Giải VTH Toán 9 KNTT Luyện tập chung chương 6 có đáp án
8 câu hỏi
Biết rằng parabol y = ax2 (a ≠ 0) đi qua điểm \(A\left( {2;4\sqrt 3 } \right).\)
a) Tìm hệ số a và vẽ đồ thị của hàm số y = ax2 với a vừa tìm được.
b) Tìm tung độ của điểm thuộc parabol có hoành độ x = −1.
c) Tìm các điểm thuộc parabol có tung độ \(y = 5\sqrt 3 .\)
a) Parabol đi qua điểm \(A\left( {2;4\sqrt 3 } \right)\) nên ta có \(4\sqrt 3 = a{.2^2} = 4a\) suy ra \(a = \sqrt 3 .\)
Từ đó, vẽ được đồ thị của hàm số \(y = \sqrt 3 {x^2}\) như hình bên:

b) Tung độ của điểm thuộc parabol có hoành độ x = −1 là \(y = \sqrt 3 .\left( { - 1} \right) = - \sqrt 3 .\)
c) Tọa độ điểm thuộc parabol có tung độ \(y = 5\sqrt 3 \) thỏa mãn \(5\sqrt 3 = \sqrt 3 {x^2},\) hay x2 = 5, suy ra \(x = \sqrt 5 \) hoặc \(x = - \sqrt 5 .\)
Vậy có hai điểm cần tìm là \(\left( {\sqrt 5 ;5\sqrt 3 } \right)\) và \(\left( { - \sqrt 5 ;5\sqrt 3 } \right).\)
Công thức \(E = \frac{1}{2}m{v^2}\) (J) được dùng để tính động năng của một vật có khối lượng m (kg) khi chuyển động với vận tốc v (m/s) (theo Vật lí đại cương, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016).
a) Giả sử một quả bóng có khối lượng 2 kg đang bay với vận tốc 6 m/s. Tính động năng của quả bóng đó.
b) Giả sử động năng của quả bóng đang bay có khối lượng 1,5 kg là 48 J, hãy tính vận tốc bay của quả bóng đó.
a) Với m = 2 kg và v = 6 m/s, ta có: \(E = \frac{1}{2}{.2.6^2} = 36\) (J).
Vậy động năng của quả bóng là 36 J.
b) Với m = 1,5 kg và E = 48 J, ta có: \(48 = \frac{1}{2}.1,5.{v^2},\) suy ra v2 = 64 hay v = 8 (do v > 0). Vậy vận tốc bay của quả bóng là 8 m/s.
Cho hình chóp tam giác đều có đáy là tam giác đều cạnh a (cm) và chiều cao 10 cm.
a) Tính diện tích đáy S của hình chóp theo a.
b) Từ kết quả câu a, tính thể tích V của hình chóp theo a và tính giá trị của V khi a = 4 cm.
c) Nếu độ dài cạnh đáy giảm đi hai lần thì thể tích hình chóp thay đổi thế nào?
a) Áp dụng định lí Pythagore, ta tính được chiều cao của tam giác đều cạnh a là
\({h_1} = \sqrt {{a^2} - {{\left( {\frac{a}{2}} \right)}^2}} = \sqrt {\frac{{3{a^2}}}{4}} = \frac{{a\sqrt 3 }}{2}\) (cm).
Diện tích đáy S của hình chóp là \(S = \frac{1}{2}a.{h_1} = \frac{1}{2}a.\frac{{a\sqrt 3 }}{2} = \frac{{{a^2}\sqrt 3 }}{4}\) (cm2).
b) Thể tích của hình chóp tam giác đều là
\(V = \frac{1}{3}S.h = \frac{1}{3}.\frac{{{a^2}\sqrt 3 }}{4}.10 = \frac{{5\sqrt 3 }}{6}{a^2}\) (cm3).
c) Chiều cao mới của đáy là
\({h_{moi}} = \sqrt {{{\left( {\frac{a}{2}} \right)}^2} - {{\left( {\frac{a}{4}} \right)}^2}} = \sqrt {\frac{{{a^2}}}{4} - \frac{{{a^2}}}{{16}}} = \frac{{a\sqrt 3 }}{4}\) (cm).
Diện tích đáy mới là \({S_{moi}} = \frac{1}{2}.\frac{a}{2}.\frac{{a\sqrt 3 }}{4} = \frac{1}{4}.\frac{{{a^2}\sqrt 3 }}{4} = \frac{1}{4}{S_{cu}}.\)
Suy ra \({V_{moi}} = \frac{1}{3}{S_{moi}}.h = \frac{1}{3}.\frac{1}{4}{S_{cu}}.h = \frac{1}{4}{V_{cu}}.\)
Vậy nếu độ dài cạnh đáy giảm đi hai lần thì thể tích hình chóp giảm đi 4 lần.
Sử dụng công thức nghiệm hoặc công thức nghiệm thu gọn, giải các phương trình sau:
a) \({x^2} - 2\sqrt 5 x + 1 = 0;\)
b) 3x2 – 9x + 3 = 0;
c) 11x2 – 13x + 5 = 0;
d) \(2{x^2} + 2\sqrt 6 x + 3 = 0.\)
a) Ta có: \(\Delta ' = {\left( { - \sqrt 5 } \right)^2} - 1.1 = 4 > 0.\)
Áp dụng công thức nghiệm thu gọn, phương trình có hai nghiệm phân biệt:
\({x_1} = \sqrt 5 + 2,\)\({x_2} = \sqrt 5 - 2.\)
b) Ta có: \(\Delta = {\left( { - 9} \right)^2} - 4.3.3 = 45 > 0,\)\(\sqrt \Delta = 3\sqrt 5 .\)
Áp dụng công thức nghiệm, phương trình có hai nghiệm phân biệt:
\({x_1} = \frac{{9 + 3\sqrt 5 }}{6} = \frac{{3 + \sqrt 5 }}{2},\)\({x_2} = \frac{{9 - 3\sqrt 5 }}{6} = \frac{{3 - \sqrt 5 }}{2}.\)
c) Ta có: \(\Delta = {\left( { - 13} \right)^2} - 4.11.5 = - 51 < 0.\)
Do đó, phương trình vô nghiệm.
d) Ta có: \(\Delta ' = {\left( {\sqrt 6 } \right)^2} - 2.3 = 0.\)
Áp dụng công thức nghiệm thu gọn, phương trình có nghiệm kép:
\({x_1} = {x_2} = \frac{{ - \sqrt 6 }}{2}.\)
Sử dụng máy tính cầm tay, tìm nghiệm gần đúng các phương trình sau (làm tròn kết quả đến chữ số thập phân thứ hai):
a) \(\sqrt 2 {x^2} - \sqrt 5 x - 1 = 0;\)
b) \({x^2} - \left( {\sqrt 3 - 1} \right)x - \sqrt 7 = 0.\)
a) Sử dụng máy tính cầm tay, phương trình có hai nghiệm phân biệt:
\({x_1} \approx 1,94;\)\({x_2} \approx - 0,36.\)
b) Sử dụng máy tính cầm tay, phương trình có hai nghiệm phân biệt:
\({x_1} \approx 2,03;\)\({x_2} \approx - 1,3.\)
Từ một tấm tôn hình vuông, người ta cắt bỏ bốn hình vuông có độ dài cạnh 8 cm ở bốn góc, sau đó gập thành một chiếc thùng có dạng hình hộp chữ nhật không có nắp và có thể tích là 200 cm3. Hãy tính độ dài cạnh của tấm tôn hình vuông ban đầu.
Gọi độ dài cạnh của tấm tôn hình vuông ban đầu là x (cm). Điều kiện: x > 16.
Theo cách gập thì độ dài cạnh bên của chiếc thùng là 8 (cm) và độ dài hai cạnh đáy của chiếc thùng đều là x – 2.8 = x – 16 (cm).
Do đó, thể tích của chiếc thùng có dạng hình hộp chữ nhật là: 8.(x – 16)2 (cm3).
Do thể tích của hộp là 200 cm3 nên ta có phương trình:
8.(x – 16)2 = 200
(x – 16)2 = 25
x – 16 = 5 hoặc x – 16 = −5
x = 21 hoặc x = 11.
Vì điều kiện x > 16 nên ta chọn x = 21.
Vậy độ dài cạnh của tấm tôn hình vuông ban đầu là 21 cm.
Giả sử doanh thu (nghìn đồng) của một cửa hàng bán phở trong một ngày có thể mô hình hóa bằng công thức R(x) = x(220 – 4x) với 30 ≤ x ≤ 50, trong đó x (nghìn đồng) là giá tiền của một bát phở. Nếu muốn doanh thu trong ngày của cửa hàng là 3 triệu đồng thì giá bán của mỗi bát phở phải là bao nhiêu?
Đổi: 3 triệu đồng = 3 000 nghìn đồng.
Để doanh thu trong ngày của cửa hàng là 3 triệu đồng thì ta phải có:
x(220 – 4x) = 3000
4x2 – 220x + 3000 = 0
x = 30 hoặc x = 25.
Vì điều kiện 30 ≤ x ≤ 50 nên ta chọn x = 30.
Vậy muốn doanh thu trong ngày của cửa hàng là 3 triệu đồng thì giá bán của mỗi bát phở phải là 30 000 đồng.
Tìm điểm A (khác gốc tọa độ O) nằm trên đồ thị hàm số y = x2 sao cho khoảng cách từ điểm đó tới hai trục tọa độ là bằng nhau.
Điểm A(x0; y0) nằm trong mặt phẳng tọa độ Oxy có khoảng cách tới trục Ox và trục Oy lần lượt là \(\left| {{y_0}} \right|\) và \(\left| {{x_0}} \right|.\)
Khoảng cách từ điểm A(x0; y0) tới hai trục tọa độ bằng nhau khi \[\left| {{y_0}} \right| = \left| {{x_0}} \right|\] (1).
Do điểm A thuộc đồ thị hàm số đã cho nên ta có y0 = x02 (2).
Từ (1) ta xét hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: y0 = x0, từ (2) suy ra x02 = x0 hay x02 – x0 = 0.
Suy ra x0 = 0 (loại, vì khi đó A trùng với gốc O) hoặc x0 = 1 (thỏa mãn).
Khi đó, ta có điểm A1(1; 1).
Trường hợp 2: y0 = −x0, từ (2) suy ra x02 = −x0 hay x02 + x0 = 0.
Suy ra x0 = 0 (loại, vì khi đó A trùng với gốc O) hoặc x0 = −1 (thỏa mãn).
Khi đó, ta có điểm A2(−1; 1).
Vậy có hai điểm nằm trên đồ thị hàm số y = x2 có khoảng cách đến hai trục tọa độ là bằng nhau là A1(1; 1) và A2(−1; 1).

