Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có đáp án

A
Admin
VănLớp 838 lượt thi
45 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Bảo kính cảnh giới bài 31

Chân mềm ngại bước dặm mây xanh(1),

Quê cũ tìm về cảnh cũ thanh.

Hương cách gác vân(2) thu lạnh lạnh,

Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh.

Ơn tư(3) là ấy yêu dường chúa,

Lỗi thác(4) vì nơi luỵ bởi danh.

Bui có(5) một niềm trung hiếu cũ,

Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh(6).

(Nguồn: Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)

(1) Dặm mây xanh: dịch chữ “dặm thanh vân”, chỉ con đường làm quan, con đường công danh

(2) Gác vân: dịch “vân các, vân đài, vân thự”, chỉ nơi chứa sách có để cỏ vân, một loại cỏ thơm trừ được mọt hại sách. Cũng chỉ nơi làm việc văn thư.

(3) Ơn tư: tức “ân tứ” (ơn của vua ban cho)

(4)  Lỗi thác: lỗi lầm, sai lầm

(5) Bui có: chỉ có, duy có

(6)  Nẻo ba canh: lúc canh ba ( nửa đêm)

1. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ trên được làm theo thể thơ nào ?

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Thể thơ song thất lục bát

Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật xen câu lục ngôn

Xem đáp án

Đáp án B. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Hai câu thơ đầu cho ta biết nhân vật trữ tình đã có lựa chọn gì trong cuộc đời?

Từ chối hoạn lộ, công danh để về ở ẩn nơi quê cũ.

Vì nợ công danh nên không thể về quê cũ.

Chọn lối sống thoát tục chốn mây xanh.

Từ giã quê cũ ra đi để trả nợ công danh.

Xem đáp án
D. Từ giã quê cũ ra đi để trả nợ công danh.
3. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào nêu đúng các từ láy trong bài thơ?

Thanh thanh, chênh chênh

Lạnh lạnh, xanh xanh

Lạnh lạnh, chênh chênh

Dặm dặm, chênh chênh

Xem đáp án

Đáp án C. Lạnh lạnh, chênh chênh

4. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nghệ thuật đối được thể hiện ở những cặp câu thơ nào?

Cặp câu 1 – 2 và 7 – 8

Cặp câu 1 – 2 và 3 – 4

Cặp câu 3 – 4 và 5 – 6

Cặp câu 5 – 6 và 7 – 8

Xem đáp án

Đáp án C. Cặp câu 3 – 4 và 5 – 6

5. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Những điều gì khiến nhân vật trữ tình thấy nuối tiếc vì đã cố công theo đuổi?

Con đường ẩn dật và lối sống thoát tục tu tiên.

Cuộc đời làm quan để hưởng lộc vua ban và lối sống thoát tục tu tiên.

Từ chối lợi danh, ẩn thân nơi quê cũ.

Cuộc đời làm quan để hưởng lộc vua ban và lối sống lụy danh.

Xem đáp án

Đáp án D. Cuộc đời làm quan để hưởng lộc vua ban và lối sống lụy danh

6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Điều gì khiến nhân vật trữ tình dành trọn vẹn cuộc đời và trăn trở hằng đêm?

Nợ công danh

Niềm trung hiếu

Ơn chúa

Thiên nhiên

Xem đáp án

Đáp án B. Niềm trung hiếu

7. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Trở về quê cũ, nhân vật trữ tình có cuộc sống ra sao?

Gắn bó, hòa hợp cùng thiên nhiên trong sự thanh thản của một ẩn sĩ.

An nhàn hưởng lộc vua ban, không vướng bận sự đời.

Ngồi hưởng lộc vua ban mà vẫn luôn canh cánh nợ công danh.

Gắn bó, hòa hợp cùng thiên nhiên nhưng vẫn luôn canh cánh niềm trung hiếu.

Xem đáp án

Đáp án D. Gắn bó, hòa hợp cùng thiên nhiên nhưng vẫn luôn canh cánh niềm trung hiếu.

8. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Chữ cũ trong câu thơ Bui có một niềm trung hiếu cũ cho người đọc hiểu như thế nào về niềm trung hiếu của nhân vật trữ tình?

Niềm trung hiếu đã sẵn có trong tâm tưởng nhân vật trữ tình từ xưa và không bao giờ bị mài mòn hay đổi thay.

Niềm trung hiếu đã cũ không còn phù hợp với thời đại bây giờ.

Tâm tư nhân vật trữ tình vẫn còn vương sót lại những dấu tích củaniềm trung hiếu cũ.

Niềm trung hiếu mang những đặc điểm của tư tưởng Nho giáo truyền thống xưa cũ.

Xem đáp án

Đáp án A. Niềm trung hiếu đã sẵn có trong tâm tưởng nhân vật trữ tình từ xưa và không bao giờ bị mài mòn hay đổi thay

9. Tự luận
• 1 điểm
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ này?
Xem đáp án

Cảm nhận về hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ:

- Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ: Hương của cỏ thơm, khí lạnh của mùa thu, thuyền nơi bãi tuyết, bóng trăng chênh chênh

- Đây đều là những hình ảnh ước lệ quen thuộc trong thơ xưa.

- Tuy nhiên, khi vào thơ Nguyễn Trãi, chúng không gợi sự cao sang, xa cách mà ngược lại trở nên gần gũi, thân thiết.

10. Tự luận
• 1 điểm
Anh/ Chị nhận xét như thế nào về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình?
Xem đáp án

Nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình:- Một tâm hồn trong sạch, thanh cao, luôn muốn lánh đục về trong, xa rời danh lợi.

- Một tâm hồn yêu mến cuộc sống thanh sơ, đạm bạc, gắn bó hòa hợp cùng thiên nhiên.

- Một tấc lòng trung hiếu với nước với dân.

Đoạn văn

HAI KIỂU ÁO

Có ông quan lớn đến hiệu may để may một cái áo thật sang tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi quan trên, hách dịch với dân, người thợ may bèn hỏi:

- Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?

Quan lớn ngạc nhiên:

- Nhà ngươi biết để làm gì?

Người thợ may đáp:

- Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại.

Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo:

- Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.

(Theo Trương Chính - Phong Châu)

11. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Truyện “Hai kiểu áo” thuộc thể loại nào?

Truyện cười

Truyện đồng thoại

Truyện cổ tích

Truyện ngụ ngôn.

Xem đáp án

Đáp án A. Truyện cười

12. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Truyện “Hai kiểu áo” nhằm châm biếm nhân vật nào?

Người thợ may

Ông quan lớn

Người thợ may và ông quan lớn

Nhân vật vắng mặt

Xem đáp án

Đáp án B. Ông quan lớn

13. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trong các câu sau câu nào có thán từ?

Nhà ngươi biết để làm gì?

Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa.

Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo.

Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.

Xem đáp án

Đáp án B. Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa.

14. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nội dung được đề cập trong câu chuyện trên nhằm mục đích gì?

Mua vui, giải trí

Phê phán sự coi thường của người dân đối với quan

Phê phán thói hư, tật xấu của quan lại

Phê phán thói keo kiệt, bủn xỉn của quan

Xem đáp án

 Đáp án C. Phê phán thói hư, tật xấu của quan lại

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Em hiểu thế nào về nghĩa của từ “hách dịch”?

Thể hiện thái độ hòa nhã, coi trọng của cấp dưới đối với cấp trên

Thể hiện thái độ ưu ái, quan tâm đến của cấp trên đối với cấp dưới

Thể hiện thái độ ra oai, hạch sách người khác do cậy mình có quyền thế

Thể hiện thái độ nhân nhượng của cấp trên đối với cấp dưới

Xem đáp án

Đáp án C. Thể hiện thái độ ra oai, hạch sách người khác do cậy mình có quyền thế.

16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nội dung nghĩa hàm ẩn trong câu “Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại.” là gì?

Khi gặp quan trên, ngài sẽ luồn cúi, nên vạt trước chùng lại. Khi gặp quan dưới, vị quan này là người vênh váo, hách dịch nên vạt sau sẽ hớt lên.

Khi gặp người lớn tuổi, ngài sẽ luồn cúi, nên vạt trước chùng lại. Khi gặp dân, vị quan này là người vênh váo, hách dịch nên vạt sau sẽ hớt lên.

Khi gặp quan trên, ngài sẽ luồn cúi, nên vạt trước chùng lại. Khi gặp người nhỏ tuổi hơn mình , vị quan này là người vênh váo, hách dịch nên vạt sau sẽ hớt lên.

Khi gặp quan trên, ngài sẽ luồn cúi, nên vạt trước chùng lại. Khi gặp dân, vị quan này là người vênh váo, hách dịch nên vạt sau sẽ hớt lên.

Xem đáp án

Đáp án D. Khi gặp quan trên, ngài sẽ luồn cúi, nên vạt trước chùng lại. Khi gặp dân, vị quan này là người vênh váo, hách dịch nên vạt sau sẽ hớ

17. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Chi tiết người thợ may hỏi quan lớn may chiếc áo này để tiếp ai có ý nghĩa gì?

Có ý nịnh nọt quan để được thưởng

Có ý để quan may thêm một cái áo nữa

Thể hiện thái độ kính trọng đối với quan

Mỉa mai ông quan luôn hách dịch với nhân dân và nịnh nọt quan trên

Xem đáp án

Đáp án D. Mỉa mai ông  quan luôn hách dịch với nhân dân và nịnh nọt quan

18. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Ông quan trong câu chuyện là người như thế nào?

Tính cách hèn hạ đối với cấp trên và hách dịch đối với kẻ dưới

Đối xử không công bằng với kẻ dưới

Hay nịnh nọt cấp trên

Khinh ghét người nghèo khổ

Xem đáp án

Đáp án A. Tính cách hèn hạ đối với cấp trên và hách dịch đối với kẻ dưới

19. Tự luận
• 1 điểm

Qua truyện “Hai kiểu áo”, tác giả dân gian đã phê phán kiểu người nào trong xã hội bấy giờ?

Xem đáp án

Qua truyện “Hai kiểu áo”, tác giả dân gian phê phán kiểu người trong xã hội bấy giờ:

- Một số quan lại luôn tìm cách xu nịnh, luồn lách để được thăng tiến, vơ vét của cải của dân lành về làm giàu cho mình.

- Thói khinh bỉ, bắt nạt, coi thường những người dân đen nghèo khổ.

20. Tự luận
• 1 điểm
Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ truyện “Hai kiểu áo”.
Xem đáp án

Bài học rút ra từ truyện:

- Nên có thái độ (phê phán, lên án,…) với những ông quan chuyên đi đối xử tồi tệ với dân.

- Chúng ta nên có thái độ hòa nhã với tất cả mọi người chứ không nên phân biệt đối xử.

Đoạn văn

THU ẨM

Nguyễn Khuyến

Năm gian nhà cỏ thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè.

21. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ trên thuộc thể thơ nào?

Thất ngôn bát cú đường luật

Thất ngôn tứ tuyệt đường luật

Thất ngôn trường thiên

Thất ngôn xen lục ngôn

Xem đáp án

 Đáp án A. Thất ngôn bát cú đường luật

22. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ Uống rượu mùa thu mang những đặc điểm của thơ Thất ngôn bát cú Đường luật trên các phương diện nào?

Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 tiếng

Gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

Các tiếng 2 – 4 – 6 của câu 1 và 8, câu 2 và 3, câu 4 và 5, câu 6 và 7 cùng phối thanh B – T – B; hoặc T – B – T.

Cả A, B, C

Xem đáp án

Đáp án D. Cả A, B, C

23. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong 2 câu thực và 2 câu luận là:

Phép đảo ngữ có tác dụng tô đậm vẻ đẹp của cảnh mùa thu;

Phép đối có tác dụng tô đậm vẻ đẹp của cảnh thu, nỗi lòng của thi nhân và khiến lời thơ thêm cân xứng, hài hòa.

Sử dụng câu hỏi tu từ với đại từ “ai” nhấn mạnh màu xanh của bầu trời

Biện pháp nghệ thuật nói quá “da trời ai nhuộm”, “xanh ngắt” nhấn mạnh màu xanh của bầu trời.

Xem đáp án

Đáp án B. Phép đối có tác dụng tô đậm vẻ đẹp của cảnh thu, nỗi lòng của thi nhân và khiến lời thơ thêm cân xứng, hài hòa.

24. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Những hình ảnh nào đồng thời xuất hiện xả trong bài thơ Thu ẩm và Thu điếu?

Ngõ, ao, khói;

Nhà, ao, trăng;

Ao, trời, ngõ;

Thuyền, khói, mây.

Xem đáp án

Đáp án C. Ao, trời, ngõ;

25. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Tâm trạng của nhà thơ được thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nào?

Hình ảnh “đôi mắt”;

Hình ảnh “đêm sâu”;

Hình ảnh “khói nhạt”;

Hình ảnh “rượu”.

Xem đáp án

 Đáp án A. Hình ảnh “đôi mắt”

26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Qua sự miêu tả của Nguyễn Khuyến, hình ảnh làng quê trong Thu ẩm hiện lên như thế nào?

Kì vĩ, tráng lệ;

Thanh bình, yên ả;

Nghèo đói, xác xơ;

Tiêu điều, hiu hắt.

Xem đáp án

 Đáp án B. Thanh bình, yên ả

27. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hình ảnh đôi mắt của Nguyễn Khuyến biểu đạt điều gì?

Sự thờ ơ không chú tâm vào việc uống rượu;

Nỗi buồn ngưng đọng thành nước mắt;

Sự mệt mỏi, đau yếu của tuổi già;

Sự tác động của men rượu.

Xem đáp án

 Đáp án B. Nỗi buồn ngưng đọng thành nước mắt

28. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bút pháp nào được Nguyễn Khuyến sử dụng trong bài thơ trên?

Bút pháp ước lệ tượng trưng

Bút pháp cổ điển

Bút pháp tả cảnh ngụ tình

Cả 3 đáp án trên

Xem đáp án

 Đáp án C. Bút pháp tả cảnh ngụ tình

29. Tự luận
• 1 điểm

Hãy xác định biện pháp tu từ trong hai dòng thơ và nêu hiệu quả biểu đạt của chúng?

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Xem đáp án

- Biện pháp tu từ: so sánh “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”

- Tác dụng: thể hiện quan sát và cảm nhận của thi sĩ rất tinh tế: sương thu như màu khói nhạt phủ quanh lưng giậu. Bóng trăng soi trên mặt ao lăn tăn gợn sóng, lúc tụ lại, lúc tản ra, tạo cảm giác là bóng trăng loe.

30. Tự luận
• 1 điểm

Bài thơ bồi đắp tình cảm gì với quê hương của mình? Hãy trình bày trong khoảng 5-7 dòng.

Xem đáp án

Bài thơ gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh quê hương, gắn với những gì bình dị nhất. Đó là những hình ảnh hết sức thân thuộc mà gần gũi. Từng câu thơ như khơi dậy cảm xúc nhớ quê hương trong tâm trí của những người con xa quê. Quê hương là nơi con người gắn bó, là điểm tựa tinh thần, là nơi nâng đỡ những bước chân đầu tiên của con người trong cuộc hành trình vạn dặm.

Đoạn văn

QUẢ BÍ KHỔNG LỒ

Hai anh chàng đi qua một khu vườn trồng bí. Một anh thấy quả bí to, kêu lên:

 - Chà, quả bí kia to thật!

Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng:

- Thế thì đã lấy gì làm to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều. Có một lần, tôi tận mắt trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà đằng kia kìa.

Anh kia nói ngay:

- Thế thì đã lấy gì làm lạ. Tôi còn nhớ, một bận tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cái đình làng ta.

Anh nói khoác ngạc nhiên hỏi:

 - Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to vậy?

Anh kia giải thích:

- Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà.

Anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình bèn nói lảng sang chuyện khác.

31. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Văn bản trên thuộc thể loại?

Truyện truyền thuyết

Thơ cổ tích

Truyện ngụ ngôn

Truyện cười

Xem đáp án

Đáp án D. Truyện cười

32. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?

Miêu tả

Tự sự

Biểu cảm

Nghị luận

Xem đáp án

Đáp án B. Tự sự

33. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Văn bản trên sử dụng ngôi kể nào?

Ngôi kể thứ nhất

Ngôi kể thứ hai

Ngôi kể thứ ba

Ngôi kể thứ nhất và thứ ba.

Xem đáp án

Đáp án C. Ngôi kể thứ ba

34. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Trong các câu sau đây câu nào sử dụng cách nói hàm ẩn?

Chà, quả bí kia to thật!

Thế thì đã lấy gì làm to.

Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to vậy?

Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà.

Xem đáp án

Đáp án D. Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà.

35. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Chỉ ra thán từ được sử dụng trong câu “ Chà, quả bí kia to thật!”

Chà

Quả bí

Kia

Thật

Xem đáp án

 Đáp án A. Chà

36. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Câu chuyện trên đang phê phán, châm biếm nhân vật nào?

Người bạn

Anh nói khoác

Cả hai anh chàng

Nhân dân ta

Xem đáp án

Đáp án B. Anh nói khoác

37. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu trả lời “Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà” nhằm mục đích gì?

Nói cho vui.

Phê phán tính khoe khoang của người bạn.

Chế nhạo châm biếm anh nói khoác.

Phê phán tính kêu căng của anh bạn.

Xem đáp án

Đáp án C. Chế nhạo châm biếm anh nói khoác.

38. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Văn bản trên muốn phê phán, châm biếm điều gì?

Phê phán tính nói khoác , nói không đúng sự thật.

Phê phán tính khoe khoang.

Phê phán tính keo kiệt, hà tiện.

Phê phán tính kêu căng.

Xem đáp án

Đáp án A. Phê phán tính nói khoác , nói không đúng sự thật.

39. Tự luận
• 1 điểm

Anh nói khoác có hiểu ẩn ý trong câu nói của người bạn mình không? Chi tiết nào cho thấy điều đó ?

Xem đáp án

- Anh nói khoác có hiểu ẩn ý trong câu nói của người bạn.

- Chi tiết cho thấy điều đó: “Anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình bèn nói lảng sang chuyện khác.”

40. Tự luận
• 1 điểm
Từ câu chuyện trên em rút ra được bài học gì trong cuộc sống?
Xem đáp án

Bài học trong cuộc sống rút ra từ câu chuyện:

- Không nên nói khoác.

- Hãy nói những điều đúng sự thật.

41. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn kể lại một chuyến đi hay hoạt động xã hội đã để lại cho bản thân nhiều ấn tượng.

Xem đáp án

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cuộc đời là những chuyến đi”. Chúng ta đi để nối dài những trải nghiệm. Và tôi cũng có một chuyến đi đáng nhớ.

Chuyến đi của tôi diễn ra trong ba ngày hai đem. Điểm đến là bãi biển Cửa Lò - một địa điểm du lịch khá nổi tiếng. Chuyến xe khởi hành từ năm giờ sáng ngày chủ nhật. Tối thứ bảy, tôi đi ngủ thật sớm. Sáng hôm sau, cả nhà phải dậy từ bốn giờ để chuẩn bị. Bốn giờ ba mươi là xe đã đến đón. Cùng đi với gia đình tôi còn có gia đình của bác Hòa, bác Hùng. Hai bác là anh trai của bố tôi. Lên xe, tôi tranh thủ ngủ thêm vì trời còn tối. Xe đi mất nửa ngày mới đến nơi. Khoảng mười hai giờ trưa, xe đã đến nơi. Chúng tôi được nhận phòng, nghỉ ngơi và ăn trưa.

Năm giờ chiều, nắng đã dịu hơn. Tôi cùng mọi người ra tắm biển. Trước mắt tôi chính là bãi biển Cửa Lò rộng mênh mông. Gió biển lồng lộng. Tiếng sóng vỗ ào ạt. Bãi cát vàng trải dài. Bãi biển lúc này khá đông người. Người lớn thì tắm biển. Còn trẻ em thì xây lâu đài cát, hoặc nghịch nước. Tôi cùng các anh chị vui đùa trên bãi cát, nghịch nước biển mát lạnh.

Khoảng sáu giờ chiều, mặt trời bắt đầu lặn dần. Hoàng hôn trên biển thật huy hoàng và kỳ vĩ. Tôi ngồi trên bãi cát trắng ngắm cảnh mặt trời lặn. Mặt trời lúc này giống như một quả cầu đang rực đỏ. Mặt trời lớn lắm, lớn hơn rất nhiều lần so với mặt trời của thành phố. Biển đẹp nhất có lẽ về ban đêm. Khi ánh nắng cuối ngày tắt hẳn, nhường chỗ cho bầu trời đêm đầy sao. Không khí lúc này cũng dễ chịu, mát mẻ hơn. Mọi người vào một nhà hàng cạnh bờ biển. Chúng tôi đã được thưởng thức rất nhiều món ăn ngon. Tôi thích nhất là được ăn những món hải sản. Ăn xong, chúng tôi còn đi dạo quanh bãi biển. Gió biển thổi mát rượi. Rất nhiều người ngồi trên bờ biển để trò chuyện, uống nước.

Mười một giờ, mọi người mới trở về khách sạn để tắm giặt và nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, tôi còn được bố mẹ dẫn đi thăm các địa danh nổi tiếng ở Cửa Lò như đảo Hòn Ngư, chùa Lô Sơn, đảo Lan Châu… Chúng tôi còn được đi chợ mua rất nhiều quà để mang về nữa. Tôi cũng chụp được khá nhiều tấm ảnh rất đẹp.

Chuyến đi giúp tôi có thêm kỉ niệm đẹp đẽ cùng với người thân. Tôi mong rằng gia đình của mình sẽ có thêm nhiều chuyến đi như vậy hơn.

42. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật).

Xem đáp án

Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ còn qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà.

Tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang trong một buổi chiều tà:

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. Nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo Ngang. Tiếp đến câu thơ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo Ngang. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. Vẻ đẹp thiên nhiên của đèo Ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

Và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh con người. Nghệ thuật đảo ngữ “lom khom - tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Và “lác đác - chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Thiên nhiên mới là trung tâm trong bức tranh đèo Ngang.

Thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo:

“Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia”

Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Việc sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng.

Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông). Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:

“Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta"

Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta”:

“Đầu trò tiếp khách trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta”

Trong “Bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ - chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn - khách đến chơi. Từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. Qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, cụm từ “ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. Sự cô đơn ấy dường như chẳng thể có ai cùng chia sẻ.

Như vậy, Qua đèo Ngang đã thể hiện được tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh đèo Ngang hoang sơ. Bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc.

43. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn nghị luận về vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với tương lai đất nước.

Xem đáp án

Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ ngay nay với tương lai đất nước dân tộc.

Tuổi trẻ là những công dân ở lứa thành niên, thanh niên… là thế hệ măng đã sắp thành tre, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội. Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước.

Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ.

Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nòng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc.

Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường đại học, đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.

Mỗi người chúng ta cũng đi qua thời tuổi trẻ - tuổi của sức mạnh phi thường, của cái tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Sức mạnh vô song của tuổi trẻ “sông kia phải chuyển, núi kia phải dời”. Chúng ta chỉ có một lần trong đời là tuổi trẻ vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước.

Việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Chẳng lẽ chúng ta để cho những cụ già đi khuân vác, lao động nặng, những phụ nữ phải ngày đêm làm việc trong các nhà xưởng đầy khói bụi, những trẻ em phải phụ giúp gia đình ngay còn nhỏ mà “quên” đi việc học hành, lúc đó chúng ta sẽ “làm” gì? Chẳng lẽ ngồi không như một “người bị liệt”. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nước như lời dặn của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, thì Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Sinh ra ở đời ai cũng khao khát được sống hạnh phúc, sung sướng. Mỗi người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay nói đúng hơn là lý tưởng sống. Là chủ nhân tương lai thì chúng ta phải xác định cho mình lý tưởng sống phù hợp, đúng đắn. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta lại đứng trước một câu hỏi lớn: “Sống như thế nào là đúng đắn là có ích cho xã hội?”. Vì lý tưởng sống của chúng ta là động lực thúc đẩy đất nước phát triển.

Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xông pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời kì kháng chiến. Những người con đất nước như: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám… đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Đây là những thanh niên của hơn 40 năm trước còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

Chúng ta nên biết một điều: những thế hệ trước đã dâng hiến xương máu để ngày sau độc lập thì chúng ta phải biết “cùng nhau giữ nước” và nối tiếp, kế thừa truyền thống cao đẹp đó. Và một điều quan trọng là các bạn đừng nghĩ đó là nghĩa vụ để rồi miễn cưỡng thực hiện. Chúng ta phải hiểu rằng: được sinh ra là một hạnh phúc và sống tự do, no đủ là một món quà quý báu, vô giá mà quê hương xã hội đã ban tặng. Hạnh phúc không tự nhiên mà có mà đó xương máu, tâm huyết của biết bao người con của đất nước. Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, suy nghĩ riêng. Chúng ta không được bác bỏ, phủ nhận quá khứ hay công sức của những anh hùng dân tộc. Đơn giản là vì mỗi thế hệ đều có sứ mệnh riêng, nhận thức riêng mà chúng ta không nên so bì, tính toán. Vì vậy: “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ” (như tổng bí thư Đỗ Mười nói).

Nhưng tuổi trẻ chúng ta có điều kiện gì để xây dựng đất nước? Vâng, đó chính là học tập. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói đến việc học hành... Trong cuộc sống ta gặp không ít trường hợp xem việc học là việc khổ sai chỉ do cha mẹ, thầy cô thúc ép, chứ không ham học. Họ xem đi học như một hình thức giải khuây cho vui nên không cần học tập, coi học tập là một nỗi nhọc nhằn. Có người lại coi việc học là để ứng phó với đời, để không xấu hổ với mọi người, để có “bằng cấp” mà hãnh diện với đời, dù đó chỉ là “hàng giả” mà thực lực không làm được. Chúng chẳng những không đưa nước ta “sánh kịp với cường quốc năm châu” mà còn đưa nước ta về lạc hậu, lụi bại.

Cách duy nhất là phải học chân chính, học bằng khả năng của mình. Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, lèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ quốc. Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nữa, học mãi. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để chúng ta dễ dàng tiếp cận tri thức thì tương lai dân tộc mới xán lạn, lấp lánh hào quang.

Tóm lại, tuổi trẻ là người sẽ quyết định tương lai đất nước sau này. Tuổi trẻ nước ta đầy rẫy nhân tài sẽ góp phần cho dáng hình xứ sở. Ngay từ hôm nay, tôi, bạn và tất cả mọi người phải cố gắng học tập để sau này có thể giúp nước ta tiến nhanh trên con đường xây dựng và phát triển nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

44. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng).

Xem đáp án

Nhà thơ Tú Xương nổi tiếng với các tác phẩm trào phúng. Một trong số đó có thể kể đến bài thơ Thương vợ.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong số những bài thơ của Tú Xương viết về bà Tú. Tác giả đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ tần tảo, nhẫn nhục và giàu đức hy sinh. Nhà thơ đã đứng ở khía cạnh của một người chồng - một người đàn ông để bày tỏ niềm cảm thông với những người phụ nữ:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Bốn câu thơ đầu đã giới thiệu về công việc của bà Tú. “Buôn bán” vốn là công việc vô cùng vất vả, không lúc nào được nghỉ ngơi. Cụm từ “quanh năm” gợi ra rằng công việc này diễn ra hằng ngày, lặp lại hết năm này đến năm khác. Bà Tú tần tảo sớm hôm để “nuôi đủ năm con với một chồng” - việc tách riêng “một chồng” dường như thể hiện được một hoàn cảnh thật éo le. Người chồng đáng ra phải là người chèo chống để nuôi cả gia đình. Vậy mà ở đây, người vợ phải một mình mưu sinh nuôi chồng nuôi con. Điều này làm bộc lộ nên tiếng cười mỉa mai, chua xót của chính tác gỉa. Họ không chỉ phải chịu đựng những ràng buộc phong kiến, không thể kêu ca, than thở mà chỉ biết im lặng chấp nhận, chịu đựng qua từng ngày: “Năm nắng mười mưa chẳng quản công”.

Đến hai câu thơ cuối cùng đọc lên giống như là một lời tự vấn của chính nhà thơ:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”.

Tiếng “cha mẹ” vang lên sao mà chua xót, là tiếng chửi thói đời đấy mà cũng giống như một lời tự trách bản thân vô dụng để rồi khiến người vợ của mình phải chịu đựng khổ cực.

Qua bài thơ này, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh bà Tú cũng chính là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa: những con người tần tảo, chịu khó và giàu đức hy sinh.

45. Tự luận
• 1 điểm
Viết bài văn nghị luận về thói quen hút thuốc lá hiện nay.
Xem đáp án

Chúng ta không khó để bắt gặp người hút thuốc lá trong cuộc sống thường ngày. Mặc dù biết rõ những tác hại to lớn mà thuốc lá mang lại, tuy nhiên con người vẫn không ngưng việc sử dụng loại chất hại này.

Hiện nay, tình trạng hút thuốc lá đang diễn ra phổ biến và tràn lan, người sử dụng thuốc lá thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, chủ yếu là nam giới và cũng có nhiều trường hợp là nữ giới. Một vấn nạn đau đầu nữa của thuốc lá mà chúng ta phải kể đến chính là việc hút thuốc lá của các bạn học sinh: Nhiều cô cậu tuy còn đang ở độ tuổi vị thành niên nhưng trên tay và miệng phì phèo điếu thuốc, thậm chí có những bé trai chưa đến mười tuổi nhưng đã tập tành hút thuốc. Khói thuốc thật sự đã xâm nhập và len lỏi vào không gian trường học.

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hút thuốc lá này đầu tiên là do ý thức của con người, do thói quen sử dụng khó bỏ cũng như hạn chế trong hiểu biết về tác hại của thuốc lá. Bên cạnh đó, thuốc lá có chất nicotin gây nghiện khiến người có thói quen hút thuốc khó bỏ, không hút sẽ cảm thấy khó chịu. Hút thuốc lá có nhiều tác hại to lớn đối với con người. Trong thuốc lá có chứa nhiều chất độc hại dẫn đến rất nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư vòm họng và ung thư phổi. Việc nghiện thuốc lá còn gây tốn kém về tiền của cũng như góp phần làm ô nhiễm môi trường do khói thuốc, tàn thuốc gây ra.

Thuốc lá không chỉ tác động xấu đến sức khỏe của người trực tiếp sử dụng nó mà khí còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những người xung quanh: Người hít phải khí thuốc sẽ có ảnh hưởng như người sử dụng và nguy hại nhất là khi phụ nữ mang thai, trẻ em, người già hít phải khói thuốc. Để hạn chế tối đa tình trạng hút thuốc lá của con người, trước hết mỗi người cần tự nâng cao nhận thức của bản thân về những tác hại mà thuốc lá mang đến.

Bên cạnh đó, nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền cần có nhiều biện pháp nghiêm khắc hơn nữa để hạn chế tình trạng hút thuốc lá của người dân. Cả nước cùng chung ta đẩy lùi tình trạng nghiện thuốc lá sẽ mang lại những hiệu quả to lớn. Vì một tương lai, vì một môi trường xanh - sạch - đẹp, hãy dừng sử dụng thuốc lá từ hôm nay.