Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo có đáp án

A
Admin
VănLớp 1052 lượt thi
34 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc đoạnthơ:

Quê hương là gì hởmẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu?

 Quê hương là gì hởmẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều?

 

(...)Quê hương là vàng hoa bí

Là hồng tím giậu mồng tơi Là đỏ đôi bờ dâmbụt

Màu hoa sen trắng tinh khôi

 

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ…

(Trích Bài học đầu cho con – Đỗ Trung Quân, Hoa cỏ cần gặp, NXB Thuận Hóa – Huế, 1991)

1. Tự luận
• 1 điểm
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ.
Xem đáp án

Thể thơ 6 chữ.

2. Tự luận
• 1 điểm
Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã ví quê hương với những hình ảnh nào?
Xem đáp án

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cả.

3. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:

Quê hương mỗi người chỉ một

 Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

Xem đáp án

Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã ví quê hương với những hình ảnh:

- vàng hoa bí,

- hồng tím giậu mồngtơi,

- đỏ đôi bờ dâmbụt,

- màu hoa sen trắng tinhkhôi.

4. Tự luận
• 1 điểm
Em hiểu thế nào về nội dung ý nghĩa của hai dòng thơ:

 

 Quê hương nếu ai không nhớ 

Sẽ không lớn nổi thành người.

Xem đáp án

- Các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ:

+ Điệp từ “Quê hương”

+ So sánh: Quê hương mỗi người chỉ một/như là chỉ một mẹ thôi.

- Tác dụng:

+ So sánh: Câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh; Điệp từ: Tạo nhịp điệu cho câu thơ

+ Nhấn mạnh tầm quan trọng và vị thế của quê hương trong lòng mỗi người. Đồng thời thể hiện thái độ yêu quý, tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương của tác giả.

5. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương được thể hiện trong đoạn thơ trên.

Xem đáp án

Tình cảm của tác giả dành cho quê hương: yêu quý, tự hào, trân trọng những vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà đầy ấm áp, yêu thương.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau:

Nằm trong tiếng nói yêu thương

Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.

Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi

Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.

Tháng ngày con mẹ lớn khôn,

Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha,

Đời bao tâm sự thiết tha

Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...

(Trích bài thơ “Nằm trong tiếng nói yêu thương”- Huy Cận)

6. Tự luận
• 1 điểm

Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên?

Xem đáp án

- Thể thơ: lục bát

- PTBĐ: biểu cảm

7. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ trong câu thơ sau:

“Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha.”

Xem đáp án

- Điệp từ và nhân hóa

- Tác dụng: Nhấn mạnh ý thơ được ví như con người biết kể chuyện “thơ kể lại hồn ông cha”

8. Tự luận
• 1 điểm

Tác dụng của tiếng Việt được thể hiện trong hai câu thơ 

“Đời bao tâm sự thiết tha

Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...”

Xem đáp án

Tác dụng của tiếng Việt được thể hiện trong hai câu thơ: Giúp con người bộc lộ tâm tư, tình cảm của chính mình.

9. Tự luận
• 1 điểm

Nội dung của bài thơ trên là gì?

Xem đáp án

Nội dung của bài thơ: Tiếng Việt gắn liền với con người Việt Nam từ thuở sơ sinh đến lúc trưởng thành.

10. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với tiếng Việt được thể hiện trong bài thơ trên.

Xem đáp án

Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với tiếng Việt được thể hiện trong bài thơ trên: Tình yêu tha thiết, niềm tự hào, thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà thơ đối với tiếng Việt

Thông điệp rút ra:Tình yêu và niềm tự hào của Huy Cận dành cho tiếng Việt, bài thơ là kết quả của sự tình yêu tha thiết đối với tiếng Việt của ông, một lời tri ân sâu sắc dành cho tiếng của mẹ nói riêng và tiếng Việt nói chung. Từ đó cho người đọc thấy được giá trị nhân văn và nghệ thuật của tiếng nói đồng thời tác giả cũng muốn truyền thông điệp đến người đọc nhằm gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.

11. Tự luận
• 1 điểm

Viết một đoạn văn (khoảng 5-7 câu) trình bày cảm nghĩ của em khi đọc bài thơ “Nằm trong tiếng nói yêu thương”.

Xem đáp án

Có lẽ đi cùng với hành trình phát triển của mỗi người không thể thiếu đó là lời ru của mẹ, ai ai cũng đã từng được lớn lên theo lời ru. Huy Cận cũng vậy! Ông trân trọng lời ru của mẹ, ông trân trọng tiếng Việt , ông coi đó là lời nói yêu thương khi đã đồng hành theo tác giả lớn khôn từng ngày. Huy Cận yêu tiếng nói đến nỗi tác giả đã đưa những biện pháp nghệ vô cùng tinh tế cho tiếng nói với chi tiết “thơ kể” điều đó thể như rằng không chỉ đam mê với tiếng nói ngoài ra tác giả còn coi tiếng nói như một người bạn - một người đồng hành theo ông suốt chặng đường phát triển. Đồng thời với sự ra đời của tác phẩm “Nằm trong tiếng nói yêu thương” như một lời tri ân sâu sắc của Huy Cận đến với món quà tri thức ấy, tiếng nói đối với ông không chỉ là sự yêu thương, không chỉ là song hành bên những lời ru của mẹ, đặc biệt tiếng nói là là giá trị cao đẹp để giúp tác giả nhận thức được cuộc sống này. Tác phẩm trên được coi là bài học thúc đẩy con người cần lưu giữ giá trị trong sáng của tiếng Việt để ngôn ngữ nói của con người chúng ta được văn minh hơn và ý nghĩa hơn.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau:

Thế là, bà con xem, nhà Đăm Săn đong nghịt khách, toi to chật ních ca nhà ngoài. Các khách tù trưởng đều từ phương xa đến. Còn Đăm Săn, bà con xem, chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa. Chàng mở tiệc ăn uống linh đình, thịt lợn thịt trâu ăn không ngớt, thịt lợn ăn đến cháy đen hết ống le, thịt dê ăn đến cháy đen hết ống lồ ô, tiết bò tiết trâu đọng đen khắp sàn hiên, dây cồng dây chiêng giăng như mạng nhện, chi vàng chi đỏ như hoa dăm piết. Cảnh

đó thời ông bác, ông cậu xưa kia làm gì có!

Bà con xem, Đăm Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán. [ ... ] Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều. Rõ ràng là Đăm Săn có chiêng đống voi bầy, có bè bạn như nêm, như xếp. Làm sao mà có được một tù trưởng, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa, đánh đâu đập tan đó, vây đâu phá nát đó như chàng?

Vì vậy, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đăm Săn. Từ khắp mọi miền, người ta khiêng rượu, khiêng lợn đến. Cả miền Ê-đê Ê-ga ai ai cũng ca ngợi Đăm Săn là một trang dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước. Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt linh lợi như mắt chim ghếch ăn hoa tre, chàng Đăm Săn hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy.

Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc. Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ.

(Trích Đăm Săn - Sử thi Ê-đê)

12. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo bạn, ở văn bản trên, dấu [ ... ] có ý nghĩa gì?

Đánh dấu cho thành phần chêm xen

Đánh dấu cho thành phần cước chú

Đánh dấu cho thành phần bị tỉnh lược

Đánh dấu cho thành phần phụ chú

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

13. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nhân vật Đăm Săn được miêu tả trong văn bản thuộc kiểu nhân vật nào?

Nhân vật thần linh

Nhân vật người anh hùng

Nhân vật quần chúng

Nhân vật hung thần

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

14. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Văn bản trên sử dụng điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ mấy ?

Ngôi thứ nhất

Ngôi thứ hai

Ngôi thứ ba

Đáp án A và B

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong những câu văn sau: “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy”?

Nhân hóa

Phóng đại

So sánh

B và C

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo bạn, ở văn bản trên, người kể chuyện thể hiện thái độ gì đối với nhân vật Đăm Săn?

Thái độ ca ngợi, tự hào

Thái độ yêu thương, quan tâm

Thái độ miệt thị, coi thường

Không thể hiện thái độ

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

17. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của không gian nghệ thuật trong văn bản trên ?

Không gian hoang sơ, gắn với sự tạo lập trời đất

Không gian vũ trụ

Không gian rộng lớn, gắn với sinh hoạt cộng đồng

Không gian phiêu lưu của người anh hùng

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

18. Tự luận
• 1 điểm

Theo bạn, cụm từ “bà con xem” được lặp lại nhiều lần trong văn bản có tác dụng gì?

Xem đáp án

Cụm từ “bà con xem” được lặp lại nhiều lần trong văn bản có tác dụng: Giúp câu chuyện tăng tính khách quan, chân thực; giúp người nghe chú ý vào vấn đề mình đang nói.

19. Tự luận
• 1 điểm

Theo bạn, yếu tố khoa trương, cường điệu trong lời người kể chuyện có tác dụng gì?

Xem đáp án

Yếu tố khoa trương, cường điệu trong lời người kể chuyện có tác dụng tô đậm, nhấn mạnh vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn cũng như sự giàu có, hùng mạnh của cộng đồng Đăm Săn.

20. Tự luận
• 1 điểm

Viết đoạn văn khoảng 5 - 7 dòng phân tích một vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn được miêu tả trong văn bản.

Xem đáp án

Phân tích hình dáng đẹp đẽ, oai phong, kì vĩ, mang dáng dấp của một vị thần của Đăm Săn qua các chi tiết như: “Chàng nằm trên vong, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng dưới đất là một cái nong hoa”, “Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ gươm giáo, đôi mắt long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre”, “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ”.

21. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phát biểu nào sau đây nói đúng về chủ đề của văn bản?

Ca ngợi Đăm Săn và sự giàu có của cộng đồng Đăm Săn

Ca ngợi vẻ đẹp thể chất, tài năng và danh tiếng lừng lẫy của Đăm Săn

Ca ngợi Đăm Săn và lễ hội ăn mừng chiến thắng

Ca ngợi danh tiếng lừng lẫy của Đăm Săn

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

Đoạn văn

Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu:

“Ngày 4/1, tại Trung tâm Thông tấn Quốc gia, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Doan Khối cac co quan Trung ương, Doan Thanh nien Thong tấn xã Việt Nam (TTXVN) phối hợp tổ chức Tọa đàm: Xây dựng hình mẫu thanh niên thời kỳ mới hướng tới những phẩm chất của "công dân toàn cầu".

Chia sẻ với các đại biểu thanh niên tại buổi tọa đàm, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có cả những mặt tích cực và mặt tiêu cực tác động đến kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ... của từng dân tộc, đất nước, người dân, trong đó đặc biệt là giới trẻ. Thanh niên Việt Nam ra ngoài thế giới phải có tư cách, phẩm chất, phải có hiểu biết, kiến thức, hành xử có văn hóa với bạn bè thế giới. Đặc biệt phải chú trọng tìm hiểu, học hỏi những tinh hoa của thế giới, đồng thời phải giữ gìn bản sắc của dân tộc.

Ông nhấn mạnh muốn hội nhập quốc tế, giới trẻ phải chú trọng hai yếu tố là "tử tế" và "tức khí". "Tức khí" theo ông chính la lòng tự ái dân toc, la tinh thần vượt kho vươn len. Đay chính la tinh thần đã thúc giục bao nhiêu lớp thanh niên Việt Nam xả thân vì đất nước suốt quá trình lịch sử. Việt Nam có nhiều lợi thế với lực lượng lao động đông đảo, phong phú về tài nguyên... nhưng nếu không có "tức khí" sẽ không thể hội nhập thành công, sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới.

Xuân Tùng (TTXVN - 4/1/2017)

22. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Thể loại của văn bản trên là gì?

Văn bản thông tin

Văn bản thuyết minh

Văn bản tự sự

Văn bản miêu tả

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

23. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nội dung của văn bản trên là gì?

Đưa tin về buổi tọa đàm: "Xây dựng hình mẫu thanh niên thời kỳ mới hướng tới những phẩm chất của "công dân toàn cầu"", diễn ra ngày 4/1/2017, tại trung tâm Thông tấn Quốc gia

Ý kiến của nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan về những phẩm chất mà người thanh niên cần có trong thời kì hội nhập.

Đưa tin về buổi tọa đàm về Hội nhập thế giới

Đưa tin về buổi tọa đàm: "Xây dựng hình mẫu thanh niên thời kỳ mới hướng tới những phẩm chất của "công dân toàn cầu"", diễn ra ngày 4/1/2017, tại trung tâm Thông tấn Quốc gia; và ý kiến của nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan về những phẩm chất mà người thanh niên cần có trong thời kì hội nhập.

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

24. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Ý nào bao gồm những từ Hán Việt có trong văn bản?

Quốc gia, công dân, kiến thức

Quốc gia, công dân, lao động

Quốc gia, người dân, kiến thức

Quốc gia, giới trẻ, kiến thức

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

25. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nghĩa của từ công dân là gì?

Là người được được công nhận trong một quốc gia

Là người được hưởng quyền lợi và đảm nhiệm nghĩa vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật trong một cuốc gia.

Người có quốc tịch

Người có quốc tịch, được hưởng quyền lợi và đảm nhiệm nghĩa vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật trong một cuốc gia.

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Vì sao ông Vũ Khoan cho rằng thanh niên Việt Nam cần có "tức khí?

Vì thanh niên Việt Nam ra ngoài thế giới phải có tư cách, phẩm chất, phải có hiểu biết, kiến thức, hành xử có văn hóa với bạn bè thế giới.

Vì đây chính là tinh thần thúc giục thanh niên Việt Nam vượt khó vươn lên để có đủ khả năng hội nhập thành công, sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới.

Vì Việt Nam có nhiều lợi thế với lực lượng lao động đông đảo, phong phú về tài nguyên ...

Cả ba đáp án trên

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

27. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Ý nào dưới đây KHÔNG PHẢI đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản?

Cung cấp thông tin thời sự

Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật

Lối viết ngắn gọn

Văn phong sinh động, hấp dẫn

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

28. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo tác giả, "tức khí" có nghĩa là gì?

là lòng tự ái dân tộc, là tinh thần vượt khó vươn lên.

chiều hướng phát triển tốt, xấu của sự vật, sự việc theo quy luật tự nhiên, tại một thời điểm cụ thể, theo thuật phong thủy

cảm xúc của con người

đặc điểm của cá nhân thể hiện ở cường độ, nhịp độ các hoạt động tâm lí

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

29. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo tác giả, thanh niên Việt Nam ra ngoài thế giới cần?

Có tư cách, phẩm chất, phải có hiểu biết, kiến thức, hành xử có văn hóa với bạn bè thế giới.

Đặc biệt phải chú trọng tìm hiểu, học hỏi những tinh hoa của thế giới, đồng thời phải giữ gìn bản sắc của dân tộc.

Cần có lòng tự ái dân tộc và tinh thần vượt khó vươn lên.

Tất cả các đáp án trên

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

30. Tự luận
• 1 điểm

Qua văn bản, trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai yếu tố: "tử tế” và "tức khí" mà thanh niên Việt Nam cần có.

Xem đáp án

- Tử tế là tư cách, phẩm chất của con người (bao gồm kiến thức, cách hành xử có văn hóa với bạn bè thế giới; khả năng tìm hiểu, học hỏi những tinh hoa của thế giới, đồng thời phải giữ gìn bản sắc của dân tộc).

- "Tức khí" là lòng tự ái dân tộc, là tinh thần vượt khó vươn lên.

=> Ông Vũ Khoan cho rằng thanh niên Việt Nam cần có "tức khi" vì đây chính là tinh thần thúc giục thanh niên Việt Nam vượt khó vươn lên để có đủ khả năng hội nhập thành công, sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới.

31. Tự luận
• 1 điểm
Nêu tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Xem đáp án

- Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hóa, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển.

- Những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những động lực to lớn đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững, phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý ... của một dân tộc, được thường xuyên hun đúc, bổ sung và lan tỏa trong lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần đặc sắc, tạo nên sức mạnh gắn kết cộng đồng và để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại.

- Thế hệ trẻ là những người nằm giữ tương lai của đất nước, bởi vậy, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hoa dân tộc là một điều vô cùng cần thiết. Mỗi thanh niên, thiếu niên phải thực sự thấy được giá trị của văn hoa dân tộc dù có đi đâu, sống ở nơi nào, con người đó vẫn luôn là người dân nước Việt. Cần phải kế thừa phát huy nhưng đồng thời cũng phải phát triển nó lên bằng cách kết hợp có lựa chọn với nhung yếu tố văn hoa mới tích cực.

32. Tự luận
• 1 điểm
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một truyện kể.
Xem đáp án

Trong thế giới huyền bí của thần thoại Hy Lạp, truyện "Prô-mê-tê và loài người" không chỉ là một câu chuyện đơn thuần, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật đầy ý nghĩa và triết lý. Qua cách viết tinh tế và sự sáng tạo độc đáo, câu chuyện không chỉ là một lời giải đáp cho sự hình thành của con người và muôn vật, mà còn là một bức tranh về lòng dũng cảm và lòng trung hiếu, về sự đổi mới và hy vọng.

Truyện kể về việc Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê, hai vị thần với sức mạnh vô song, đã nặn ra con người và muôn loài vật trên Trái Đất. Trong quá trình tạo dựng, thần Prô-mê-tê đã truyền cho con người ngọn lửa, biểu tượng của tri thức và sự sống, làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên ấm áp và sáng sủa. Đồng thời, truyện còn nói về sự thiếu sót và những sai lầm của thần Ê-pi-mê-tê, điều này nhấn mạnh sự không hoàn hảo của con người và sự cần thiết của việc sửa sai để tiến xa hơn.

Ngoài ra, "Prô-mê-tê và loài người" còn chứa đựng thông điệp sâu sắc về sự đổi mới và sức mạnh của kiến thức. Bằng việc trao cho con người ngọn lửa, Prô-mê-tê không chỉ làm cho cuộc sống trở nên thuận lợi hơn mà còn mở ra cánh cửa cho sự phát triển văn minh, khoa học và nghệ thuật. Ngọn lửa ấy không chỉ là nguồn sáng, mà còn là nguồn năng lượng để con người khám phá thế giới, tìm hiểu về mình và xây dựng nên những nền văn minh phong phú.

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" không chỉ là một phần của di sản văn hóa của Hy Lạp, mà còn là một câu chuyện có ý nghĩa sâu sắc cho thế giới hiện đại. Nó nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của tri thức, lòng dũng cảm và lòng trung hiếu, làm cho chúng ta nhận ra giá trị của việc học hỏi và đổi mới, và khuyến khích chúng ta không ngừng tìm kiếm sự sáng tạo và khám phá trong cuộc sống hàng ngày. Câu chuyện về Prô-mê-tê và ngọn lửa không chỉ là một phần của quá khứ, mà còn là nguồn động viên cho tương lai, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính mình và về thế giới xung quanh.

33. Tự luận
• 1 điểm

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội.

Xem đáp án

Trong nhiều năm trở lại đây, con người đã không ít lần phải chứng kiến, đối mặt với dịch bệnh. Kể từ sau Covid-19, chưa bao giờ chúng ta thấy rõ được hậu quả mà dịch bệnh để lại đến thế. Trong bài viết này, tôi sẽ đem đến cho các bạn một cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của đại dịch đối với đời sống xã hội.

Trước hết, chúng ta cần làm rõ và giải thích khái niệm đại dịch. Khi có sự lây lan trên phạm vi rộng của một loại bệnh mới thì ta gọi đó là đại dịch.

Trải qua hơn 2 năm chiến đấu với Covid 19, chắc hẳn mỗi người đều sẽ có cho mình những kỉ niệm, suy nghĩ và cảm xúc khác nhau. Để đến ngày hôm nay, khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát và trạng thái “bình thường mới” được thiết lập, ta mới thấy trân trọng cuộc sống. “Rùng mình”, “sợ hãi” chính là những từ ngữ để diễn tả nỗi ám ảnh của tất cả chúng ta khi nghĩ về những hậu quả to lớn mà đại dịch để lại.

Trước hết, đối với mỗi cá nhân, việc lây lan các loại virus, vi khuẩn trên phạm vi rộng với tốc độ nhanh chóng đã làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu ai đó mắc phải, virus sẽ tấn công vào cơ thể, gây suy giảm miễn dịch và để lại những di chứng nặng nề sau khi khỏi bệnh. Đặc biệt, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng nếu không được chữa trị kịp thời. Vào những lúc đỉnh điểm của đợt dịch, Nhà nước, chính quyền buộc phải ban bố tình trạng khẩn cấp và yêu cầu người dân cách li trong nhà. Phải ở nhà suốt thời gian dài, không có cơ hội gặp gỡ, giao tiếp với người khác, một số người rơi vào trầm cảm, khủng hoảng. Dịch bệnh là nguyên nhân chính gây nên một số bất ổn về mặt tâm lí, kéo theo đời sống của mỗi người cũng bị đảo lộn xáo trộn theo.

Không chỉ ảnh hưởng tới mỗi cá nhân, dịch bệnh còn tác động trực tiếp tới mọi mặt của xã hội. Giáo dục bị trì trệ, học sinh, sinh viên phải nghỉ học ở nhà. Đại dịch làm thay đổi hình thức học tập, giảng dạy từ trực tiếp sang trực tuyến, buộc mỗi người phải thích ứng, nắm bắt nhanh chóng, kịp thời. Đại dịch xảy ra, ngành nghề phải “đứng mũi chịu sào” nhiều nhất chính là y tế. Nhiều bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, không đủ xe vận chuyển, thiết bị y tế và nguồn nhân lực trong các trường hợp cần thiết. Nhiều cán bộ công nhân viên thường xuyên phải túc trực, làm việc hết công suất. Đặc biệt, các nhà khoa học phải chạy đua với thời gian để nghiên cứu, điều chế và sản xuất ra các loại vắc-xin kịp thời.

Khi đại dịch bùng nổ, nền kinh tế của các nước trên thế giới gặp rất nhiều khó khăn. Mọi người không thể giao thương, buôn bán trực tiếp. Các cơ sở sản xuất bị đình trệ. Nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản và phá sản. Vì thế, người lao động không có việc làm, phải nhận hỗ trợ từ địa phương, nhà nước. Đặc biệt, trong thời gian đại dịch diễn ra, tình trạng bạo lực gia đình và xâm hại trẻ em luôn ở mức báo động. Rất nhiều câu chuyện đau buồn, đáng tiếc đã xảy ra.

Để thích ứng với đại dịch, mọi người cần tuân thủ các biện pháp, quy định của nhà nước trong phòng chống và ứng phó với dịch bệnh; luôn luôn đeo khẩu trang, sát khuẩn tay thường xuyên. Khi mắc bệnh, mỗi người cần có ý thức bảo vệ bản thân, cộng đồng bằng cách theo dõi biểu hiện bệnh và nhờ đến sự can thiệp, trợ giúp của nhân viên y tế. Không lan truyền những thông tin sai sự thật, gây hoang mang dư luận và làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch. Chúng ta cũng cần xây dựng thói quen lành mạnh, chăm tập thể dục, vận động thân thể thường xuyên, uống nhiều nước và ăn nhiều rau xanh.

Sự tác động của biến đổi khí hậu cũng khiến cho tình trạng dịch bệnh ngày một gia tăng. Có thể thấy, dịch bệnh có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà không cần báo trước. Điều chúng ta cần làm là nâng cao nhận thức, ứng phó chủ động và thích nghi kịp thời trước những yêu cầu cấp thiết của cuộc sống.

34. Tự luận
• 1 điểm
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một bài thơ.
Xem đáp án

Thiên nhiên, bốn mùa xuân, hạ, thu đông từ lâu đã không còn là đề tài mới lạ trong thơ ca tự cổ chí kim. Thiên nhiên qua từng thời đại tuy được nhìn dưới những lăng kính khác nhau song đều là thiên nhiên của tâm trạng, là cảnh nhuốm màu cảm xúc. Cảnh hay được nhắc đến trong thơ là trăng, hoa, tuyết, vân…mùa thì có xuân, đông, hạ và đặc biệt là mùa thu. Viết về mùa thu, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc Đỗ Phủ có bài “ Cảm xúc mùa thu”.

Đỗ Phủ (712 – 770) xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca, suốt đời sống trong cảnh đói nghèo và bệnh tật. Ông sáng tác rất nhiều và để lại cho đời hàng ngàn bài thơ có nội dung phong phú, sâu sắc, phản ánh sinh động những sự kiện lịch sử thời ông đang sống và chan chứa lòng yêu nước thương đời. Với những đóng góp to lớn cho nền thi ca Trung Quốc nói riêng và nền văn hóa nhân loại nói chung, Đỗ Phủ đã được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới.

Bài thơ “ Cảm xúc mùa thu” thuộc chùm thơ tám bài được Đỗ Phủ sáng tác năm 766, khi đang sống phiêu bạt ở Quý Châu.. Tứ Xuyên là vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, cách xa quê hương nhà thơ mấy ngàn dặm. Sau mười một năm kể từ khi bùng nổ loạn An Lộc Sơn, tuy loan đã dẹp xong nhưng đất nước kiệt quệ vì chiến tranh và nhà thơ vẫn phải lưu lạc ở quê người. Hoàn cảnh ấy đã khơi gợi cảm xúc bi thương là cảm xúc chủ đạo của “ Cảm xúc mùa thu” vừa là bức tranh mùa thu ảm đạm, hắt hiu, vừa là bức tranh tâm trạng trĩu nặng u sầu của nhà thơ trong cảnh đất nước loạn lạc, rối ren.

Mở đầu bài thơ, tác giả vẽ nên bức tranh cảnh vật rừng núi mùa thu đẹp nhưng tiêu điều, xơ xác:

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba làng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.”

(Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa.
Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.)

Chỉ với vài nét chấm phá, Đỗ Phủ đã thể hiện được cái thần của một chiều thu ở Quý Châu trong vị trí tương đối cao để hướng tầm mắt bao quát toàn cảnh. Cảnh có xa, có rộng đều được thu lại nơi con mắt tinh tế của thi nhân:

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm”
(Lác đác rừng phong hạt móc sa).

Trong thơ cổ Trung Hoa, hình ảnh rừng phong gắn liền với mùa thu gợi lên một cảnh rừng chuyển lá đỏ là tượng trưng cho sự li biệt. Cùng với rừng phong lá đỏ, hình ảnh hạt móc sa là những giọt sương trắng cũng tượng trưng cho mùa thu, gợi sự lạnh lẽo giăng mắc dày đặc càng làm xơ xác thêm rừng phong.

Nhắc đến Vu sơn, Vu giáp là người đọc nghĩ ngay tới hình ảnh đặc trưng của đất Ba Thục xưa kia, toàn cảnh bao trùm trong hơi thu hiu hắt. Vu sơn, Vu giáp tức là núi Vu, hẻm Vũ nổi tiếng hiểm trở và hùng vĩ của được nhắc đến nhiều trong thần thoại, cổ tích và thơ ca Trung Quốc. Suốt cả chiều dài bảy trăm dặm, núi tiếp núi dọc đôi bờ sông, quanh năm mây mù bao phủ. Vách núi dựng đứng nên ánh mặt trời khó lọt được xuống tới lòng sông. Vào mùa thu, khung cảnh nơi đây vốn ảm đạm, lạnh lẽo, qua ngòi bút miêu tả thấm đẫm tâm trạng li sầu của Đỗ Phủ lại càng thêm tối tăm, ảm đạm.

Đến hai câu thơ tiếp theo vẫn là cảnh nhưng được nhìn ở một tầm thấp hơn:

“Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.”

(Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.)

Cảnh thu hiện lên qua hình ảnh con sông ở thượng nguồn nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết và hình ảnh “ mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Nước sông chảy xiết nên giữa lòng sông, sóng dữ dội vọt lên đến tận lưng trời. Hình ảnh: “ Mặt đất mây đùn cửa ải xa” tả thực cảnh mây trắng sà xuống thấp đến mức tưởng chừng như đùn từ dưới mặt đất lên, che lấp cả cửa ải phía xa xa. Cảnh ở đây không nhuốm màu bi thương tàn tạ như hai câu thơ đầu mà có phần vừa hoành tráng vừa dữ dội. Hai cặp câu như bổ sung cho nhau lột tả được hai nét đặc sắc của phong cảnh vùng Vu sơn Vu giáp vừa âm u, vừa hùng vĩ.

Ở bốn câu thơ sau, trước cảnh thư, Đỗ Phủ bày tỏ lòng mình:

“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.”

(Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.)

Hoa cúc là hình ảnh đi đôi với mùa thu. Đỗ Phủ nhắc đến hoa cúc, điều đó không có gì mới. Điều quan trọng là mỗi lần thấy cúc nở hoa nhà thơ lại rơi lệ. Vì sao vậy? Vì nhìn cúc nở hoa, có nghĩa là đã hai năm Đỗ Phủ sống ở Quý Châu, xa nhà, xã quê. Hoa cúc xui lòng thi nhân ngậm ngùi nhớ lại những mùa thu trước chốn quê cũ, vì vậy mà càng thêm xao xuyến, xúc động đến nghẹn ngào, làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ quê trào dâng trong lòng tác giả “ Cô chu nhất hệ cố viên tâm” (Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ thương nơi vườn cũ).

Hai câu kết:

“Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.”

(Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.)

Câu thơ bỗng đột ngột nổi lên âm thanh dồn dập của tiếng chày đập vải trên bến sông, trong bóng hoàng hôn nhưng không đủ sức làm nhộn nhịp không gian mà càng làm nổi bật hơn nỗi buồn mênh mang. Khí thu lạnh lẽo như nhắc nhở mọi người rằng mùa đông sắp đến, phải chuẩn bị nhanh nhanh cho việc may áo ấm nhưng cũng khiến nhà thơ chạnh lòng nghĩ tới những người lính thú nơi quan ải. Âm thanh của mùa thu may áo vừa kết thúc bài thơ, vừa mở ra nỗi buồn nhớ mênh mang… “Ngôn tận nhi ý bất tận” (lời hết mà ý không hết).

Thực ra viết về mùa thu của thiên nhiên cũng là nhà thơ đang viết về một chiều thu cụ thể ở vùng đất Quý Châu trong giai đoạn suy vong của triều đình phong kiến đương thời. Chiến tranh liên miên, Đỗ Phủ phiêu bạt muôn nơi và ôm ấp một hi vọng mong manh là được trở về quê cũ. Ước mơ ấy cũng là ước mơ chung của bao người dân nghèo khổ lưu vong. Vì vậy, hàm ẩn sau những câu thơ thu là một tâm hồn đau đáu nỗi thương đời, thương người của Đỗ Phủ. Chính nỗi lòng ấy đã mang thơ Người đến gần chúng ta và sống cùng chúng ta.