Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 6 Cánh diều có đáp án
27 câu hỏi
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu nhau rồi trở thành vợ chồng, cùng chung sống trên cạn ở cung điện Long Trang.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng; trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần.
(Trích “Con Rồng, cháu Tiên”)
Truyện đồng thoại.
Truyện cổ tích.
Truyện truyền thuyết.
Truyện cười.
Vua Hùng và Lạc Long Quân.
Âu Cơ và Lạc Long Quân.
Âu Cơ và một trăm người con.
Lạc Long Quân và một trăm người con.
Đáp án B. Âu Cơ và Lạc Long Quân
Nhân hóa.
So sánh.
Ẩn dụ.
Điệp ngữ.
Đáp án B. So sánh
Âu Cơ và Lạc Long Quân chia con.
Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần
Âu Cơ và Lạc Long Quân nên duyên vợ chồng
Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm người con
Xinh xắn, đáng yêu.
Hồng hào, đẹp đẽ.
Trắng trẻo.
Lanh lợi, hoạt bát.
Đáp án B. Hồng hào, đẹp đẽ.
Ý nghĩa nổi bật của hình tượng “bọc trăm trứng” là gì?
Ca ngợi công lao sinh nở kì diệu của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Tình yêu quê hương, đất nước và niềm tự hào dân tộc.
Nhắc nhở mọi người, mọi dân tộc trên đất nước Việt Nam yêu thương nhau như người một nhà.
Sự kì diệu của bọc trăm trứng.
Đáp án C. Nhắc nhở mọi người, mọi dân tộc trên đất nước Việt Nam yêu thương nhau như người một nhà.
Từ “khôi ngô” được hiểu là?
Sáng sủa, thông minh.
Nhanh nhẹn.
Khỏe mạnh.
Chăm chỉ, chịu khó.
Đáp án A. Sáng sủa, thông minh
Thuyết minh
Nghị luận.
Miêu tả.
Tự sự.
Đáp án D. Tự sự
- Trong đoạn trích, chi tiết thể hiện sự sinh nở đầy kì lạ của nàng Âu Cơ là: “...nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng; trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường.”
- Chi tiết đã giải thích cho lí do người dân Việt Nam thường gọi nhau là “đồng bào”. Đồng bào nghĩa là cùng chung một bào thai, cùng chung một mẹ; nguồn gốc của con người Việt Nam là anh em ruột thịt. Từ đó thể hiện tinh thần đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau của dân tộc Việt Nam.
- Biện pháp tu từ so sánh: “tự lớn lên như thổi”; “khỏe mạnh như thần”.
- Tác dụng: Nhấn mạnh sự phi thường, kì lạ trong quá trình lớn lên; tầm vóc sánh tựa thần linh của những người con do Âu Cơ - Lạc Long Quân (tức dân tộc Việt Nam) sinh thành.
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“…Bên ngoài trời rất lạnh. Cô bé chỉ có mỗi một chiếc áo mỏng trên mình. Cô lẳng lặng bước đều trong gió rét. Vừa đi cô vừa lo cho mẹ. Cô đi mỏi chân mới đến gốc đa đầu rừng. Quả nhiên cô thấy trên bụi cây trước mặt có một bông hoa trắng rất đẹp. Cô ngắt bông hoa, tay nâng niu với tất cả tấm lòng tha thiết, cầu mong cho mẹ tai qua nạn khỏi. Bỗng cô nghe như văng vẳng bên tai tiếng cụ già tóc bạc ban nãy lại khuyên nhủ cô:
– Cháu hãy yên tâm, mỗi cánh hoa trên bông hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống thêm.
Cô bé cúi xuống nhìn hoa, cô đếm: “Một, hai, ba, bốn, …, rồi hai mươi. Trời ơi! Còn có hai mươi ngày nữa thôi ư?...”
Suy nghĩ một lát, cô rón rén chạy ra phía sau cây đa. Cô nhẹ tay xé mỗi cánh hoa ra thành nhiều sợi. Bông hoa trở nên kì lạ. Mỗi sợi nhỏ biến thành từng cánh nhỏ dài và mượt, trắng bong như tấm lòng ngây thơ trong trắng của cô. Những cánh hoa mọc thêm ra nhiều không sao đếm được! Cô bé nâng niu trên tay bông hoa lạ đó. Trời ơi! Sung sướng quá! Cô vùng chạy về. Đến nhà, cụ già tóc bạc bước ra cửa tươi cười đón cô và nói:
– Mẹ cháu đã khỏi bệnh! Đây chính là phần thưởng cho tấm lòng hiếu thảo của cháu đấy!
Từ đó hằng năm, về mua thu, thường nở những bông hoa có nhiều cánh nhỏ dài mượt, trông rất đẹp.
Đó chính là bông hoa cúc trắng”
(Trích “Sự tích Hoa cúc trắng” - Phỏng theo Truyện cổ tích Nhật Bản)
Truyền thuyết
Truyện ngụ ngôn
Truyện cổ tích
Truyện cười
Tự sự
Miêu tả
Biểu cảm
Nghị luận
Ngôi thứ ba
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba.
Đáp án A. Ngôi thứ ba
Cô bé làm gì để chữa bệnh cho mẹ?
Đưa mẹ đi khám bác sĩ
Đi lấy nước uống, đồ ăn
Đi hái lá cây
Đi hái một bông hoa trắng thật đẹp mang về
Cánh hoa
Những cánh hoa
Những cánh hoa mọc
Những cánh hoa mọc thêm ra
Từ nào trong số những từ sau KHÔNG phải là từ láy?
Văng vẳng
Nâng niu
Vội vã.
Tươi cười
Trong câu “ Ngày xưa, có hai mẹ con nhà nọ sống trong một túp lều nơi xóm vắng.” có mấy cụm danh từ ?
Một cụm danh từ
Hai cụm danh từ
Ba cụm danh từ
Bốn cụm danh từ
Đáp án C. Ba cụm danh từ
Yếu tố nào KHÔNG cần có trong truyện cổ tích?
Nhân vật chính diện và phản diện.
Chi tiết hoang đường, kì ảo.
Liên quan đến lịch sử.
Thể hiện ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đáp án C. Liên quan đến lịch sử
Đoạn trích trên đã thể hiện được những phẩm chất nào của em bé?
- Những phẩm chất của cô bé trong đoạn trích:
+ Hiếu thảo, yêu thương mẹ, sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để mẹ được sống trên cõi đời.
+ Thông minh, hoạt bát, nhanh nhẹn.
Trong cuộc sống hằng ngày, em đã làm gì để thể hiện tình yêu thương với mẹ. Trình bày trong khoảng 4 - 6dòng.
Trong cuộc sống hằng ngày, một số hành động thể hiện tình yêu thương với mẹ:
- Ngoan ngoãn vâng lời mẹ.
- Giúp đỡ mẹ trong các công việc thường ngày (nấu cơm, rửa bát, dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo,...)
- Chăm sóc mẹ khi mẹ mệt.
- Tự giác trong sinh hoạt cá nhân (vệ sinh, học tập,...)
- Thể hiện tình cảm với mẹ (nói lời xin lỗi khi làm sai, nói cảm ơn mẹ, nói yêu mẹ,...)
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Những ngôi sao thức ngoài kia,
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Biện pháp tu từ:
- Nhân hóa: “Những ngôi sao thức”
+ Tác dụng: Những ngôi sao được nhân hóa “thức” như con người, soi sáng lung linh trên bầu trời như người mẹ đang thức canh giấc ngủ cho con.
- So sánh: “chẳng bằng”
+ Tác dụng: so sánh hơn kém nhằm nhấn mạnh sự hi sinh, tần tảo vì con của mẹ là vô tận, không gì sánh bằng trong cuộc đời. Thiên nhiên, vũ trụ vĩnh hằng là vậy cũng không thể so sánh với tình mẹ vô hạn, công mẹ bao la.
Theo em, tình cảm của của tác giả được thể hiện trong bài thơ trên là gì? Từ đó em rút ra bài học gì cho bản thân ?
- Tình cảm tác giả gửi gắm trong bài thơ là sự biết ơn sâu sắc đối với công ơn dưỡng dục bao la, bất tận như trời biển, khó có thể đền đáp của mẹ. Cùng với đó, tác giả cũng thể hiện tình yêu to lớn, thiết tha đối với mẹ của mình.
- Bài học cho bản thân: Tình cảm mà mẹ dành cho mỗi người con là không đong đếm được, công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của mẹ là vô tận, không thể so sánh với bất cứ điều gì. Vì vậy, chúng ta cần biết yêu thương mẹ nhiều hơn, cố gắng rèn luyện và trở thành người có ích cho xã hội và có thể báo đáp công ơn của mẹ.
Viết 1 đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về tình mẫu tử. Trong đoạn văn có sử dụng 1 phép so sánh và một từ láy tượng hình (gạch chân và chú thích chỉ rõ).
Nhắc đến mẹ, hẳn mỗi người đều cảm thấy yêu thương, trân trọng. Bởi mẹ không chỉ là người có công ơn sinh thành, nuôi dưỡng mà còn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi đứa con. Và tình mẫu tử chính là tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất. Chẳng thể nào đong đếm được ơn nghĩa, tình yêu của người mẹ. Suốt chín tháng mười ngày, mẹ mang nặng đẻ đau, để rồi đến khi đứa con cất tiếng khóc chào đời cũng là lúc lòng mẹ thấy hạnh phúc nhất. Mẹ dành trọn cuộc đời để chăm sóc, dạy dỗ và nuôi nấng con nên người. Dù phải chịu bao sự vất vả, nhọc nhằn không làm mẹ mệt mỏi. Những nếp nhằn hằn sâu trên trán, những đôi tay chai sần, gầy gò, làn da nắng rám chính là bằng chứng cho nỗi vất vả, sự hy sinh của người mẹ. Biển có rộng cũng không thể nào đong đếm hết được tình cảm mà người mẹ đã dành cho đứa con của mình. Kể từ ngày có con, mẹ đã dành cả cuộc đời còn lại để yêu thương, che chở, bảo bọc, vỗ về cho đứa trẻ của mình. Mẹ gửi gắm những hi vọng, mong mỏi, ước mơ con sẽ nên người. Chính vì vậy, mỗi người con cần học cách yêu thương mẹ thật nhiều. Đó là sự kính trọng, quan tâm, lo lắng khi mẹ ốm đau bệnh tật. Là sự yêu thương, chăm sóc mẹ khi về già, là sự nỗ lực phấn đấu từng ngày mang lại thành quả để mẹ có thể mỉm cười, an lòng, mãn nguyện. Cuộc sống hiện đại kéo con người vào nhiều mối lo toan, có đôi lúc chúng ta dường như xa cách người thân. Chính vì vậy, mỗi người cần phải biết trân trọng tình cảm quý giá này.
* Chú thích:
- Câu có phép so sánh: Biển có rộng cũng không thể nào đong đếm hết được tình cảm mà người mẹ đã dành cho đứa con của mình.
- Từ láy tượng hình: gầy gò
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong các câu sau:
a. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
(Ca dao)
b .Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
(Viếng lăng Bác, Viễn Phương)
c. Ngày Huế đổ máu
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè.
(Lượm, Tố Hữu)
d. Thân em như dải lụa đào
Phất phơ trước gió biết vào tay ai
(Ca dao)
a. - Biện pháp tu từ: so sánh “như tranh họa đồ”
- Tác dụng: nhấn mạnh vẻ đẹp của thiên nhiên trên dải đất dọc được vô xứ Nghệ đẹp nên thơ nên họa, đẹp như một bức tranh.
b. Biện pháp tu từ:
- Nhân hóa “thấy”
+ Tác dụng: Diễn tả hình ảnh mặt trời tự nhiên như con người, cũng phải ghé mình chiêm ngưỡng sự vĩ đại của Bác.
- Ẩn dụ “mặt trời”
+ Tác dụng: diễn tả sự kì vĩ, lớn lao, vĩnh hằng của Bác. Bác như vầng thái dương của nhân dân Việt Nam, soi sáng và chỉ lối, mang lại sự sống, sự hồi sinh cho dân tộc.
c. - Biện pháp tu từ: hoán dụ “đổ máu” để chỉ chiến tranh (lấy dấu hiêụ của sự vật để gọi sự vật)
- Tác dụng: nhấn mạnh sự tàn khốc của chiến tranh, sự đau thương, hi sinh, mất mát mà chiến tranh đem lại cho nhân dân xứ Huế trong ngày cuộc kháng chiến bùng nổ.
d. - Biện pháp tu từ: So sánh “Thân em như dải lụa đào”
- Tác dụng: Nhấn mạnh sự nhỏ bé, yếu ớt, lênh đênh của số phận người con gái thời xưa. Họ không có quyền quyết định cuộc đời, chỉ có thể để mặc số phận an bài.
Em hãy viết một bài văn kể lại một truyện truyền thuyết mà em yêu thích bằng lời kể của em.
I. Mở bài
- Giới thiệu và nêu ấn tượng về truyền thuyết Thánh Gióng.
II. Thân bài
1. Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng.
- Đời Vua Hùng thứ sáu, ở làng Gióng, có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn nổi tiếng là sống phúc đức nhưng vẫn chưa có một mụn con.
- Một hôm, bà lão đi ra đồng trông thấy một bàn chân to, liền ướm thử vào để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà lão mang thai, sau mười hai tháng thì sinh ra một cậu bé.
- Cậu bé lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, biết cười, đặt đâu thì nằm đấy.
=> Sự ra đời không giống với bất kỳ đứa trẻ bình thường nào, trái với quy luật của tự nhiên. Điều đó như một lời báo hiệu cuộc đời phi thường của cậu bé làng Gióng.
2. Sự lớn lên phi thường của Gióng
- Bấy giờ có giặc Ân xâm lược nước ta, nhà vua bèn sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước.
- Cậu bé nghe tiếng của sứ giả thì liền cất tiếng nói đầu tiên: “Mẹ mời sứ giả vào đây”.
- Gióng yêu cầu sứ giả về nói với nhà vua chuẩn bị “một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một tấm áo giáp sắt” với lời hứa sẽ phá tan lũ giặc này.
=> Câu nói đầu tiên là câu nói với lòng mong muốn xin đi đánh giặc cứu nước cứu dân. Câu nói mang tấm lòng yêu nước của một cậu bé mới ba tuổi nhưng đã có trách nhiệm với đất nước nhân dân.
- Từ khi gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi: “Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ”.
- Hai vợ chồng làm bao nhiêu không đủ, phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Cả làng vui lòng góp gạo nuôi cậu bé, ai cũng mong cậu giết giặc cứu nước.
=> Sức mạnh của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Gióng lớn lên trong vòng tay chăm sóc nuôi nấng của nhân dân.
3. Gióng đánh tan giặc và bay về trời
a. Gióng đánh tan giặc:
- Giặc đến gần bờ cõi, chàng Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt.
- Chàng Gióng chuẩn bị ra trận:
+ Mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên ngựa.
+ Thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ.
+ Roi sắt gãy, Gióng nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ và chạy trốn.
→ Hình ảnh một con người oai phong, lẫm liệt, tràn đầy sức mạnh.
=> Đúng với sự ra đời kì lạ đã dự báo trước về cuộc đời của một con người phi thường, chàng Gióng chính là biểu tượng cho sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
b. Gióng bay về trời
- Thánh Gióng một mình một ngựa, lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời.
=> Con người phi thường nên sự ra đi cũng trở nên phi thường. Thánh Gióng đã trở về với cõi bất tử. Đó chính là lòng tôn kính mà nhân dân ta dành cho một con người có công với đất nước.
4. Người dân tưởng nhớ công ơn Thánh Gióng
- Vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, và lập đền thờ ở quê nhà, nay là làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng.
- Dấu tích còn lại ngày nay: những bụi tre ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun mới vàng óng như thế, những vết chân ngựa thành những ao hồ liên tiếp, ngựa thét ra lửa thiêu cháy một làng gọi là làng Cháy…
=> Niềm tin bất diệt của nhân dân vào sức mạnh thần kì của dân tộc.
III. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa của truyền thuyết Thánh Gióng.
Em hãy đóng vai một nhân vật trong truyện cổ tích mà em yêu thích để kể lại câu chuyện ấy.
I. Mở bài
- Đóng vai nhân vật người em để tự giới thiệu về bản thân và bối cảnh truyện cổ tích Cây khế.
+ Cha mẹ mất, tôi sống cùng anh trai.
+ Từ ngày có vợ, anh tôi đâm ra lười biếng.
II. Thân bài
1. Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
- Anh trai gọi tôi đến bàn bạc chuyện chia gia tài, tôi chỉ được túp lều nhỏ nhưng vợ chồng vẫn rất hạnh phúc.
- Hằng ngày, tôi và vợ vẫn thay nhau chăm sóc cây khế.
2. Diễn biến chính:
- Một ngày, một con chim lớn đến ăn quả. Chuyện đó diễn ra suốt một tháng.
- Khi vợ tôi nói chim đừng ăn nữa, chim đã bảo: “Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!”
- Tôi nghe lời, sáng sớm hôm sau chim đưa tôi đến một cái hang giữa đảo ngoài biển.
- Tôi chỉ nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra ngoài. Từ đó, cuộc sống khấm khá hơn.
- Anh tôi cũng muốn đi, thương lượng để đổi tài sản của mình lấy túp lều và cây khế.
- Mọi chuyện diễn ra như cũ. Anh tôi theo chim ra đảo lấy vàng.
- Anh tôi đã lấy rất nhiều vàng bạc. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển.
- Anh trai tôi bị sóng cuốn trôi, bao nhiêu của cải mất hết và hối hận muộn màng.
III. Kết bài
- Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
Viết đoạn văn khoảng 7 đến 10 câu ghi lại cảm xúc của bản thân sau khi đọc xong bài thơ “À ơi tay mẹ” của Bình Nguyên.
I. Mở đoạn
- Giới thiệu và nêu cảm xúc chung về bài thơ “À ơi tay mẹ” của Bình Nguyên.
II. Thân đoạn
1. Cảm xúc về nội dung và hình thức
- Bài thơ viết về đề tài gia đình thân thuộc, về tình cảm yêu thương gắn bó - tình mẫu tử.
+ Hình ảnh đôi bàn tay mẹ dịu dàng, chở che đầy màu nhiệm.
=> Người mẹ vất vả nuôi lớn, chăm sóc và hy sinh cho con suốt cả một đời.
+ Lời ru của mẹ ngọt ngào đầy yêu thương
=> Tình yêu vĩ đại, sự hi sinh cao cả của mẹ
- Thể thơ lục bát quen thuộc, gần gũi; cách ngắt nhịp, gieo vần phù hợp; điệp từ “Bàn tay mẹ”; “À ơi”; “Ru cho” lặp lại liên tục gây ấn tượng.
2. Lí do yêu thích bài thơ
- Gợi lên những kỉ niệm, tình cảm, cảm xúc thân thương, êm đềm bên mẹ.
- Bài thơ nhắc nhở bản thân phải yêu thương mẹ nhiều hơn.
III. Kết đoạn
- Khái quát cảm nghĩ của bản thân về ý nghĩa bài thơ.
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi:
MẸ
Lặng rồi cả tiếng con ve,
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu,
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia,
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
(Trần Quốc Minh, SGK Tiếng Việt 2, tập 1, NXB Giáo dục, 2002)
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.
Gợi ý cho bạn
Tài liệu phổ biến Lớp 6
Tài liệu phổ biến Văn

![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)



![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)
















