
Bài tập Vận dụng dấu hiệu chia hết để giải quyết các bài toán thực tế lớp 6 (có lời giải)
25 câu hỏi
Có một đội không đủ 9 học sinh;
Không có đội nào đủ 9 học sinh;
Tất cả các đội đều có đủ 9 học sinh;
Có hai đội không đủ 9 học sinh.
Đáp án đúng là: C
Xét số 108 có tổng các chữ số là: 1 + 0 + 8 = 9 chia hết cho 9 nên 108 chia hết cho 9. Vậy khi chi thành các đội và mỗi đội 9 học sinh thì tất cả các đội đều có đủ 9 học sinh.
29;
30;
28;
27.
Đáp án đúng là: B
Gọi số người của đội cổ vũ là x người (\[26 \le x \le 31,x \in \mathbb{N}\])
Vì tiết mục nhảy theo cặp (hai người một cặp), số đội của người cổ vũ xếp vừa hết nên x chia hết cho 2.
Lại có khi biểu diễn theo nhóm, mỗi nhóm 5 người thì vừa hết số người nên x chia hết cho 5.
Mà với \[26 \le x \le 31,x \in N\] và x cùng chia hết cho 2 và 5 nên x = 30.
Vậy số người của đội cổ vũ là 30 người.
360;
315;
345;
304.
Đáp án đúng là: A
Vì tổng học sinh khối 6 của một trường Trung học cơ sở là một số có 3 chữ số và có chữ số hằng trăm là 3 nên ta gọi số học sinh khối 6 cần tìm là \[\overline {3ab} \].
Vì xếp thành 5 hàng ngag hay 9 hàng ngang thì đều vừa đủ học sinh nên \[\overline {3ab} \]cùng chia hết cho 5 và 9.
Xét \[\overline {3ab} \]. Vì \[\overline {3ab} \] chia hết cho 5 nên b có thể bằng 0 hoặc 5.
Trường hợp 1: b = 0 ta có số \[\overline {3a0} \]có tổng các chữ số 3 + a + 0 = 3 + a. Để \[\overline {3ab} \]chia hết cho 9 thì 3 + a chia hết cho 9. Vì a không phải là chữ số đầu tiên nên \[0 \le a \le 9,a \in N\],do đó a chỉ có thể bằng 6.
Trường hợp 2: b = 5 ta có số \[\overline {3a5} \]có tổng các chữ số 3 + a + 5 = 8 + a. Để \[\overline {3ab} \]chia hết cho 9 thì 8 + a chia hết cho 9. Vì a không phải là chữ số đầu tiên nên \[0 \le a \le 9,a \in N\], do đó a chỉ có thể bằng 1.
Suy ra số học sinh có thể là 360 hoặc 315. Mặt khác, số học sinh lớn hơn 320 nên số học sinh chỉ có thể là 360.
Cô văn thư tính đúng;
Cô văn thư tính sai;
Số quyển sách phải mua để phát thưởng là một số không chia hết cho 3;
Cả A; B; C đều sai.
Đáp án đúng là: B
Xét số học sinh tiến tiến 462 có tổng các chữ số 4 + 6 + 2 = 12 chia hết cho 3 nên 462 chia hết cho 3. Xét số học sinh xuất sắc 195 có tổng các chữ số 1 + 9 + 5 = 15 chia hết cho 3 nên 195 chia hết cho 3. Nên số vở phát cho số học sinh tiên tiến và số học sinh xuất sắc phải chia hết cho 3.
Mà 1996 có tổng các chữ số 1 + 9 + 9 + 6 = 25 không chia hết cho 3 nên cô văn thư đã tính sai.
Số USD bà A phải trả để mua 38 hộp sữa chia hết cho 9;
Số USD bà A phải trả để mua 38 hộp sữa chia hết cho 5;
Số USD bà A phải trả để mua 38 hộp sữa chia hết cho 3;
Số USD bà A phải trả để mua 38 hộp sữa chia hết cho 2.
Đáp án đúng là: D
Vì khách mua 5 hộp sữa được tặng 1 hộp nên nếu mua 30 hộp sữa thì được tặng 6 hộp.
Do đó khi muốn có 38 hộp sữa thì số tiền bà A phải trả chỉ là 31 hộp, hay số tiền bà A phải trả là: 32. 11 = 352 USD.
A sai vì 352 có tổng các chữ số là 3 + 5 + 2 = 10 không chia hết cho 9 nên 352 không chia hết cho 9.
B sai vì 352 có chữ số tận cùng là 2 nên 352 không chia hết cho 5.
C sai vì 352 có tổng các chữ số là 3 + 5 + 2 = 10 không chia hết cho 3 nên 352 không chia hết cho 3.
D đúng vì 352 có chữ số tận cùng là 2 nên 352 chia hết cho 2.
22;
26;
24;
28.
Đáp án đúng là: C
Gọi số nhãn vở của Minh là x chiếc. Vì Minh có số nhãn vở ít hơn 30 và nhiều hơn 20 chiếc nên \[20 < x < 30,x \in N\].
Vì nếu đem số nhãn vở đó chia đều cho hai bạn hoặc chia đều cho ba bạn thì cũng vừa hết nên x vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 3. Mà \[20 < x < 30,x \in N\], x chia hết cho 2 nên x có thể là 22; 24; 26; 28 và x chia hết cho 3 nên x có thể là 21; 24; 27 do đó x = 24.
Vậy số nhãn vở của Minh là 24 nhãn vở.
Cô bán hàng tính đúng;
Cô bán hàng tính sai;
Số tiền cô bán hàng đã nhận vừa chia hết cho 5 vừa chia hết cho 3;
Cả A; B; C đều sai.
Đáp án đúng là B
Vì mẹ mua 15 quyển vở và 3 cái bút mà 15; 3 đều chia hết cho 3 nên số tiền để mua 15 quyển vở và 3 cái bút cũng phải chia hết cho 3.
Ta lại có mẹ Xuân đưa cho cô bán hàng 3 tờ giấy bạc loại 50 000 đồng, cô bán hàng trả lại cho mẹ Xuân 40 000 đồng nên số tiền mẹ mua 15 quyển vở và 3 cái bút là
3. 50 000 – 40 000 = 110 000 đồng. Xét 110 000 có tổng các chữ số bằng
1 + 1 + 0 + 0 + 0 + 0 = 2 không chia hết cho 3, cũng không chia hết cho 9. Bởi vậy cô bán hàng đã tính sai.
90;
86;
87;
85.
Đáp án đúng là A
Gọi tổng số gà và số vịt của bác nông dân là x con (\[80 < x < 95,x \in N\])
Vì số gà gấp 4 lần số vịt nên tổng số gà và vịt chia hết cho 5, mặt khác nếu chia số gà và số vịt đó thành 9 chuồng thì vừa đủ nghĩa là tổng số gà và vịt chia hết cho 9.
Hay x vừa chia hết cho 5 và cho 9. Vì \[80 < x < 95,x \in N\]nên x = 90.
Vậy tổng số gà và số vịt là 90 con.
219;
416;
104;
148.
Đáp án đúng là: B
Tổng số cam và số chanh của cửa hàng đó là: 104 + 115 + 132 + 136 + 148 = 635 (quả).
Theo bài ra, số chanh gấp 4 lần số cam còn lại nên nếu coi số cam con lại là một phần bằng nhau thì số chanh chiếm 4 phần như thế. Vậy tổng số chanh và cam còn lại chiếm 5 phần như thế.
Mà tổng số cam và chanh của cửa hàng là 635, có chữ số tận cùng là 5 nên 635 chia hết 5, suy ra số cam đã bán phải chia hết cho 5. Trong 5 rổ chỉ có rổ chứa 115 quả là chia hết cho 5, nên cửa hàng đã bán rổ đựng 115 quả cam.
Tổng số chanh và cam còn lại là: 635 – 115 = 520 (quả)
Vậy số chanh của cửa hàng đó là: (520: 5). 4 = 416 (quả)
Cô kế toán tính sai;
Cô kế toán tính đúng;
Số lương phát cho cả công nhân tháng 7 không chia hết cho 3;
Số lương phát cho cả công nhân tháng 7 không chia hết cho 9.
Đáp án đúng là: A
Gọi số công nhân hưởng mức lương 3 600 000 đồng / tháng là a người, số công nhân hưởng mức lương 4 950 000 đồng / tháng là b người, số công nhân hưởng mức lương
6 750 000 đồng / tháng là c người.
Số lương phát cho cả công nhân tháng 7 là: 3 600 000. a + 4 950 000. b + 6 750 000. c.
Ta thấy 3 600 000 có tổng các chữ số là: 3 + 6 + 0 + 0 + 0 + 0 + 0 = 9 nên 3 600 000 chia hết cho 9, hay 3 600 000. a chia hết cho 9; 4 950 000 có tổng các chữ số là: 4 + 9 + 5 + 0 + 0 + 0 + 0 = 18 nên 4 950 000 chia hết cho 9, hay 4 950 000. b chia hết cho 9; 6 750 000 có tổng các chữ số là: 6 + 7 + 5 + 0 + 0 + 0 + 0 = 18 nên 6 750 000 chia hết cho 9, hay 6 750 000. c chia hết cho 9.
Mà tổng số lương phát cho công nhân bằng:3 600 000. a + 4 950 000. b + 6 750 000. c,
do đó số lương phát cho công nhân tháng 7 chia hết cho 9.
Mặt khác, 273 815 000 có tổng các chữ số là: 2 + 7 + 3+ 8 + 1 + 5 + 0 + 0 + 0 = 26 nên 273 815 000 không chia hết cho 9 cho nên cô kế toán tính sai.
34.
45.
52.
61.
Đáp án đúng là: B
Vì vở được đóng theo lốc 5 quyển, nên tổng số quyển vở mua được phải là một số chia hết cho 5.
Theo dấu hiệu chia hết, các số có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5 thì chia hết cho 5.
Trong các đáp án trên, chỉ có số 45 có tận cùng là 5 thỏa mãn.
125.
162.
200.
185.
Đáp án đúng là: B
Việc xếp hàng 9 người không thừa em nào chứng tỏ số học sinh khối 6 phải là một số chia hết cho 9. Các số có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì chia hết cho 9.
Ta xét tổng các chữ số của từng đáp án:
Đáp án A: 1 + 2 + 5 = 8 (không chia hết cho 9).
Đáp án B: 1 + 6 + 2 = 9 (chia hết cho 9).
Đáp án C: 2 + 0 + 0 = 2 (không chia hết cho 9).
Đáp án D: 1 + 8 + 5 = 14 (không chia hết cho 9).
Vậy số học sinh có thể là 162.
15 nghìn đồng.
20 nghìn đồng.
25 nghìn đồng.
27 nghìn đồng.
Đáp án đúng là: B
Giá của một chiếc bút bi là 2 nghìn đồng (chia hết cho 2) và giá cục tẩy là 4 nghìn đồng (chia hết cho 2).
Vì vậy, số tiền mua bút bi luôn là số chẵn và số tiền mua tẩy cũng luôn là số chẵn.
Vận dụng tính chất chia hết của một tổng, tổng hai số chẵn luôn là một số chia hết cho 2 (số chẵn). Trong các phương án, chỉ có 20 là số chẵn.
104 quả.
215 quả.
312 quả.
401 quả.
Đáp án đúng là: C
Để chia đều vào các giỏ 3 quả không bị dư, tổng số quả táo phải là một số chia hết cho 3. Các số có tổng các chữ số chia hết cho 3 thì chia hết cho 3.
Số 104 có tổng các chữ số là 1 + 0 + 4 = 5 (không chia hết cho 3).
Số 215 có tổng các chữ số là 2 + 1 + 5 = 8 (không chia hết cho 3).
Số 312 có tổng các chữ số là 3 + 1 + 2 = 6 (chia hết cho 3).
Số 401 có tổng các chữ số là 4 + 0 + 1 = 5 (không chia hết cho 3).
Do đó, số lượng táo có thể là 312 quả.
15.
20.
25.
32.
Đáp án đúng là: D
Số điểm cộng vào là 5 và số điểm trừ đi cũng là 5.
Do đó, điểm thực tế của người chơi ở mọi thời điểm luôn là một số chia hết cho 5.
Theo quy tắc, số chia hết cho 5 phải có tận cùng là 0 hoặc 5. Số 32 có tận cùng là 2 nên không chia hết cho 5, do đó tổng điểm không thể là 32.
Số lượng bánh luôn chia hết cho 5 dù chữ số a nhận bất kỳ giá trị nào.
Lớp 6A luôn chia đều được số bánh này vào các hộp 2 chiếc mà không bị dư.
Để có thể chia đều toàn bộ số bánh vào các hộp 9 chiếc, chữ số a bắt buộc phải là 3.
Với giá trị a tìm được ở ý c, nếu lớp 6A quyết định đóng gói toàn bộ bánh vào hộp 3 chiếc thì sẽ thu được đúng 40 hộp.
Đáp án: a) Đúng. b) Sai. c) Đúng. d) Sai.
a) Đúng. Số \[\overline {1a5} \] có chữ số tận cùng là 5.
Theo dấu hiệu chia hết, mọi số có tận cùng là 5 đều chia hết cho 5.
b) Sai. Để chia đều vào hộp 2 chiếc, số lượng bánh phải là một số chia hết cho 2.
Số \[\overline {1a5} \] có tận cùng là 5 (số lẻ) nên không bao giờ chia hết cho 2.
c) Đúng. Để chia đều vào hộp 9 chiếc, số \[\overline {1a5} \] phải chia hết cho 9.
Ta có tổng các chữ số là 1 + a + 5 = 6 + a.
Để 6 + a chia hết cho 9 thì chữ số a chỉ có thể bằng 3.
d) Sai. Với a = 3, tổng số bánh là 135.
Nếu đóng vào hộp 3 chiếc ta được số hộp là 135 : 3 = 45 (hộp).
Giá tiền của một vé người lớn là số chia hết cho 9.
Giá tiền của một vé trẻ em là số chia hết cho 9.
Tổng số tiền gia đình phải trả là một số chia hết cho 9.
Nhân viên soát vé yêu cầu gia đình trả tổng cộng 362 nghìn đồng. Nhân viên soát vé đã tính đúng số tiền cần thu của gia đình.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Đúng. d) Sai.
a) Đúng. Số 90 chia hết cho 9.
b) Đúng. Số 45 chia hết cho 9.
c) Đúng. Áp dụng tính chất chia hết của một tổng: số tiền mua vé người lớn chia hết cho 9 và số tiền mua vé trẻ em cũng chia hết cho 9, nên tổng số tiền cộng lại luôn chia hết cho 9.
d) Sai. Tổng số tiền nhân viên yêu cầu là 362.
Số này có tổng các chữ số là 3 + 6 + 2 = 11, không chia hết cho 9. Do đó nhân viên đã tính sai.
Số lượng cam \(\overline {1x0} \) luôn chia hết cho cả 2 và 5 với mọi giá trị của x.
Để bác nông dân có thể chia đều số cam này vào các túi 3 quả mà không thừa quả nào, chữ số x có thể nhận 3 giá trị.
Từ các giá trị của x tìm được ở câu b, nếu biết thêm bác nông dân đã dùng đúng 50 túi loại 3 quả để đựng vừa hết số cam, thì x bắt buộc phải là 2.
Với tổng số cam cụ thể tìm được ở câu c, bác nông dân có thể chia đều toàn bộ số cam vào các giỏ 9 quả mà không bị lẻ quả nào.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Sai.
a) Đúng. Số \(\overline {1x0} \) có chữ số tận cùng là 0, theo dấu hiệu chia hết thì nó luôn chia hết cho cả 2 và 5.
b) Đúng. Để chia đều vào túi 3 quả, số \(\overline {1x0} \) phải chia hết cho 3.
Tổng các chữ số là 1 + x + 0 = 1 + x.
Để \(\overline {1x0} \) chia hết cho 3 thì 1 + x chia hết cho 3.
Mà x là chữ số từ 0 đến 9 nên x ∈ {2; 5; 8}.
c) Sai. Nếu dùng 50 túi loại 3 quả thì tổng số cam thực tế là 50 ∙ 3 = 150 (quả).
Khi đó chữ số x phải là 5.
d) Sai. Số lượng cam tìm được ở câu c là 150 quả.
Số 150 có tổng các chữ số là 1 + 5 + 0 = 6, không chia hết cho 9.
Do đó bác nông dân không thể chia đều vào các giỏ 9 quả.
Có 5 giá trị của y thỏa mãn mã của nhân viên này chia hết cho 2.
Có 2 giá trị của y thỏa mãn yêu cầu đề bài.
Mã nhân viên cần tìm là số không chia hết cho 3.
Nếu tăng y thêm 5 đơn vị thì mã nhân viên mới chia hết cho 9.
Đáp án: a) Đúng. b) Sai. c) Đúng. d) Sai.
a) Đúng. Theo dấu hiệu chia hết cho 2, chữ số tận cùng y phải là các số chẵn, tức là y ∈ {0; 2; 4; 6; 8}.
b) Sai. Để mã số chia hết cho 5 thì y phải là 0 hoặc 5.
Kết hợp ý a, chỉ có duy nhất 1 giá trị là y = 0 thỏa mãn cả hai điều kiện chia hết cho 2 và 5.
c) Đúng. Theo ý b, ta có y = 0. Khi đó mã nhân viên là 2020.
Tổng các chữ số là 2 + 0 + 2 + 0 = 4, không chia hết cho 3.
d) Sai. Nếu y tăng thêm 5 đơn vị thì mã nhân viên mới là 2025, có tổng các chữ số là 9, chia hết cho 9.
Số điểm khách hàng được cộng thêm từ việc mua sữa chua và mua bánh trong lần này đều là các số chia hết cho 5.
Tổng số điểm khách hàng được cộng thêm trong lần thanh toán này chắc chắn là một số chia hết cho 5.
Nếu hóa đơn lần này khách hàng mua 2 gói bánh và 20 hộp sữa chua, số điểm khách hàng được cộng thêm là 135 điểm.
Nhìn vào tổng điểm 1042 (có chữ số tận cùng là 2), khách hàng khẳng định số điểm tích lũy từ trước phải là một số có chữ số tận cùng là 2.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Sai.
a) Đúng. Gọi số hộp sữa chua khách hàng mua lần này là x, số điểm nhận được là 5x. Biểu thức này chứa thừa số 5 nên luôn chia hết cho 5.
Gọi số gói bánh khách hàng mua lần này là y, số điểm nhận được là 15y. Vì 15 chia hết cho 5 nên tích 15y cũng luôn chia hết cho 5.
b) Đúng. Áp dụng tính chất chia hết của một tổng:
Vì số điểm cấu thành từ sữa chua (5x) chia hết cho 5 và số điểm từ bánh (15y) cũng chia hết cho 5, nên tổng số điểm cộng thêm của lần mua này (5x + 15y) luôn chia hết cho 5, bất kể khách hàng mua số lượng bao nhiêu.
c) Sai. Số điểm từ 2 gói bánh là: 2 . 15 = 30 (điểm).
Số điểm từ 20 hộp sữa chua là: 20 . 5 = 100 (điểm).
Tổng số điểm khách hàng được cộng thêm là: 30 + 100 = 130 (điểm).
Số 130 điểm này khác với mức 135 điểm mà mệnh đề đưa ra, nên khẳng định này là sai.
d) Sai. Theo ý b, tổng số điểm cộng thêm hôm nay là một số chia hết cho 5.
Theo dấu hiệu chia hết, số điểm cộng thêm này sẽ có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5.
Ta có: (Chữ số tận cùng của điểm cũ) + (Chữ số tận cùng của điểm cộng thêm) = (Chữ số tận cùng của tổng 1042 điểm).
⦁ Trường hợp 1: Nếu điểm cộng thêm có tận cùng là 0. Để tổng có tận cùng là 2, điểm cũ bắt buộc phải có tận cùng là 2 (vì 2 + 0 = 2).
⦁ Trường hợp 2: Nếu điểm cộng thêm có tận cùng là 5. Để tổng có tận cùng là 2, điểm cũ bắt buộc phải có tận cùng là 7 (vì 7 + 5 = 12, cho chữ số tận cùng là 2).
Như vậy, số điểm tích lũy từ trước của khách hàng hoàn toàn có thể mang chữ số tận cùng là 7. Việc khẳng định số điểm cũ phải là một số có chữ số tận cùng là 2 là một suy luận sai lầm.
Đáp án: 7.
Để số dạng \[\overline {4x7} \] chia hết cho 9 thì tổng các chữ số phải chia hết cho 9.
Tổng các chữ số là 4 + x + 7 = 11 + x.
Vì x là chữ số (từ 0 đến 9) nên 11 + x có giá trị từ 11 đến 20.
Số chia hết cho 9 trong khoảng này chỉ có 18. Do đó 11 + x = 18, suy ra x = 7.
Đáp án: 80.
Việc xếp hàng 2 và hàng 5 đều vừa đủ chứng tỏ số lượng thành viên chia hết cho cả 2 và 5.
Một số chia hết cho cả 2 và 5 khi nó có chữ số tận cùng là 0. Vậy y bằng 0.
Số thành viên của đội múa rồng là 80.
Đáp án: 9530.
Vì mật mã chia hết cho cả 2 và 5 nên chữ số tận cùng của nó bắt buộc phải là 0.
Để tạo được số tự nhiên lớn nhất, ta sẽ xếp ba chữ số còn lại là 3, 5, 9 theo thứ tự giảm dần từ trái qua phải (từ hàng nghìn đến hàng chục).
Đặt chữ số 9 ở hàng nghìn, chữ số 5 ở hàng trăm và chữ số 3 ở hàng chục. Ta được số 9530.
Đáp án: 180.
Số bút bi chia hết cho cả 2 và 5 nên chữ số tận cùng phải là 0.
Vì số bút bi lớn hơn 100 và nhỏ hơn 200 nên nó có ba chữ số mang dạng \(\overline {1b0} \).
Để số này chia hết cho 9, tổng các chữ số 1 + b + 0 = 1 + b phải chia hết cho 9.
Vì b là chữ số từ 0 đến 9 nên b = 8.
Số lượng bút bi là 180 chiếc.
Đáp án: 5.
Gọi số lượng học sinh trong nhóm là n (n là số tự nhiên lớn hơn 0).
Tổng số tiền nhóm học sinh phải trả được biểu diễn bằng tổng: 45n + 90 (nghìn đồng).
Ta xét từng số hạng của tổng: Vì 45 chia hết cho 9 nên tích 45n chắc chắn chia hết cho 9.
Số hạng còn lại là 90 cũng chia hết cho 9 (vì 90 = 9 . 10).
Áp dụng tính chất chia hết của một tổng, vì tất cả các số hạng đều chia hết cho 9 nên tổng số tiền (45n + 90) bắt buộc phải là một số chia hết cho 9.
Theo đề bài, tổng số tiền là số có dạng \(\overline {40a} \) nên theo dấu hiệu chia hết cho 9, tổng các chữ số của nó phải là một số chia hết cho 9.
Ta có tổng các chữ số là: 4 + 0 + a = 4 + a.
Vì a là chữ số nên a chỉ có thể nhận các giá trị từ 0 đến 9.
Khi đó, biểu thức 4 + a sẽ nằm trong khoảng từ 4 đến 13.
Số tự nhiên duy nhất nằm trong khoảng này mà chia hết cho 9 chính là 9.
Do đó, 4 + a = 9, suy ra a = 5.
(Thử lại: Tổng số tiền là 405 nghìn đồng. Số học sinh tham gia là (405 – 90) : 45 = 7 học sinh, là một con số hoàn toàn hợp lý với thực tế).
Bạn có thích hoạt động này không?
Hãy lưu hoặc chia sẻ nội dung này đến mọi người.






















