Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo có đáp án
40 câu hỏi
Đọc đoạnthơ sau và trả lời câu hỏi:
Xinh Nhã trả thù nhà
Mấy ngày sau, cây kơ-lơng mới đổ. Xing Nhã tiếp tục chặt cành. Một tháng, hai tháng, ba tháng. Xing Nhã mới làm xong chiếc khiên. Hàng trăm, hàng nghìn dân làng nhấc khiên không nổi. Xing Nhã bước tới, một tay nâng khiên, một tay giơ lên đầu, đội về buôn. Về tới nhà, ở một ngày, nghỉ một tháng, Xing Nhã suy tính chuyện đi đòi xương cho cha, trả thù cho mẹ.
[…] Bang Ra và Xing Yuê – Ta hãy lấy bảy ché rượu ngon, bảy con trâu đực trắng, cũng cho Trời, cho Đất phù hộ con trai ta khoẻ mạnh. Ta hãy lấy con gà cúng thần Nước,ta lấy con lợn cúng Y Rít phù hộ con trai ta khôn lớn, đừng đi chết bỏ xương nơi đất khác.
(Đoạn dưới đây miêu tả cuộc chiến đấu cuối cùng của Xing Nhã với anh em Gia – rơ Bú)
[…] Hai bên đánh nhau. Năm em trai của Gia-rơ Bú đã bỏ đầu tại gốc cây đa, bỏ thân tại núi lạ. Gia-rơ Bú bứt rứt, ngồi không yên, nằm không được, tay trái lấy chiếc khiên, tay phải nắm cán đao, Gia-rơ Bú đi vào rẫy của Hơ-bia Bơ-lao.
Xing Nhã – (Gặp Gia-rơ Bú) Ơ Gia-rơ Bú, ai chạy trước?
Gia-rơ Bú - Hỡi con chim linh mọc chưa đủ lông cánh, hãy múa thử đi!
Xing Nhã quay khiên múa. Đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng Bảy. Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều chim ó.
Gia-rơ Bú nhìn theo, tối mày tối mặt, không đoán được đường đao của Xing Nhã chĩa về hướng nào.
Gia-rơ Bú – Được, bây giờ ta không giất được mày thì ta sẽ tìm cách phá sạch làng mày! Té ra đứa nào cũng là đầu đen máu đỏ cả sao?
Xing Nhã – (ngừng múa) Ơ Gia-rơ Bú! Ta đang đứng ở phái Mặt Trời mọc đây rồi. Bây giờ thì ngươi múa đi, ta đuổi theo.
Gia-rơ Bú múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc tóc, như sao lạc đường. Dường đao chỉ đâm vào giữa trống không.
Xing Nhã mới đi một bước, đã chém trúng ngay chân Gia-rơ Bú.
Xing Nhã – Ơ Gia-rơ Bú, máu gì chảy ở chân đấy?
Gia-rơ Bú – Máu con vắt ở núi Hơ-mũ cắn tao.
Gia-rơ Bú múa tiếp, Xing Nhã chém luôn cánh tay phải, chiếc đao rơi “rỏn rẻn”…
Xing Nhã – Tại sao khiên của ngươi rơi mất rồi?
Gia-rơ Bú – Không phải! Đó là tiếng kêu của chiếc lục lạc cho trẻ con chơi, tiếng vù của con diều đói gió đấy!
Gia-rơ Bú cố sức múa nữa, nhưng lần này chưa kịp chở tay thì chiếc khiên đã bị Xing Nhã đánh vỡ tung, rơi xuống đất.
Cuối cùng đôi bên chỉ còn Pơ – rong Mưng và Xing Nhã đánh nhau
[…] Trên trời, dưới đất, mây mưa mịt mù, gió bão ầm ầm, đổ cây lở núi. Hai bên đánh nhau từ khi trái khơ-la chín, đến mùa kê trổ, vẫn không phân thắng bại. Cả hai đều kiệt sức, ngã trước chòi của Hơ-bia Bơ-lao
(Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Hơ-bia Bơ-lao, Xing Nhã giết chết Pơ-rong Mưng – người cuối cùng trong bảy anh em nhà Gia-rơ Bú, trả thù cho cha, cứu mẹ già thoát khỏi cuộc sống nô lệ)
(Theo Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, Tập I : Văn học dân gian, phần III, NXB Giáo dục, 1974. Tr.219-228)
Cổ tích
Sử thi
Truyền thuyết
Ngụ ngôn
Đáp án đúng là B
Xing Nhã
Gia-rơ Kốt
Gia-rơ Kốt
Pơ-rong Mưng
Đáp án đúng là A
Hơ – bia Guê
Hơ-bia Bơ-lao
Bơ-ra Tang
Gia-rơ Bú
Đáp án đúng là D
Đúng
Sai
Đáp án đúng là B
(1) Khiên được làm bằng gỗ cây kơlong
(2) Khiên được làm trong ba tháng
(3) Hàng trăm người tập trung mới nhấc được khiên
(4) Khi múa khiên. Đất trời nổi dông giá mù mịt
(5) Vành khiên nạm bạc sáng chói
(1) – (2) – (4)
(1) – (3 – (5)
(2) – (3) – (4)
(2) – (4) – (5)
Đáp án đúng là A
Xing Nhã quay khiên múa. Đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng Bảy. Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều chim ó.
Nhân hoá
So sánh
Ẩn dụ
Cường điệu
Đáp án đúng là D
Dòng nào sau đây không thể hiện đúng ý nghĩa của chiến thắng mà Xing Nhã đã đạt được trong văn bản trên?
Sức mạnh của chính nghĩa
Kẻ ác phải bị trừng phạt
Vẻ đẹp của người anh hùng lí tưởng trong mơ ước của cộng đồng.
Chinh phục những vùng đất mới và thu phục những nô lệ mới.
Đáp án đúng là D
Qua nhân vật Xing Nhã, người Tây Nguyên thể hiện quan niệm như thế nào về người anh hùng?
Qua nhân vật Xing Nhã, người Tây Nguyên thể hiện quan niệm về người anh hùng: có sức mạnh, sự dũng cảm, nhân hậu.
Có thể khẳng định Xing Nhã là người anh hùng có sức mạnh phi thường không? Vì sao?
Xing nhã là người anh hùng có sức mạnh phi thường. Điều đó được thể hiện qua các chi tiết: Xing Nhã đốn cây kơlơng làm khiên, Xing Nhã múa khiên, Xing Nhã đánh nhau với Gia-rơ Bú.
Từ văn bản, em hiểu thêm điều gì về đặc điểm văn hoá độc đáo của đồng bào Tây Nguyên?
Từ văn bản, em hiểu thêm về lễ thổi tai – một lễ nghi cầu mong cho con cháu mau khôn lớn của đồng bào dân tộc Tây Nguyên xưa.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Nữ thần A-thê-na (1)
Trong số các vị thần của thế giới Ô-lim-pi-a thì sự ra đời của nữ thần A-thê-na kì lạ hơn cả. Đối với các vị thần tất nhiên sự sinh ra đã khác thường rồi, nhưng A-thê-na thần kì hơn. Nàng không phải do mẹ sinh ra mà do bố sinh ra, và sinh ra ... từ đầu!
Dớt (2) mắc chứng đau đầu rất dữ, đau từng cơn ong ong, lục ục trong đầu. Trong một cơn đau muốn nổ tung óc, Dớt gọi thần Hê-phai-xtốt lại và ra lệnh :“Lấy búa bổ đầu ta ngay, làm ngay đi...”. Hê-phai-xtốt do dự trước cái lệnh kì quái đó, nhưng Dớt trừng mắt quát: “Bổ đi! Làm ngay đi!...” – Thế là Hê-phai-xtốt nghe lời Dớt. Chàng nâng câybúa nặng ngàn cân lên, dùng sức giáng vào đầu Dớt. Chát một cái! Hê-phai-xtốt rùng mình. Sọ của Dớt nứt toác ra, và từ kẽ nứt nhảy ra một người thiếu nữ mặc nhung y, võ phục gọn gàng, tay kiếm cung, mắt sáng long lanh, tiếng to như sấm. Vừa nhảy khỏi đầu Dớt, nàng liền hét một tiếng vang động cả trời đất như khi xung trận. Đó là A-thê- na , vị thần của trí tuệ, tri thức và chiến trận. A –thê- na đội mũ trụ đồng sáng loáng, mặc áo choàng dài, thường khi tay khoác khiên, đứng uy nghi oai phong lẫm liệt như một nam thần. Vì là nữ thần của trí tuệ, tri thức nên A-thê-na đã sáng tạo ra biết bao nhiêu điều để dạy cho người dân Hi Lạp. Nàng đã ban cho người trần thế cái cày cái bừa để họ có thể làm ruộng, trồng lúa, trồng nho. Nàng trao cho người phụ nữ cái xe quay sợi và khung cửi dệt. Nàng dạy cho họ nghề dệt khéo léo và công phu để họ có thể dệt nên tấm vải dày, mỏng tùy theo ý thích với màu sắc rực rỡ như lòng họ mong muốn. Vì thế người xưa gọi nàng là “A-thê-na Ergana” nghĩa là “thợ giỏi”. Nàng còn đặt ra các thiết chế, luật pháp cho các đô thị, để con người biết cách cai quản, điều hành cuộc sống của mình được trật tự và công bằng. Vì là nữ thần trí tuệ, tri thức nên nàng được Dớt sinh ra từ ... đầu, hay cũng vì sinh từ đầu Dớt mà nàng phải là vị nữ thần của trí tuệ, tri thức? Do đó một chức năng nữa mà A- thê – na phải đảm nhận là: đảm bảo cho khoa học và kĩ thuật ở các đô thị phát triển rực rỡ, phục vụ hữu hiệu cho con người.
A-thê-na thường có một biệt danh quen thuộc là Palax. Người xưa giải thích, sở dĩ nàng có biệt danh này là do nàng đã đánh bại được tên khổng lồ Palax trong một trận giao tranh ác liệt. Để ghi nhớ chiến công hiển hách của mình, A-thê-na lột da địch thủ căng lên tấm khiên. [...] A-thê-na tham dự khá nhiều chuyện của thế giới thiên đình và thế giới loài người. Đối với người Hi Lạp cổ xưa, A-thê-na mang lại cho họ cuộc sống văn minh hơn. Nàng là nữ thần của tri thức. Nàng là ánh sáng của Khoa học, kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật soi rọi xuống cuộc sống tối tăm của con người. Nàng còn là nữ thần của chiến trận, chiến thắng. A-then một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Hi Lạp ngày xưa và thủ đô của Hi Lạp ngày nay, là đô thị mang tên nữ thần A-thê-na, và được nữ thần A-thê-na bảo hộ. Con vật gắn bó với nữ thần A-thê-na là con cú mèo. Vì thế, nữ thần thường có những định ngữ kèm theo: A-thê-na có đôi mắt cú mèo, A-thê-na có đôi mắt màu xanh lục... Ngày nay trong văn học các nước Phương Tây, cái tên A-thê-na hoặc Mi-nen-vơ có một nghĩa bóng là: “người đàn bà thông minh”, “người phụ nữ trí tuệ”, “thông tuệ”. Từ đó con cú của nữ thần A-thê-na cũng tượng trưng cho sự hiểu biết, thông minh, trí thức.
(Trích Thần thoại Hy Lạp (3), Nguyễn Văn Khỏa, NXB Văn học, 2014, tr.97-98)
(1) Athenahoặc Athene, còn có hiệu là Pallas, là một nữ thần Hy Lạp cổ đại gắn liền với trí tuệ, nghề thủ công mỹ nghệ và chiến tranh,thời sau này bà được đồng hóa với nữ thần La Mã Minerva.
(2) Dớt: vị thần có quyền lực tối cao trong Thần thoại Hi Lạp, chủ của điện Ô-lem-pơ
(3) Thần thoại Hy Lạp là tập hợp những huyền thoại và truyền thuyết của người Hy Lạp cổ đại liên quan đến các vị thần, các anh hùng, bản chất của thế giới, và nguồn gốc cũng như ý nghĩa của các tín ngưỡng, các nghi lễ tôn giáo của họ
Núi rừng
Cõi trần
Cõi âm
Vũ trụ
Đáp án đúng là D
Đầu của thần Dớt
Nữ thần đất mẹ Gaia
Cây búa của thần Hê-phai-xtốt
Cánh tay của thần Dớt
Đáp án đúng là A
A-thê-na là nữ thần đại diện cho:
Văn minh của nhân loại
Hôn nhân, gia đình và những đứa trẻ
Trí tuệ, tri thức và chiến trận
Tình yêu và tự do
Đáp án đúng là C
Người phụ nữ trí tuệ
Thợ giỏi
Thông tuệ
Người đàn bà thông minh
Đáp án đúng là B
Chi tiết miêu tả sự xuất hiện của nữ thần A-thê-na “ nhung y, võ phục gọn gàng, tay kiếm cung, mắt sáng long lanh, tiếng to như sấm....nàng liền hét một tiếng vang động cả trời đất như khi xung trận” có ý nghĩa gì ?
Thể hiện sự dũng cảm của một chiến binh khi ra trận.
Thể hiện sự thông minh, tài giỏi của vị thần trí tuệ, tri thức
Thể hiện vẻ đẹp lộng lẫy của vị thần sắc đẹp
Thể hiện vẻ đẹp oai phong lẫm liệt của vị thần chiến trận
Đáp án đúng là D
Dòng nào dưới đây không đúng với với câu chuyện trên?
Mang yếu tố hoang đường kỳ ảo
Truyện được kể theo lời nhân vật
Kết hợp với các chi tiết tả thực
Nhân vật có khả năng phi thường
Đáp án đúng là B
Câu chuyện trên có ý nghĩa:
Ca ngợi sức mạnh của nhà nước A-then cổ đại.
Phản ánh những xung đột xã hội căng thẳng
Góp phần lý giải sự ra đời của nền văn minh Hi Lạp; ca ngợi, tự hào về trí tuệ và tài năng của con người.
Phản ánh công cuộc khám phá đại dương của người Hy Lạp cổ.
Đáp án đúng là C
Lí giải tại sao sau khi đánh bại tên khổng lồ Palax, A-thê-na lại lấy biệt danh là tên của kẻ thù?
- Khi đánh bại tên khổng lồ Palax, A-thê-na lại lấy biệt danh là tên của kẻ thù, vì:
+ Để ghi nhớ chiến công hiển hách
+ Để khẳng định tài năng, trí tuệ của A-thê-na
Nữ thần A-thê-na trong truyện cùng tên đã đóng góp rất nhiều cho nền văn minh Hy Lạp và nhân loại. Theo anh/ chị, những đóng góp ấy có còn ý nghĩa với cuộc sống hiện đại ngày nay không? Vì sao?
A-thê-na là nữ thần của tri thức và cũng là người mở đầu cho nền văn minh nhân loại, đưa con người thoát khỏi cuộc sống tối tăm, nguyên thủy trước đó. Những sáng tạo của khoa học, kỹ thuật mà nàng đem lại đã giúp con người tồn tại và phát triển.
Ngày nay, những đóng góp của nữ thần có ý nghĩa quan trọng, đặt nền móng cho cuộc sống văn minh hiện đại với những thành tựu khoa học đáng kinh ngạc, là sản phẩm của trí tuệ và sáng tạo của loài người. Ngoài ra, những thiết chế, luật pháp ngày càng phát triển chặt chẽ, khiến cuộc sống của con người được quản lý theo đúng đạo đức, pháp luật.
Trong những điều làm nên vẻ đẹp đặc trưng của thần thoại có nghệ thuật xây dựng chi tiết kì ảo. Chi tiết kì ảo nào trong câu chuyện trên để lại ấn tượng sâu sắc nhất với anh/chị? Vì sao? (Trả lời bằng 4-5 câu)
Chi tiết kì ảo để lại ấn tượng trong lòng em là nữ thần A-thê-na được sinh ra từ đầu của thần Dớt, sau khi thần Hê-phai-xtốt nhận lệnh bổ đầu thần Dớt. Đây là chi tiết kì ảo vô cùng ấn tượng, khẳng định thêm sự ra đời khác thường của nữ thần A-thê-na và khẳng định trí tuệ đặc biệt được thừa hưởng từ cha – thần Dớt – vị thần tối cao.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thế là, bà con xem, nhà Đăm Săn đông nghịt khách, toi to chật ních ca nhà ngoài. Các khách tù trưởng đều từ phương xa đến. Còn Đăm Săn, bà con xem, chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa. Chàng mở tiệc ăn uống linh đình, thịt lợn thịt trâu ăn không ngớt, thịt lợn ăn đến cháy đen hết ống le, thịt dê ăn đến cháy đen hết ống lồ ô, tiết bò tiết trâu đọng đen khắp sàn hiên, dây cồng dây chiêng giăng như mạng nhện, chi vàng chi đỏ như hoa dăm piết. Cảnh đó thời ông bác, ông cậu xưa kia làm gì có!
Bà con xem, Đăm Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán. [ ... ] Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều. Rõ ràng là Đăm Săn có chiêng đống voi bầy, có bè bạn như nêm, như xếp. Làm sao mà có được một tù trưởng, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa, đánh đâu đập tan đó, vây đâu phá nát đó như chàng?
Vì vậy, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đăm Săn. Từ khắp mọi miền, người ta khiêng rượu, khiêng lợn đến. Cả miền Ê-đê Ê-ga ai ai cũng ca ngợi Đăm Săn là một trang dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước. Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt linh lợi như mắt chim ghếch ăn hoa tre, chàng Đăm Săn hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy.
Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc. Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ.
(Trích Đăm Săn - Sử thi Ê-đê)
Theo bạn, ở văn bản trên, dấu [ ... ] có ý nghĩa gì?
Đánh dấu cho thành phần chêm xen
Đánh dấu cho thành phần cước chú
Đánh dấu cho thành phần bị tỉnh lược
Đánh dấu cho thành phần phụ chú
Đáp án đúng là C
Nhân vật Đăm Săn được miêu tả trong văn bản thuộc kiểu nhân vật nào?
Nhân vật thần linh
Nhân vật người anh hùng
Nhân vật quần chúng
Nhân vật hung thần
Đáp án đúng là B
Văn bản trên sử dụng điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ mấy ?
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba
Đáp án A và B
Đáp án đúng là C
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong những câu văn sau: “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy”?
Nhân hóa
Phóng đại
So sánh
B và C
Đáp án đúng là D
Theo bạn, ở văn bản trên, người kể chuyện thể hiện thái độ gì đối với nhân vật Đăm Săn?
Thái độ ca ngợi, tự hào
Thái độ yêu thương, quan tâm
Thái độ miệt thị, coi thường
Không thể hiện thái độ
Đáp án đúng là A
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của không gian nghệ thuật trong văn bản trên ?
Không gian hoang sơ, gắn với sự tạo lập trời đất
Không gian vũ trụ
Không gian rộng lớn, gắn với sinh hoạt cộng đồng
Không gian phiêu lưu của người anh hùng
Đáp án đúng là C
Phát biểu nào sau đây nói đúng về chủ đề của văn bản?
Ca ngợi Đăm Săn và sự giàu có của cộng đồng Đăm Săn
Ca ngợi vẻ đẹp thể chất, tài năng và danh tiếng lừng lẫy của Đăm Săn
Ca ngợi Đăm Săn và lễ hội ăn mừng chiến thắng
Ca ngợi danh tiếng lừng lẫy của Đăm Săn
Đáp án đúng là A
Theo bạn, cụm từ “bà con xem” được lặp lại nhiều lần trong văn bản có tác dụng gì?
Cụm từ “bà con xem” được lặp lại nhiều lần trong văn bản có tác dụng: Giúp câu chuyện tăng tính khách quan, chân thực; giúp người nghe chú ý vào vấn đề mình đang nói.
Theo bạn, yếu tố khoa trương, cường điệu trong lời người kể chuyện có tác dụng gì?
Yếu tố khoa trương, cường điệu trong lời người kể chuyện có tác dụng tô đậm, nhấn mạnh vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn cũng như sự giàu có, hùng mạnh của cộng đồng Đăm Săn.
Viết đoạn văn khoảng 5 - 7 dòng phân tích một vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn được miêu tả trong văn bản.
Phân tích hình dáng đẹp đẽ, oai phong, kì vĩ, mang dáng dấp của một vị thần của Đăm Săn qua các chi tiết như: “Chàng nằm trên vong, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng dưới đất là một cái nong hoa”, “Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ gươm giáo, đôi mắt long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre”, “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ”.
Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu:
Câu chuyện về Thần núi Tản Viên
[…]
Có truyền thuyết kể rằng thần núi Tản Viên tuy thuộc dòng dõi vua Lạc Long Quân nhưngthuở lọt lòng bị bỏ rơi trong rừng, được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên này là vì trước khi gặp cha nuôi, đứa bé mới lọt lòng đã được dê rừng cho bú, chim chóc ấp ủ cho khỏi chết. Kỳ Mạng chóng lớn khôn, theo nghề cha nuôi ngày ngày vác rìu vào rừng đốn củi.
Một hôm, Kỳ Mạng đốn một cây đại thụ. Cây to lớn quá, chặt từ sáng đến chiều mà vẫn chưa hạ nổi. Bỏ dở ra về, đến sáng hôm sau trở vào rừng, Kỳ Mạng hết sức ngạc nhiên thấy những vết chặt đã dính liền lại khắp thân cây. Kỳ Mạng xách rìu lại chặt nữa, suốt ngày ráng hết sức không xong, đến ngày thứ hai trở lại cũng thấy cây vẫn nguyên vẹn như chưa hề bị động tới. Không nản chí, Kỳ Mạng ra công cố chặt, quyết hạ cho kỳ được, rồi đến tối ở lại nấp gần cây rình xem sự thể. Vào khoảng nửa đêm, Kỳ Mạng thấy một bà lão hiện ra, tay cầm gậy chỉ vào cây, đi một vòng quanh cây, tự nhiên những vết chặt lại liền như cũ. Kỳ Mạng nhảy ra khỏi chỗ nấp, tức giận hỏi bà lão sao lại phá công việc của mình. Bà lão nói:
– Ta là thần Thái Bạch. Ta không muốn cho cây này bị chặt vì ta vẫn nghỉ ngơi ở trên cây.
Kỳ Mạng mới phản đối:
– Không chặt cây thì tôi lấy gì mà nuôi sống?
Bà thần đưa cho Kỳ Mạng cái gậy và dặn rằng : “Gậy này có phép cứu được bách bệnh. Hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu nhân độ thế”.
Kỳ Mạng nhận gậy thần, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một hôm, đi qua sông thấy lũ trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn trên đầu có chữ vương, Kỳ Mạng biết là rắn lạ mới cầm gậy thần gõ vào đầu con rắn thì con rắn ấy sống lại, bò xuống sông mà đi mất.
Được vài hôm, bỗng có một người con trai, đem đồ vàng ngọc, châu báu đến nói rằng :
– Thưa ngài, tôi là Tiểu Long Hầu, con vua Long Vương bể Nam. Bữa trước tôi đi chơi trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết. Nhờ có ngài mới được sống, nay mang lễ vật lên xin được tạ ơn.
Kỳ Mạng nhất định không lấy. Tiểu Long Hầu mới cố mời xuống chơi dưới bể, đưa ra một cái ống linh tê, để Kỳ Mạng có thể rẽ nước mà đi.
Long Vương thấy ân nhân cứu con mình xuống chơi thì mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba ngày, rồi đưa tặng nhiều của quý lạ, nhưng Kỳ Mạng vẫn một mực chối từ. Sau cùng Long Vương mới biếu một quyển sách ước. Lần này Kỳ Mạng nhận sách mang về trần. Cuốn sách ước chỉ gồm có ba tờ bằng da cá, ngoài bọc vỏ rùa. Ba trang sách, mỗi trang chứa một tính chất : Kim, Mộc, Hỏa… chỉ thiếu một trang Thủy mà Long Vương giữ lại.
Kỳ Mạng mới bắt đầu thử xem linh nghiệm ra sao, mở sách ra đặt tay vào trang Hỏa khấn khứa thì được nghe thấy sấm sét giữa lúc trời quang mây tạnh, rồi chỉ trong nháy mắt trên trời vần vũ đầy mây, chớp sáng, sấm sét nổi lên rung chuyển cả bầu trời.
Kỳ Mạng mỉm cười đắc ý, đặt tay vào trang Mộc, ước ao thấy một rừng cây đi. Tức thì những cây ở trước mặt chàng tự nhiên tiến bước như một đạo quân.
Kỳ Mạng gấp sách lại, thấy mình từ đấy uy quyền, sức mạnh không còn ai sánh kịp. Rồi bắt đầu lang thang đó đây cứu giúp đời. Khi đã thành thần rồi, nhân một hôm qua cửa Thần Phù, ngài mới ngược dòng sông lên núi Tản Viên, ở luôn tại đấy. Với cuốn sách ước, ngài dựng lên những lâu đài cung điện nguy nga giữa chốn rừng núi hoang vu.
Từ đó tiếng đồn đi rằng núi Tản Viên do một vị thần phép thuật thần thông cai quản. Thần Tản Viên còn có tên gọi là Sơn Tinh nữa.
– Truyện thần thoại Việt Nam - TheGioiCoTich.VN –
Xác định thể loại của văn bản trên.
Thể loại của văn bản: Thần thoại
Thần núi Tản Viên còn được biết đến với tên gọi: Kỳ Mạng, Sơn Tinh.
Cuốn sách Long Vương tặng Kỳ Mạng thiếu trang nào?
Cuốn sách Long Vương tặng Kỳ Mạng thiếu trang Thủy
Câu văn nào thể hiện đầy đủ nhất sự thần kì của cây gậy được thần Thái Bạch tặng Kỳ Mạng?
Câu văn nào thể hiện đầy đủ nhất sự thần kì của cây gậy được thần Thái Bạch tặng Kỳ Mạng: Gậy này có phép cứu được bách bệnh. Hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu nhân độ thế.
Sau khi nhận được gậy Thái Bạch tặng, Kỳ Mạng làm nghề gì?
Sau khi nhận được gậy Thái Bạch tặng, Kỳ Mạng làm nghề: Chữa bệnh cứu người đau.
Sau khi mở sách ước, Kỳ Mạng đặt tay vào trang Hỏa thì sấm sét xuất hiện giữa lúc trời quang mây tạnh, rồi chỉ trong nháy mắt trên trời vần vũ đầy mây, chớp sáng, sấm sét nổi lên rung chuyển cả bầu trời.
Nhân vật Kỳ Mạng có những phẩm chất cao quý nào?
Phẩm chất cao quý của Kỳ Mạng: Chăm chỉ, thương người, ngay thẳng.
Qua nhân vật Kỳ Mạng, anh/chị có suy nghĩ gì về những phẩm chất cần có đối với thế hệ trẻ trong cuộc sống hiện nay?
Những phẩm chất cần có của con người trong cuộc sống hiện nay ngoài chăm chỉ, nhân hậu, ngay thẳng còn cần thêm: ý chí, nghị lực, bản lĩnh…
Ngay từ thời nguyên thủy, để phục vụ cho đời sống sinh hoạt và quá trình lao động, con người đã quan sát, suy ngẫm về các hiện tượng tự nhiên có liên quan mật thiết tới mình. Từ quá trình quan sát kết hợp với trí tưởng tượng hồn nhiên, họ đã sáng tạo ra những câu chuyện thần thoại nhằm giải thích hiện tượng tự nhiên và thể hiện ước mơ khám phá, chinh phục chúng. "Thần Trụ Trời" thuộc nhóm thần thoại suy nguyên, tác phẩm được coi như truyện mở đầu cho thần thoại về các vị thần. Sau này có thêm nhiều tác phẩm thần thoại về các vị thần khác như: Thần Mưa, thần Gió, thần Biển, thần Mặt Trời,...; tiếp đó là các truyện về thần sáng tạo ra muôn vật và loài người.
Qua thần thoại "Thần Trụ Trời", người Việt cổ muốn lý giải quá trình phân chia trời, đất và sự hình thành các dạng địa hình. Các dân tộc anh em khác trên thế giới cũng có nhiều truyện thú vị lý giải về sự hình thành thế giới buổi ban đầu như vậy. Trong nhận thức của con người cổ, thế giới được hình thành dưới sự sắp xếp của các vị thần.
"Thần Trụ Trời" là một tác phẩm thần thoại tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Kết cấu truyện "Thần Trụ Trời" cũng giống như các tác phẩm khác, gồm ba phần: mở đầu, diễn biến, kết thúc. Yếu tố không gian và thời gian được nhắc tới ngay khi mở đầu tác phẩm. Không gian âm u, tĩnh lặng "trời và đất" dính liền vào nhau, không gian vũ trụ không thể hiện một điểm cụ thể. Thời gian trong tác phẩm chưa xác định rõ ràng, thể hiện rõ "tính chất cổ xưa". Nhân vật thần Trụ Trời được khắc họa có vóc dáng lớn lao cùng sức mạnh phi thường nhằm thực hiện công việc phân chia trời đất và tạo ra các dạng địa hình.
Bằng trí tưởng tượng phong phú, các tác giả dân gian đã khiến chúng ta hình dung ra không gian hoang sơ của trái đất khi chưa xuất hiện muôn loài và sự ra đời của thần Trụ Trời. Trời đất tăm tối, không có sự sống: "Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo", "Thuở ấy, chưa có thế gian, cũng chưa có muôn vật và loài người". Chính lúc vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, thần Trụ Trời xuất hiện "Bỗng nhiên, một vị thần khổng lồ xuất hiện". Sự ra đời của thần là cách các tác giả dân gian giải thích về quá trình tạo lập thế giới dựa trên những hiểu biết giản đơn và nguyên sơ.
Thần Trụ Trời được khắc họa một cách ấn tượng qua những chi tiết kì ảo. Khi vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, thần xuất hiện. Ngoại hình của thần Trụ Trời nổi bật với vóc dáng khổng lồ "Chân thần dài không thể tả xiết. Thần bước một bước là có thể qua từ vùng này đến vùng nọ, hay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác". Không chỉ vậy, thần còn có sức vóc mạnh mẽ, điều này được thể hiện qua những hành động "Bỗng có một lức thần đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên, rồi tự mình đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa cao, vừa to để chống trời", "Thần hì hục vừa đào vừa đắp". Quá trình phân chia trời đất và tạo ra dạng địa hình của thần Trụ Trời được diễn tả hết sức đặc biệt: Thần "ngẩng đầu đội trời", sau đó, tự mình đào đất, đập đá dựng nên một cái cột chống trời. Chẳng bao lâu sau, dưới sự chống đỡ của trụ trời, trời đất được phân đôi. Đến khi trời trở nên "đã cao và đã khô", thần bỗng nhiên phá cột đi, lấy đá ném khắp nơi tạo thành những hòn núi, hòn đảo. Nơi thần đào đất làm cột trụ trời trở thành biển rộng mênh mông. Sau này, người ta gọi vị thần đó là "Trời" hay "Ngọc Hoàng" - vị thần này làm nhiệm vụ trông coi mọi việc trên trời dưới đất. Các vị thần khác cũng nối tiếp làm nhiệm vụ còn dang dở để xây dựng thế gian như: thần Sao, thần Sông, thần Biển,...
Kết thúc truyện là một bài vè độc đáo và giàu ý nghĩa: "Ông Đếm cát/ Ông Tát bể (biển)/ Ông Kể sao/ Ông Đào sông/ Ông Trồng cây/ Ông Xây rú (núi)/ Ông Trụ trời.". Với ca từ dễ nhớ, dễ thuộc, bài vè dễ dàng đi vào trái tim người nghe. Các vị thần tiếp tục hoàn thiện nhân gian được liệt kê và đúc kết lại bằng câu "Ông Trụ Trời" nhằm thể hiện sự biết ơn công lao của thần Trụ Trời trong quá trình tạo ra trời đất và các dạng địa hình trong cuộc sống.
Qua thần thoại "Thần Trụ Trời", chúng ta hiểu thêm về tư duy của người Việt cổ trong việc giải thích quá trình phân chia trời, đất và hình thành các dạng địa hình tự nhiên. Đồng thời, ta cũng cảm nhận được sự ngây thơ trong tâm hồn và ước mơ khám phá thế giới của con người nguyên thủy.
Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội.
Mỗi chúng ta khi sinh ra đời chúng ta không thể tự lựa chọn cha mẹ hay số phận cho chính mình được. Tạo hóa cho mỗi con người một số phận khác nhau. Có những người vừa sinh ra đã gặp nhiều may mắn hạnh phúc có ba mẹ yêu thương, sinh ra trong một gia đình giàu có sung túc. Ngược lại có những người vừa sinh ra đã thiệt thòi bởi hoàn cảnh của gia đình khó khăn, hoặc bị ba mẹ bỏ rơi không cha không mẹ, có những người sinh ra đã không được khỏe mạnh bằng chúng bạn của mình, thiệt thòi hơn các bạn rất nhiều. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì những con người chúng ta đều cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Có những người dù bị thiệt thòi trong cuộc sống nhưng họ không vì thế mà buông xuôi cuộc đời mình mà luôn cố gắng vươn lên trong cuộc sống để không thua kém bạn bè. Những con người đó thật sự là tấm gương sáng để cho chúng ta noi theo, thái độ sống tích cực của họ.
Trong xã hội của chúng ta còn nhiều con người chịu nhiều thiệt thòi đó họ không đầu hàng số phận không chấp nhận mình sẽ là gánh nặng của gia đình và xã hội họ cố gắng vươn lên trong cuộc sống của chính mình quả là một điều thật sự đáng ngưỡng mộ. Như thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí một con người đã chịu rất nhiều trong cuộc sống khi sinh ra đã bị liệt hai tay. Nhưng bằng nghị lực phi thường của mình thầy đã cố gắng học viết chữ bằng chân. Những ngày đầu tập viết những nét chữ viết bằng tay còn khó khăn thì những nét chữ bằng chân vô cùng khó. Nhưng thầy Nguyễn Ngọc Kí vẫn kiên nhẫn tập viết mỗi ngày để rồi thầy có thể theo đuổi sự nghiệp học hành của mình. Rồi thầy Nguyễn Ngọc Kí đã thi đỗ đại học rồi trở thành một thầy giáo. Một thầy giáo dạy giỏi viết chữ bằng chân. Đó chính là một nỗ lực phi thường của mỗi con người.
Những con người thiệt thòi, khi họ sinh ra đã không được lành lặn nhưng chính nhờ ý chí, nghị lực sống phi thường của mình mà họ đã vươn lên trở thành những con người thành đạt không hề thua kém những người lành lặn. Thậm chí, nhiều bạn trẻ khỏe mạnh lành lặn nhưng sự nỗ lực trong cuộc sống lại không. Họ để cho những thói hư tật xấu trong cuộc sống cám dỗ mình rồi trở thành những kẻ tội phạm gây ra những tội ác ghê rợn. Những bạn trẻ này thật sự là gánh nặng của xã hội, họ thật sự không biết tận dụng những lợi thế mà cuộc sống, tạo hóa đã ban tặng cho mình sống hoài sống phí tuổi trẻ tương lai của mình. Trong khi đó nhiều người vừa sinh ra do những ảnh hưởng của chất độc màu da cam, hoặc do tạo hóa nên khi vừa chào đời họ đã thiệt thòi, nhưng họ vẫn luôn sống có ích, có ước mơ hoài bão của mình.
Cái đáng quý nhất của mỗi con người này chính là nghị lực sống kiên cường, phi thường của họ. Dù cuộc sống có nhiều khắc nghiệt nhưng họ vẫn vươn lên trong cuộc sống với những ước mơ, hoài bão vô cùng lớn lao. Những con người này thường phải nỗ lực gấp hai, ba lần thậm chí mười lần so với người khỏe mạnh bình thường nhưng họ lại tạo ra những kỳ tích mà người khỏe mạnh bình thường cũng không làm được. Dù tạo hóa không công bằng với họ nhưng họ không trông chờ vào lòng từ bi, thương hại của người khác mà luôn chủ động trong cuộc sống của mình. Thậm chí họ còn tạo nên nhiều thành công khiến cho người khác phải nể phục. Họ sinh ra có thể thiếu đi một bộ phận nào đó trên cơ thể nhưng bằng bàn tay khối óc của mình họ đã kiên cường vươn lên trong cuộc sống. Họ quyết khẳng định vị trí của mình không làm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Chính trái tim khối óc, ý chí của con người đã chiến thắng mọi thứ trong cuộc sống. Những con người có nghị lực sống thì không có khó khăn nào có thể làm họ gục ngã.

