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt và giết được Hoằng Tháo. Vua Nam Hán được tin, thương khóc mãi rồi thu nhặt tàn quân của Hoằng Tháo còn sót lại và rút về.

Chỉ bằng những đội quân mới nhóm họp của nước Việt, Ngô Quyền đã đánh tan cả trăm vạn quân của Hoằng Thao, dựng nước và xưng vương, khiến giặc phương Bắc phải khiếp sợ, không dám bén mảng đến nước ta.

Theo Nguyễn Khắc Thuần (Việt sử giai thoại)

1. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Xem đáp án

Văn bản trên thuộc thể loại truyện lịch sử

2. Tự luận
• 1 điểm

Nêu bối cảnh của câu chuyện?

Xem đáp án

Bối cảnh của câu chuyện: Câu chuyện diễn ra xuyên suốt năm Đinh Dậu (937), sau khi Kiều Công Tiễn giết chết Dương Đình Nghệ (cha vợ của Ngô Quyền) và cầu cứu quân Nam Hán (Trung Quốc) khi Ngô Quyền kéo quân ra hỏi tội. Vua Nam Hán muốn thừa cơ đem quân đánh chiếm nước ta.

3. Tự luận
• 1 điểm

Ngô Quyền có mối quan hệ như thế nào với Dương Đình Nghệ?

Xem đáp án

Mối quan hệ của Ngô Quyền và Dương Đình Nghệ là con rể - cha vợ: Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ gả con gái cho.

4. Tự luận
• 1 điểm
Vì sao Ngô Quyền kéo quân hỏi tội Kiều Công Tiễn?
Xem đáp án

Ngô Quyền kéo quân hỏi tội Kiều Công Tiễn vì tháng Ba năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn đã giết chết Dương Đình Nghệ.

5. Tự luận
• 1 điểm

Tại sao quân Nam Hán lại đem quân sang nước ta?

Xem đáp án

Quân Nam Hán đem quân sang nước ta vì Kiều Công Tiễn đã sai sứ sang cầu cứu vua Nam Hán khi nghe tin Ngô Quyền kéo quân ra hỏi tội.

6. Tự luận
• 1 điểm
Ngô Quyền đã nghĩ ra mưu kế gì để tiêu diệt đại quân Nam Hán?
Xem đáp án

Để tiêu diệt đại quân Nam Hán, Ngô Quyền đã nghĩ ra mưu kế cắm cọc gỗ đầu nhọn xuống nơi hiểm yếu của sông Bạch Đằng, khi thủy triều rút cọc sẽ đâm thủng thuyền giặc.

7. Tự luận
• 1 điểm
Kế hoạch đánh giặc của Ngô Quyền chủ động và độc đáo ở điểm nào?
Xem đáp án

Kế hoạch đánh giặc của Ngô Quyền vừa chủ động, vừa độc đáo:

- Ngô Quyền đã rất sáng suốt trong việc phân tích tình hình địch - ta để chủ động bày binh bố trận, lấy điểm mạnh (sức quân ta đang khỏe, thông thuộc vị trí, địa hình) làm lợi thế, dùng mưu kế để phá vỡ điểm mạnh (nhiều chiến thuyền) của kẻ thù.

- Mưu kế của Ngô Quyền vô cùng độc đáo, thông minh, tài trí. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, quân ta dưới sự chỉ huy và tài thao lược của Ngô Quyền đã biết dùng cọc lớn vạt nhọn, đầu bịt sắt, đóng xuống nơi hiểm yếu trước cửa biển, lợi dụng thủy triều lên - xuống của tự nhiên để bày thế trận lừa dụ quân địch.

8. Tự luận
• 1 điểm

Việc sử dụng các biệt ngữ xã hội “ vua, vương, quân sĩ” trong văn bản trên có tác dụng gì?

Xem đáp án

Tác dụng của việc sử dụng các biệt ngữ xã hội “ vua, vương, quân sĩ” trong văn bản trên: Đây là những biệt ngữ xã hội trong xã hội phong kiến xưa, giúp người đọc hình dung, phân biệt vai vế của các nhân vật, từ đó tạo nên sự gần gũi, dễ hiểu, tăng sức biểu cảm cho tác phẩm.

9. Tự luận
• 1 điểm

Qua câu chuyện trên, em thấy Ngô Quyền là người như thế nào?

Xem đáp án

Qua câu chuyện trên, cảm nhận của em về nhân vật Ngô Quyền:

- Ngô Quyền là người dũng cảm, chính trực. Nghe tin Kiều Công Tiễn giết cha vợ, ông lập tức kéo quân về hỏi tội.

- Ngô Quyền là người sáng suốt, quyết đoán. Nghe tin giặc kéo sang, ông lập tức họp các tướng, phân tích chính xác tình hình địch - ta và tổ chức đánh giặc.

- Ngô Quyền là người túc trí đa mưu, có tài thao lược. Với mưu kế của mình, Ngô Quyền đã chỉ huy tướng sĩ đánh bại kẻ thù xâm lược.

=> Ngô Quyền xứng đáng là vị vua uy phong, nhà quân sự lớn, anh hùng dân tộc, người mở ra kỉ nguyên độc lập cho dân tộc ta sau thời gian dài bị quân xâm lược phương Bắc đô hộ.

10. Tự luận
• 1 điểm

Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

Xem đáp án

Bài học rút ra từ câu chuyện trên:

- Bài học về lòng dũng cảm, quyết đoán, thao lược trong chiến đấu. Đối với những kẻ thù mạnh hơn, chúng ta cần suy xét mọi khả năng để xây dựng mưu trí vừa đánh đuổi được quân thù, vừa bảo toàn quân ta, ít gây tổn thất nhất.

Đoạn văn

Đọc kĩ bài thơ và trả lời câu hỏi dưới đây:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái

Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

(Thu vịnh - Nguyễn Khuyến)

11. Tự luận
• 1 điểm

Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Xem đáp án

Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ:

- Biểu cảm: Cảm xúc buồn, day dứt của Nguyễn Khuyến.

- Miêu tả: Cảnh bầu trời, mặt nước, bóng trăng, hoa, tiếng ngỗng.

12. Tự luận
• 1 điểm

Tìm trong bài thơ những hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Nhận xét về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ.

Xem đáp án

- Những hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong bài thơ: Trời thu xanh ngắt, cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu, nước biếc, bóng trăng, hoa, tiếng (ngỗng).

- Nhận xét bức tranh thiên nhiên được miêu tả: Đó là một bức tranh đẹp và buồn. Bức tranh ngày thu, cảnh vật hiện lên trong trẻo, sống động, đầy màu sắc, âm thanh hài hòa, thanh tịnh, nhẹ nhàng đậm chất thu. Nhưng ẩn sâu bên trong lại là nỗi buồn của lòng người. Cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng bởi người ngắm cảnh đang chất chứa biết bao suy tư trong đáy mắt.

13. Tự luận
• 1 điểm

Xác định biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ sau, nêu tác dụng:

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Xem đáp án

- Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ:

+ So sánh: “nước biếc như tầng khói phủ”

+ Đối: nước biếc > < song thưa; tầng khói phủ > < bóng trăng vào

- Tác dụng: hai biện pháp được sử dụng góp phần tạo ấn tượng mạnh về bức tranh thiên nhiên đẹp nên thơ, huyền ảo; từ đó nhằm tăng tính gợi hình, tạo sự cân đối, nhịp nhàng cho lời thơ.

14. Tự luận
• 1 điểm

Xác định đề tài của bài thơ? Nhận xét về đề tài mà nhà thơ lựa chọn?

Xem đáp án

- Đề tài của bài thơ: Đề tài mùa thu

- Nhận xét: Nhà thơ đã lựa chọn một đề tài quen thuộc trong thơ ca mọi thời đại, nhưng thơ Nguyễn Khuyến vẫn luôn có nét đặc trưng, cá tính riêng không hề bị trộn lẫn.

15. Tự luận
• 1 điểm
Em hiểu như thế nào về nhan đề “Thu vịnh”?
Xem đáp án

Ý nghĩa nhan đề “Thu vịnh”: Bài thơ vịnh về mùa thu (làm thơ về mùa thu), cũng có thể hiểu là mùa thu làm thơ (làm thơ trong ngày trời thu).

16. Tự luận
• 1 điểm
Cảm nhận về tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong bài thơ.
Xem đáp án

Tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong bài thơ:

- Cảnh thu hiện lên đẹp trong trẻo, thanh bình nhưng ẩn sâu bên trong là nỗi niềm buồn hiu hắt, chất chứa trong lòng người ngắm cảnh. Người buồn nên giọng điệu thơ cũng man mác, suy tư. Mỗi dòng thơ hiện lên với bao suy tư, trăn trở của Nguyễn Khuyến trước cuộc đời, thời thế. Nhà thơ xót xa trước thời cuộc, trước cảnh ngộ đất nước. Nguyễn Khuyến gửi vào những áng thơ thu nỗi day dứt vì chưa giúp gì được đất nước, hổ thẹn trước chí khí của Đào Tiềm.

=> Dù cáo quan về ở ẩn, tâm hồn Nguyễn Khuyến vẫn trĩu nặng tình đời, tình người. Nỗi buồn nhân thế là một nỗi buồn đẹp của một tâm hồn vẫn chưa phó mặc cuộc đời cho con tạo vần xoay. Bài thơ tỏa sáng vẻ đẹp của tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước của Nguyễn Khuyến.

17. Tự luận
• 1 điểm
Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến thể hiện trong bài thơ.
Xem đáp án

Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến thể hiện trong bài thơ:

- Nguyễn Khuyến là người có tình yêu thiên nhiên đắm say, mãnh liệt. Yêu thiên nhiên, ông cảm nhận thiên nhiên bằng mọi giác quan và thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mùa thu bằng những vần thơ đẹp, giàu hình ảnh, đậm cảm xúc của một tâm hồn nhạy cảm.

- Yêu thiên nhiên chính là yêu quê hương, đất nước - đây là vẻ đẹp xuất hiện trong hầu hết các bài thơ của Nguyễn Khuyến. Tình yêu quê hương đất nước trong bài thơ nói riêng và trong thơ Nguyễn Khuyến nói chung không ồn ào, phô trương mà lặng lẽ, sâu sắc, mãnh liệt.

- Nguyễn Khuyến có một tâm hồn nhạy cảm, nhiều suy tư, những suy tư ấy là suy tư về thời cuộc, về đất nước. Mang nặng niềm suy tư ấy, ông ngắm cảnh, làm thơ mà vẫn nghĩ về đất nước, nhân dân. Nên cái "thẹn" cuối bài thơ là nỗi then của một con người luôn cảm thấy day dứt vì không có được danh khiết như bậc danh nhân xưa, không giúp ích được gì cho nhân dân, đất nước. Đó là nỗi thẹn của con người có nhân cách.

Đoạn văn

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

BÁNH TRÔI NƯỚC

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Hồ Xuân Hương

18. Tự luận
• 1 điểm

Bài thơ trên làm theo thể thơ gì?

Xem đáp án

- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

19. Tự luận
• 1 điểm

Tìm cặp từ trái nghĩa trong bài thơ?

Xem đáp án

Cặp từ trái nghĩa trong bài thơ: nổi - chìm; rắn - nát

20. Tự luận
• 1 điểm

Tìm 2 quan hệ từ có trong bài thơ trên.

Xem đáp án

Hai quan hệ từ trong bài thơ: mặc dầu; mà

21. Tự luận
• 1 điểm

Nêu nội dung bài thơ.

Xem đáp án

Nội dung bài thơ: Bài thơ nói về người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hình ảnh bánh trôi nước, một món ăn dân tộc. Bằng ngôn ngữ bình dị, dân gian, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bài thơ biểu lộ niềm tự hào trước vẻ đẹp hình thức và nhân cách của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời cũng nói lên tiếng lòng thương cảm đối với những bất công của số phận, thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

22. Tự luận
• 1 điểm

Đặc điểm của thể thơ mà em vừa tìm được ở câu 1.

Xem đáp án

Đặc điểm của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật:

- Có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ.

- Bốn câu trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo thứ tự là các câu khai, thừa, chuyển và hợp.

- Các câu 1, 2, 4 hoặc chỉ các câu 2, 4 sẽ hiệp vần với nhau ở chữ cuối.

- Nhịp thơ thường ngắt nhịp chẵn trước, lẻ sau, nhịp 4/3.

23. Tự luận
• 1 điểm

Nêu tác dụng của cặp từ trái nghĩa trong bài thơ.

Xem đáp án

Tác dụng của cặp từ trái nghĩa trong bài thơ:

- Cặp từ trái nghĩa nổi - chìm trong cụm “bảy nổi ba chìm”: thể hiện cuộc sống bấp bênh, vô định, thăng trầm đầy biến động của người phụ nữ xã hội cũ.

- Cặp từ trái nghĩa rắn - nát: thể hiện cuộc sống người phụ nữ trong xã hội phong kiến không thể tự quyết định cuộc đời mình, phải sống phụ thuộc, nay thế này, mai thế khác.

24. Tự luận
• 1 điểm

Tác dụng của việc sử dụng thành ngữ trong bài thơ trên.

Xem đáp án

Tác dụng của việc sử dụng thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” trong bài thơ: Mượn hình ảnh bánh trôi nước để ẩn dụ, nhấn mạnh cho số phận bấp bênh, chìm nổi, vất vả nhiều bề, không biết trôi dạt về đâu của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

25. Tự luận
• 1 điểm
Từ bài thơ, em suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa và nay.
Xem đáp án

Suy nghĩ của em về thân phận của người phụ nữ xưa và nay:

- Người phụ nữ xưa trong xã hội phong kiến:

+ Họ là những người vẻ đẹp cả về nhan sắc bên ngoài và nội tâm bên trong. Nhan sắc của họ thanh thuần, phúc hậu; nội tâm của họ thuần khiết, mặn mà, thủy chung.

+ Nhưng số phận của họ lại chìm nổi, lênh đênh, lận đận nhiều bề như những chiếc bánh trôi nước. Họ không có quyền tự quyết định số phận mình, không có tiếng nói trong xã hội. Cuộc sống của họ sướng hay khổ đề phải phụ thuộc vào người khác và sự may rủi.

+ Nhưng dù số phận có bất công, họ vẫn luôn giữ tấm lòng thủy chung son sắt với những phẩm chất tốt đẹp.

- Người phụ nữ trong xã hội ngày nay:

+ Trong một xã hội công bằng hơn, bình đẳng hơn, người phụ nữ có quyền tự do lựa chọn phong cách sống. Mỗi người đều mang những vẻ đẹp, cá tính riêng.

+ Họ được sống là chính mình, có nhiều quyền lợi, bình đẳng với nam giới, không bị phụ thuộc vào ai, được xã hội tôn trọng và bảo vệ, tự lập về tài chính,…

+ Người phụ nữ được tự quyết định, làm chủ cuộc đời mình và làm những gì mình muốn, họ góp phần làm đa dạng và phong phú cuộc sống sắc màu.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ

Đã bấy lâu nay, bác tới nhà

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây ta với ta!

(Nguyễn Khuyến)

26. Tự luận
• 1 điểm
"Bạn đến chơi nhà" thuộc thể thơ gì?
Xem đáp án

- Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.

27. Tự luận
• 1 điểm

Bài thơ sử dụng luật nào? Cách ngắt nhịp của bài thơ?

Xem đáp án

- Bài thơ sử dụng luật trắc.

- Cách ngắt nhịp: 4/3

28. Tự luận
• 1 điểm

Biện pháp nghệ thuật nổi bật được tác giả sử dụng trong bài thơ?

Xem đáp án

- Biện pháp nghệ thuật nổi bật được tác giả sử dụng trong bài thơ: liệt kê; đối, nói quá.

29. Tự luận
• 1 điểm

Từ câu thơ thứ hai đến câu sáu, tác giả nói về sự thiếu thốn về vật chất nhằm mục đích gì?

Xem đáp án

Từ câu thơ thứ hai đến câu sáu, mục đích tác giả nói về sự thiếu thốn về vật chất là: Tác giả dùng lối nói hóm hỉnh, phép liệt kê sự thiếu thốn về vật chất nhằm nhấn mạnh tình cảm chân thành, sâu sắc, không câu nệ vật chất của những người bạn già với nhau. Họ đến với nhau bằng tấm lòng, bằng tình cảm dạt dào, đong đầy; cuộc sống dù đạm bạc, thiếu thốn nhưng vẫn đầy lạc quan, yêu đời

30. Tự luận
• 1 điểm
Nhận xét về tình bạn của Nguyễn Khuyến trong bài thơ "Bạn đến chơi nhà"?
Xem đáp án

Nhận xét về tình bạn của Nguyễn Khuyến trong bài thơ "Bạn đến chơi nhà": Đó là một tình bạn cao đẹp giữa hai người tri kỷ. Họ thấu hiểu tâm hồn, họ đến với nhau với tình cảm chân thành, sâu sắc, không màng đến của cải, vật chất. Đó là thứ tình cảm cao quý, tình bạn đáng ngưỡng mộ, cảm phục, vượt lên trên những vật chất tầm thường.

31. Tự luận
• 1 điểm
Qua bài thơ, em cảm nhận như thế nào về cuộc sống của Nguyễn Khuyến?
Xem đáp án

Qua bài thơ, cuộc sống của Nguyễn Khuyến hiện lên vừa đạm bạc, đơn sơ, cũng vừa lạc quan, yêu đời, tận hưởng niềm vui vầy tri kỉ. Cuộc sống hàng ngày thiếu thốn về vật chất nhưng nhà thơ không hề buồn thương, cô độc mà vẫn luôn giữ tinh thần vui vẻ, yêu cuộc sống, có bên cạnh những người bạn tâm giao tri kỉ. Cuộc sống của Nguyễn Khuyến yên bình, bỏ lại bộn bề của xã hội để trở về với những vui thú, tận hưởng từng khoảnh khắc.

32. Tự luận
• 1 điểm
Bài học mà em rút ra cho mình trong cuộc sống sau khi đọc bài thơ này là gì?
Xem đáp án

Bài học mà em rút ra cho mình trong cuộc sống sau khi đọc bài thơ này:

- Tình bạn chân thành đúng nghĩa là giữa hai tâm hồn đồng điệu, tri kỉ; đến với nhau bằng tình cảm trong sáng, mộc mạc không vụ lợi, không màng của cải, vật chất, vinh hoa phú quý.

- Phong cách sống tận hưởng những điều đẹp đẽ, bình dị trong cuộc sống thường ngày, trân trọng từng phút giây được sống, yêu quý những điều giản đơn thay vì chạy theo những điều phù phiếm, mơ mộng.

33. Tự luận
• 1 điểm
Em hãy viết bài văn kể lại một chuyến đi (tham quan một di tích, lịch sử, văn hóa).
Xem đáp án

Cuộc sống của con người luôn cần có những chuyến đi để tích lũy thêm nhiều trải nghiệm và những kiến thức bổ ích để làm giàu có hơn vốn sống của bản thân. Đặc biệt, chuyến đi tham quan các di tích lịch sử, văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, văn hóa của quê hương, đất nước. Trong dịp hè vừa qua, tôi cũng đã có một chuyến đi quý giá như vậy. Địa điểm tôi đã được đến thăm và lưu giữ rất nhiều kỉ niệm đẹp là Bảo tàng dân tộc học Việt Nam.

Một chiều chủ nhật tháng bảy, tôi cùng chị đã bắt xe buýt đến địa chỉ tham quan. Sáng sớm, tôi thức dậy từ sáu giờ để chuẩn bị. Tôi ăn sáng thật nhanh, chọn một trang phục phù hợp. Mọi thứ đều thuận lợi bởi dường như lòng tôi đang háo hức lắm. Sau đó, tôi và chị gái đã ra bến xe buýt để bắt xe. Chúng tôi di chuyển mất khoảng ba mươi phút. Xe buýt đỗ gần cổng bảo tàng. Tôi đứng đợi chị mua vé, rồi cùng chị đi vào theo sự hướng dẫn của bác bảo vệ.

Bước qua cánh cổng bảo tàng, tôi nhìn thấy một khối nhà mái vòm rất lớn. Phía trên có in một dòng chữ bằng đá rất nổi bật: “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”. Bảo tàng được chia làm ba khu trưng bày chính: tòa nhà Trống Đồng, khu trưng bày ngoài trời (Vườn Kiến trúc) và tòa Cánh diều (khu trưng bày Đông Nam Á). Chúng tôi lần lượt tham quan các khu trưng bày. Đầu tiên là tòa nhà Trống Đồng là nơi trưng bày, giới thiệu bản sắc năm mươi tư dân tộc. Tại đây có nhiều hiện vật, thước phim và hình ảnh miêu tả đời sống sinh hoạt, trang phục, y phục, nông cụ và tôn giáo tín ngưỡng cũng như các tục lệ của đồng bào dân tộc.

Sau khi ra khỏi tòa nhà Trống Đồng, tôi nhìn thấy một khoảng sân lớn, đó là khu trưng bày ngoài trời. Tôi đã được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo của người nhiều dân tộc nhà rông của người Ba-na, nhà sàn dài của người Ê-đê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người H'mông, nhà ngói của người Việt, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ tập thể của người Giarai và nhà mồ cá nhân của người Cơtu… Tại đây, chúng tôi còn chụp khá nhiều bức ảnh với những ngôi nhà.

Điểm tham quan cuối cùng là khu trưng bày Đông Nam Á. Tòa nhà này gồm có bốn tầng được mô phỏng theo hình Cánh diều. Nơi đây thường trưng bày về các văn hóa ngoài Việt Nam (Văn hóa Đông Nam Á, Tranh kính Indonesia, Một thoáng châu Á và Vòng quanh thế giới)...; ngoài ra còn có hội trường, phòng chiếu phim, phòng đa phương tiện. Tôi đã được hiểu thêm về văn hóa của các nước trên thế giới.

Kết thúc một buổi sáng, tôi và chị gái đã có thêm nhiều kiến thức bổ ích. Chuyến tham quan diễn ra suôn sẻ và tốt đẹp. Tôi đã có thật nhiều kỉ niệm đẹp và những kiến thức về lịch sử, văn hóa của các dân tộc anh em trên mọi miền Tổ quốc. Tôi mong rằng sẽ có thêm nhiều chuyến đi hơn nữa để những trải nghiệm tươi đẹp như vậy sẽ được kéo dài theo năm tháng.

34. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn phân tích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Xem đáp án

Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại, những dòng thơ của Hồ Xuân Hương lại mang giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một trong những bài thơ quen thuộc và nổi tiếng nhất, thể hiện rõ phong cách thơ của bà.

Toàn bài thơ là một hình ảnh tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổi, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình.Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hóa cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

Ngay trong câu thơ đầu, tác giả đã chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm của chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. “Thân em”là lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá và đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ “vừa... lại vừa” phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó.

Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn:

“Bảy nổi ba chìm với nước non”

Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy?

Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu:

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác, mặc cho người ta đưa đẩy, vùi dập. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại:

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để, đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ "Mặc dù... mà em vẫn giữ..." chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một "nhãn từ" (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ.

Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Có thể nói “Bánh trôi nước” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiếng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.

35. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn phân tích bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Xem đáp án

Là vị chủ tịch giàu tâm hồn thơ, Bác Hồ thường dùng ngòi bút ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và bày tỏ lòng yêu nước trước vận mệnh của đất nước. “Cảnh khuya” là một trong những bài thơ hay tiêu biểu của Bác, được viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc - căn cứ địa Cách mạng trong thời chống Pháp.

Chiến khu Việt Bắc - đó là đầu não của cuộc kháng chiến chống xâm lược, là nơi chỉ đạo đấu tranh của Cách mạng. Nhưng không phải vì vậy mà Việt Bắc chỉ trang nghiêm và bận rộn vì những hội nghị quan trọng của trung ương. Đến với Việt Bắc trước hết là đến với núi rừng, với thiên nhiên hoang sơ nhưng rất hào phóng tạo ra những cảnh đẹp diệu kì. Hơn ai hết, Bác của chúng ta hiểu điều đó, và vì vậy trong cảnh khuya, người đã thể hiện một Việt Bắc đẹp như tranh vẽ:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”

Giữa đêm rừng Việt Bắc thanh vắng, tiếng suối ở đâu róc rách, rì rào... Lúc ấy, tiếng suối ngân vang trong trẻo như chiếm lĩnh cả không gian rừng khuya yên vắng. Hai thanh trắc (tiếng suối) đến hai thanh bằng (trong thơ) rồi lại tiếp tục như vậy (tiếng hát), câu thơ đầu trong "Cảnh khuya" dường như mang cả âm thanh bổng trầm của tiếng suối chảy. Tiếng suối trong đêm ấy là Bác liên tưởng mới lạ của Bác liên tưởng đến âm thanh gì? Đó chẳng phải là cung đàn đơn lẻ, mà đối với Bác, âm thanh trong ngần ấy như "tiếng hát xa". Lạ lùng làm sao, nhưng chính liên tưởng mới lạ của Bác đã giúp ta hiểu được rằng dù Việt Bắc có gian lao đến đâu, những tiếng suối - tiếng hát của rừng núi của các chiến sĩ đồng bào luôn vang xa trong đêm vắng, trong trẻo lạc quan... Âm thanh trong thơ Bác không lẻ loi như tiếng đàn cầm trong thơ Nguyễn Trãi mà vang lên như có sức sống, đầy vui tươi. Trong tiếng vang róc rách, thiên nhiên như phô bày hết vẻ đẹp trong sáng của mình: "Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa". Hình ảnh "Trăng lồng cổ thụ" mang nét truyền thống của thơ cổ, khi kết hợp với hoa, hình ảnh ấy đã tạo nên vẻ đẹp đầm ấm, quấn quýt của thiên nhiên. Hai từ "lồng" liên kết ba sự vật xa nhau, khác hẳn nhau nhưng không tại tương phản mà dường như chúng hòa quyện lại, vẻ đẹp tôn nét đẹp kia vẽ nên một bức tranh trong sáng. Đọc câu thơ, ta có cảm giác như đang lạc vào chốn tiên, tận hưởng những đường nét, ánh sáng diệu kì mà thiên nhiên Việt Bắc vẽ nên, và ta còn có cảm giác tiếng suối cũng bay bổng, quấn quýt với hình ảnh "Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa". Cảnh vật trong thơ Bác sao mà thân thiết với nhau đến thế! Mỗi nét đều nâng vẻ đẹp của nét khác nên, cái tĩnh hòa vào cái động, cái động làm nổi bật cái tĩnh, mảng sáng chén mảng tối tạo thành một tổng thể hoàn hảo lạ lùng.. Đâu phải ai cũng nhìn thấy điều ấy. Bác đã nghe và ngắm cảnh vật Việt Bắc trong đêm khuya bởi Bác thức cùng Việt Bắc.

“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”

Câu thứ ba trong bài thất ngôn tứ tuyệt là một câu chuyển, Ở đây, nhà thơ đã tạo ra một hình thức chuyển tiếp mới giữa những ý thơ rất uyển chuyển, độc đáo. "Cảnh khuya như vẽ..." - Với bốn chữ đầu câu này, Bác muốn nói gì? Cảnh vật như được vẽ nên hay cảnh vật muốn vẽ nên cái gì đó ngoài vẻ đẹp đẹp của chính mình? Có lẽ điều đó không quan trọng, bởi vì chúng ta có bao nhiêu cách hiểu về những ý thơ "gợi mở" của Bác. Điều quan trọng là câu thơ chuyển từ tả cảnh sang tả tình. "Người chưa ngủ" trong một cảnh khuya tuyệt vời đến như vậy phải chăng chỉ là để cùng sống với thiên nhiên? Câu trả lời đến thật đơn giản nhưng mang bản sắc riêng của vị lãnh tụ kháng chiến cao cả: "Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà". Hai từ "chưa ngủ" được lặp lại một lần nữa , nối tiếng và nhấn mạnh cho câu thơ trên. Cảnh khuya đẹp thật đấy, và con mắt bác đã thu hết cảnh vật ấy vào tâm hồn của mình, nhưng trong lòng bác còn có một nỗi niềm thao thức lớn - đó là "nỗi nước nhà", là vận mệnh của cả dân tộc, là cuộc chiến đấu còn vô vàn thử thách gian lao. Dấu ngã trong từ "nỗi" có một cái gì đó như day dứt, trăn trở kéo dài, và tuy không xoáy vào tâm trí ta như dấu hỏi nhưng nó cũng thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt dìu dặt, trong hình ảnh quấn quýt đầm ấm của đêm rừng Việt Bắc, nỗi thao thức của người như lớn dần lên, ngày càng day dứt không nguôi.

Tấm lòng Người dành cho đất nước là như vậy. Những gì thuộc về tổ quốc đã trở thành nỗi lo, thành tình thương của Bác. Bác bày tỏ lòng mình trong "Cảnh khuya", như muốn nói: cảnh vật thiên nhiên của chúng ta diệu kì như vậy đấy, và chính vì vẻ đẹp của núi rừng càng làm cho niềm thao thức của người lớn hơn, canh cánh bên lòng - làm sao để gìn giữ vẻ đẹp ấy, làm sao để giang sơn mãi bình yên như bức tranh Việt Bắc trong đêm? Nỗi lo không làm cho những vần thơ tả cảnh mất đi nét đẹp lung linh trong sáng - điều đó thể hiện con người bác, tâm hồn thơ và tâm hồn lãnh tụ luôn hòa hợp.

"Cảnh khuya" là một trong những bài thơ hay nhất nói về Việt Bắc và là một trong những bài thể hiện tâm tư của Bác rõ ràng, sâu sắc nhất. Chỉ trong một bài thơ ngắn nét truyền thống và nét hiện đại song hành với nhau, mang rất đậm phong cách thơ Hồ Chí Minh.Có lẽ, ai đã từng một lần đến Việt Bắc sẽ cảm nhận bài thơ đầy đủ hơn, nhưng dù ta có đến đấy hay không, "Cảnh khuya" cũng vẫn giúp ta hình dung rõ cảnh vật Việt Bắc và hiểu được tấm lòng của Bác kính yêu trong những năm đầu kháng chiến gian nan. Bài thơ là một thành công lớn cả về nghệ thuật lẫn nội dung và chắc chắn sẽ ghi đậm dấu ấn trong mỗi người chúng ra về cái đẹp trong sáng của thiên nhiên Việt Bắc, về tấm lòng cao cả của vị lãnh tụ của dân tộc ta.