Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 9 Kết nối tri thức có đáp án
42 câu hỏi
Đọc kĩ ngữ liệu dưới đây, sau đó trả lời các câu hỏi:
Bạn không nên để thất bại ngăn mình tiến về phía trước. Hãy suy nghĩ tích cực về thất bại và rút ra kinh nghiệm. Thực tế những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân. Họ có thể nghi ngờ phương pháp làm việc đã dẫn họ đến thất bại nhưng không bao giờ nghi ngờ khả năng của chính mình.
Tôi xin chia sẻ với các bạn về câu chuyện về những người đã tìm cách rút kinh nghiệm từ thất bại của mình để đạt được những thành quả to lớn trong cuộc đời.
Thomas Edison đã thất bại gần 10.000 lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện. J.K.Rowling, tác giả của “Harry Potter”, đã bị hơn 10 nhà xuất bản từ chối bản thảo tập 1 của bộ sách. Giờ đây, bộ tiểu thuyết này của bà trở nên vô cùng nổi tiếng và đã được chuyển thể thành loạt phim rất ăn khách. Ngôi sao điện ảnh Thành Long đã không thành công trong lần đóng phim đầu tiên ở Hollywood. Thực tế bộ phim Hollywood đầu tay của anh, thất vọng lắm chứ, nhưng điều đó cũng đâu ngăn được anh vùng lên với những phim cực kì ăn khách sau đó như “Giờ cao điểm” hay “Hiệp sĩ Thượng Hải”.
Thất bại không phải là cái cớ để ta chần chừ. Ngược lại nó phải là động lực tiếp thêm sức mạnh để ta vươn tới thành công.
(Trích Tại sao lại chần chừ?, Tác giả Teo Aik Cher, Người dịch: Cao Xuân Việt Khương, An Bình, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr 39,40)
Chỉ ra mặt tích cực của thất bại mà “người thành công luôn dùng” được nêu trong đoạn trích.
Mặt tích cực của thất bại của “người thành công luôn dùng”: Những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.
Theo anh/ chị, “suy nghĩ tích cực về thất bại” được nói đến trong đoạn trích được hiểu là gì?
“Suy nghĩ tích cực về thất bại” được nói đến trong đoạn trích được hiểu là: Thất bại không phải là bước cản mà là động lực để đi tới thành công.
Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long có tác dụng gì?
Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long có tác dụng:
- Nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của thất bại đối với thành công của mỗi người.
- Câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long đều là người thật, việc thật được nhiều người biết đến như những “tấm gương sống” nên có giá trị thuyết phục cao cho luận điểm được nêu
Anh/ chị có cho rằng trong cuộc sống thất bại luôn “là cái cớ để ta chần chừ” không? Vì sao?
Em không đồng ý với với quan điểm “Trong cuộc sống thất bại luôn “là cái cớ để ta chần chừ” vì mỗi thất bại chính là cách để chúng ta học hỏi và tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu lại. Thất bại không thể cái cớ để chần chừ mà phải là động lực để mỗi người nỗ lực chạm đến thành công của chính mình.
Đọc kĩ ngữ liệu và trả lời câu hỏi dưới đây:
NGƯỜI PHẢI CHẾT
Lược dẫn: Mọi người tập trung rất đông ở trước Đông Dương đại học đường để chờ đón vị bác sĩ trẻ tài ba Trần Thế Đoàn nhưng đã quá giờ mà chưa thấy anh ta đâu. Có người cho rằng “Anh này có vẻ một danh nhân muốn cho mọi người chờ đợi mình...” Trong số những người đứng chờ ở đó có một phóng viên trẻ tuổi – Lê Phong. Không để ý đến vẻ náo động của đám đông, anh ta cứ đi đi lại lại một cách lơ đãng, thỉnh thoảng đứng lại biên mấy chữ lên một cuốn sổ tay. Rồi lại thản nhiên lững thững đi trong phòng như đi giữa chỗ vắng. Tuy vậy, ai nhận kỹ, cũng thấy đôi mắt anh ta vẫn tinh nhanh và quan sát từng cử chỉ của mọi người, quan sát rất chóng nhưng rất chu đáo. Nét mặt linh động với cái miệng mím lại chốc chốc thoáng qua. Rồi người bác sĩ họ Trần cũng đến, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng trong 3 phút đã diễn ra….
Người thiếu niên bỗng hỏi một câu đột nhiên:
- Lúc nãy ông ở nhà viết một bức thư dài phải không? Ông cần viết đến nỗi chút nữa thì lỡ mất một việc quan trọng là hôm nay có cuộc phát bằng long trọng.
Đoàn kinh ngạc nhìn người thiếu niên thì anh ta tiếp:
- Mà lại vừa nhận được một bức thư lạ, một bức thư làm cho ông bối rối có phải không?
Vẻ kinh ngạc của Đoàn lại càng rõ rệt, nhưng người thiếu niên cứ bình tĩnh nói, tiếng hạ thấp, có ý chỉ riêng Đoàn nghe.
- Thưa ông, bức thư ấy nói những gì, xin ông cho biết.
Bây giờ Đoàn mới trấn định được tâm trí, hỏi lại người thiếu niên:
- Những điều ấy có liên lạc gì với việc ông phỏng vấn tôi?
- Vâng! Không có liên lạc gì, hay chỉ liên lạc ít thôi, nhưng đó là điều rất quan hệ. Thưa ông Trần Thế Đoàn, xin ông nghe tôi và trả lời cho tôi rành mạch. Ông có những kẻ thù ghê gớm toan hại ông, những kẻ thù ấy ông có biết không và nếu biết, ông có rõ được một chút gì về mưu mô của họ không?
Đoàn lúc ấy lại nhìn người thiếu niên một cách rất kỳ dị,chưa kịp đáp thì anh ta lại nói:
- Xin ông cho biết, đó là những điều cực kỳ quan trọng, vì. . .
Đoàn bỗng hỏi:
- Nhưng ông là ai?
- Tôi là phóng viên báo “Thời Thế”.
- Vâng. Nhưng là người... Tên ông là gì?
- Tên tôi là Lê Phong, và là người rất có cảm tình với ông.
- Ông Lê Phong! Tôi vẫn biết tiếng ông... Tôi định đến thăm ông để hỏi những việc riêng và cần ông giúp.
Lê Phong đáp:
- Càng hay, vì những việc riêng ấy chính lúc này là lúc ông nên nói ra.
- Không, tôi không nói ở đây được xin mời ông lại chơi nhà hay chốc nữa ra, tôi sẽ xin đến báo "Thời Thế”. Bây giờ (Đoàn nhìn đồng hồ) bây giờ gần đến giờ rồi, xin lỗi ông. À mà tại sao ông biết?
- Biết gì kia?
- Biết các điều ông hỏi tôi. Ông biết từ bao giờ?
-Vừa rồi.
-...?...
- Vâng. Vết mực ở ngón tay ông, ông viết bức thư dài, ông chưa kịp rửa tay, và đến muộn, còn bức thư mới nhận được, ông nhét nó vào túi áo một cách cũng vội vã đến nỗi để tôi trông thấy mé phong bì nhô lên. . . Còn về những kẻ thù của ông thì tôi cũng vừa mới thấy trong lúc tôi nói chuyện với ông, tôi vẫn để ý đến hai người lạ mặt đứng cách đây ngót 10 thước và nhìn ông một cách hằn học không biết ngần nào. Chúng lẩn xa rồi.
Nhưng tôi vẫn nhận được: một người ăn vận quần áo tím thẫm, đeo kính trắng, quấn phu la tuy trời không rét lắm, còn người kia thì rỗ hoa mặc quần áo màu tro, cao lớn, và cụt một tay.
Đoàn kêu sẽ lên một tiếng:
- Trời ơi! Người cụt tay?
- Vâng cụt tay trái, tay ấn thọc luôn vào túi, nhưng tôi vẫn chú ý nên không giấu được tôi...
Đoàn nhắc đi nhắc lại:
- Người cụt tay? Trời ơi! Tôi hiểu rồi, suốt mấy ngày nay, khi ở trường ra, khi sắp bước vào nhà, khi đi xem chiếu bóng hay ở hiệu cao lâu, lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, tôi thường gặp hắn, tôi cũng chú ý đến cái tay cụt ấy, nhưng tôi không ngờ gì... Đến bây giờ...
Mặt Đoàn tái xanh đi. Chàng hốt hoảng nhìn ra, không trả lời những tiếng chào hỏi của những người bạn qua đấy như trước nữa. Chàng thốt nhiên nắm lấy tay Lê Phong:
- Ông Lê Phong, nếu vậy thì tính mệnh tôi nguy mất, tính mệnh tôi nguy thật, ông. . . Tôi nhờ ông tìm giúp kẻ thù tôi nhé . . .ông ngăn cản hộ, tôi biết chỉ ông ngăn cản nổi...
Giọng nói mỗi lúc một thêm van vỉ:
- Vâng, xin ông giúp tôi, ông cứu tôi... Trời! Đến lúc này,việc tôi sắp thành, kết quả gần thấy rồi, mà... Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời tôi, nhưng tôi cũng không được vui mấy.
- Thế ra ông biết cách hành động của kẻ thù đã lâu.
- Tôi biết gì? Có lẽ tôi ngờ thôi... Tôi vẫn ngờ rằng có kẻ muốn hại tôi, nhưng mãi hôm nay, mãi lúc này, tôi mới biết rõ.
-Thế sao ông không đi trình sở Liêm phóng?
- Tôi cũng định thế, nhưng xét ra có điều bất tiện. Ông Lê Phong, ông tìm ra nhé! ông đi bắt ngay hộ hai đứa nhé. Tôi đến điên cuồng lên mất?
Lê Phong ôn tồn nói:
- Đi bắt! Tôi chỉ là người nhà báo. . . Vả lại chúng nó không ở đây nữa, chúng hẳn tránh xa rồi.
- Ông chắc không?
Lê Phong toan trả lời "Tôi đoán thế”. Nhưng muốn an ủi Đoàn, anh ta nói:
- Chắc. Nhưng ông vẫn phải đề phòng cẩn thận. Bây giờ xin ông cứ yên tâm vào giảng đường vì hình như đến giờ rồi. À quên, ông đứng lại để tôi chụp ông bức ảnh.
Bấm xong bức ảnh. Lê Phong bắt tay người thiếu niên bác sĩ lúc đó vừa có người ra gọi, rồi lững thững đến ngồi lên một cái ghế dài gần cửa, cặm cụi viết lên cuốn sổ tay.
Anh ta vừa viết được cái đầu đề:
- “Một cuộc phỏng vấn vội vàng. Mấy phút cùng thiếu niên bác sĩ Trần Thế Đoàn, một nhà thông thái kỳ dị...”
Bỗng đập tay xuống ghế chép miệng:
- Ồ ngốc chưa ! Vội gì thì vội, nhưng quên không xem bức thư lạ lùng kia thì ngu thực...
Ngẫm nghĩ một lát, lấy đồng hồ xem. Lê Phong toan đứng dậy, nhưng vẫn ngồi yên. Anh tắc lưỡi một cái, rồi viết rất nhanh, vừa viết vừa đưa mắt nhìn mấy người đến chậm vội vã bước vào giảng đường.
Lúc bốn trang giấy nhỏ đã đầy chữ. Lê Phong bước ra ngoài, đến bên một người ghếch xe đạp đợi ở vệ đường, đưa cái "Tin" mới xé ở sổ tay ra cho hắn và dặn:
- Anh về ngay tòa báo, bảo sửa qua bài tôi viết, rồi đăng ngay, cần lắm. Trang nhất, đầu đề rất to, mau lên cho kịp số hôm nay.
Rồi ngoắt quay vào, anh lẩm bẩm nói một cách rất sung sướng:
- Nào! Lê Phong, đem hết sức hết trí ra! Câu chuyện không đến nỗi tầm thường lắm.
Sắp bước lên thang để vào chỗ dành riêng cho các phóng viên, Lê Phong chợt để ý đến một mảnh giấy nhỏ rơi dưới đất. Anh nhặt lên và bất giác kêu lên một tiếng sẽ: “Ô! lạ chưa!”.Trên mảnh giấy có mấy hàng chữ này, lối chữ in hoa, vạch bằng bút chì:
“Lê Phong, anh coi chừng đó, đừng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì”.
(Trích Thế Lữ, Mai Hương và Lê Phong, 1939)
Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên? Cơ sở nào khiến em nhận định như vậy?
- Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên: truyện trinh thám.
- Cơ sở để khẳng định thể loại truyện trinh thám:
+ Đề tài của truyện: Tội ác.
+ Yếu tố cấu thành nên tác phẩm chính là tội ác.
+ Chủ đề: Xoay quanh truyện phá án, tìm ra lí do phạm tội.
+ Nhân vật: Thám tử - Phóng viên (có tài năng đặc biệt), nạn nhân và kẻ tội phạm.
+ Cốt truyện là một câu đố bí ẩn (cần có lời giải đáp: Tại sao X lại phạm tội cố ý giết người).
+ Thủ pháp nghệ thuật: Tạo sự bí ẩn nhằm đánh lạc hướng người đọc; tạo sự sáng tỏ dẫn dắt người đọc đến việc giải đố bí ẩn.
+ Cấu trúc hình học của hình tượng nhân vật: mối quan hệ tam giác giữa cảnh sát – thủ phạm – nạn nhân. Đây là cuộc đấu trí ngang ngửa giữa thủ phạm với chàng phóng viên Lê Phong tài ba.
Truyện được kể bằng ngôi kể thứ mấy? Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể đó?
- Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ ba.
- Nhận xét về tác dụng của việc sử dụng ngôi kể của nhân vật này đối với nội dung câu chuyện:
+ Tạo cái nhìn khách quan về những sự việc xảy ra.
+ Giúp người kể có thể kể linh hoạt nội dung của câu chuyện.
Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là ai? Dựa vào văn bản đọc, em hãy chia sẻ những hiểu biết của mình về nghề phóng viên?
* Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là Lê Phong – một phóng viên rất tài ba - một thám tử nghiệp dư tay ngang.
* Những hiểu biết của em về nghề phóng viên:
- Phóng viên là người làm nghề chuyên chụp ảnh, săn tin, xử lý thông tin, viết bài để đăng cho các tòa soạn báo, tạp chí, truyền hình…
- Công việc của phóng viên bao gồm: quan sát, ghi chép, phỏng vấn người đưa tin, viết bài hoặc sáng tạo nội dung về các sự kiện, tin tức quan trọng.
- Để trở thành một phóng viên thực thụ, cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản như sau:
· Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
· Kỹ năng viết bài rõ ràng, xúc tích và mang tính thuyết phục.
· Kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn để thu thập và lấy thông tin từ các đối tượng liên quan.
· Khả năng nghiên cứu và phân tích thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác của thông tin.
· Làm việc dưới áp lực công việc tốt, bởi phóng viên thường phải làm việc dưới áp lực thời gian và khối lượng khá lớn.
· Trung thực, đưa tin đúng nội dung, không xào nấu làm sai sự thật.
· Có khả năng làm việc và phối hợp đội nhóm tốt.
· Cẩn thận, tỉ mỉ, đảm bảo tính chính xác của nội dung cung cấp đến công chúng.
· Không ngại học tập và tiếp thu thêm kiến thức mới.
Theo em nhan đề của văn bản “Người phải chết” đã hướng sự chú ý của độc giả vào câu chuyện ngay từ nhan đề. “Người phải chết” đã bộc lộ tính chất chủ đề của câu chuyện một “tội ác” sắp sửa được thực hiện; kích thích trí tò mò và khả năng phán đoán của người đọc, hé lộ nạn nhân của vụ án này là ai.
Nhân vật thám tử Lê Phong đã thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật chính trong truyện trinh thám? Làm rõ ý kiến của em bằng những chi tiết trong văn bản.
* Nhân vật thám tử Lê Phong thể hiện những đặc điểm nổi bật của nhân vật chính trong truyện trinh thám:
- Khả năng quan sát tỉ mỉ.
- Khả năng suy luận logic.
- Kiến thức uyên bác.
- Tư duy độc lập.
- Lòng dũng cảm.
* Các chi tiết tô đậm tài năng của phóng viên tài ba Lê Phong:
+ Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
+ Nhìn vết mực trên ngón tay và bức thư trong túi của Trần Thế Đoàn mà biết được anh ta vì phải viết 1 bức thư rất dài nên đến muộn.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Nhìn bức thư nhét vội trong túi áo vị bác sĩ trẻ Thế Đoàn và quan sát thấy có 2 kẻ khả nghi đứng quanh đó mà biết được có kẻ đang muốn ám sát bác sĩ này.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Hành động ghi chép tỉ mỉ, chụp ảnh chuyên nghiệp, xử lý thông tin và đưa tin nhanh chóng. -> Đây chính là yếu tố cần có của một phóng viên chuyên nghiệp.
+ Hé lộ cho Thế Đoàn biết kẻ cụt tay là tên sát thủ nhằm cảnh báo cho nạn nhân biết mà đề phòng. -> hành động trượng nghĩa.
+ Mảnh giấy đe dọa, ngăn cản Lê Phong “Lê Phong, anh coi chừng đó, đứng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì.” Cho biết tài năng phá án của anh. Anh đã từng nhúng tay tìm ra chân tướng rất nhiều vụ án. Cả nạn nhân và kẻ thủ phạm đều biết rõ khả năng này của anh.
+…
Từ nội dung của câu chuyện, em rút ra bài học gì cho bản thân?
Một số bài học cho bản thân:
+ Biết nhiều quá đôi khi cũng gặp nguy hiểm.
+ Giỏi quá đôi khi cũng gặp họa.
+ Kẻ ác luôn đứng trong bóng tối.
+ Cần học cách bảo vệ bản thân.
+ Cần rèn cho mình khả năng quan sát và tư duy logic để phán đoán tình hình...
+…
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG QUẢNG BÌNH
VÀ VẺ ĐẸP XỨNG TẦM DI SẢN THẾ GIỚI
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình là điểm đến hấp dẫn bất cứ tin đồ du lịch nào. Nơi đây sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, những hang động với vẻ đẹp diệu kỳ, những cánh rừng nguyên sinh hoang sơ và vô số điều thú vị chờ bạn khám phá khi có cơ hội du lịch Quảng Bình.
1. Giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình
1.1. Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở đâu?
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nằm trong quần thể sinh thái Bắc Trường Sơn, thuộc địa phận 3 huyện là Bố Trạch, Minh Hoá và Quảng Ninh. Từ trung tâm thành phố Đồng Hới bạn cần di chuyển quãng đường khoảng 50km về phía Tây Bắc để đến được đây.
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình được đánh giá là 1 trong 238 hệ sinh thái quan trọng trên toàn cầu, sở hữu vùng Karst (dạng địa hình phong hóa đá vôi) rộng nhất thế giới với diện tích trên 200.000ha.
1.2. Diện tích Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có tổng diện tích lên tới 343.638,04ha. Trong đó vùng lõi được ước tính có diện tích khoảng 125.729,6ha, vùng đệm có diện tích khoảng 217.908,44ha.
2. Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Năm 2003, xét duyệt theo tiêu chi địa chất, địa mạo và năm 2015 xét duyệt theo tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái. Đây chính là niềm tự hào của Việt Nam nói chung và ngành du lịch nói riêng, đưa vẻ đẹp của thiên nhiên nước ta đến gần hơn với bạn bè quốc tế.
3. Những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng
3.1. Quần thể hang động có một không hai
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình sở hữu quần thể hơn 300 hang động lớn nhỏ được mệnh danh là kỳ quan đệ nhất động. Vì thế nơi đây đã thu hút rất nhiều các nhà khoa học chuyên nghiên cứu địa hình hang động và các nhà thám hiểm đến tìm hiểu về cách mà thiên nhiên đã tạo nên một kỳ quan có một không hai này ...
Hệ thống hang động tuyệt đẹp của vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng đã đưa nơi đây thành một trong những điểm du lịch “hot” nhất của Việt Nam
3.2. Hệ thống sông ngòi chằng chịt
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình là nơi có sông Troóc, sông Chày và sông Son chảy qua. Những dòng nước trong xanh len lỏi giữa vùng núi đá vôi đã tạo thành loại địa hình Karst rộng lớn nhất thế giới với vẻ đẹp như một bức tranh thuỷ mặc được vẽ nên bởi tạo hóa diệu kỳ...
3.3. Khu vực rừng nguyên sinh Phong Nha Kẻ Bàng"
...Rừng nguyên sinh tại Phong Nha Kẻ Bàng với độ che phủ gần như tuyệt đối. Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng sở hữu khu rừng nhiệt đới nguyên sinh có độ che phủ lên đến trên 96,2%. Tại đây, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rất nhiều các loại thực vật đặc thù của địa hình rừng núi đá vôi như chò đãi, chò nước, trầm hương, nghiến, sao, ba kích v.v Đặc biệt, tại đây các nhà nghiên cứu còn tìm thấy nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như bách xanh đá, lan hài đốm, lan hài xanh, lan hài xoắn v.v.
3.4. Giá trị văn hóa và lịch sử
Bên cạnh các giá trị thiên nhiên cần được bảo tồn, Phong Nha Kẻ Bàng còn là nơi lưu giữ hệ di tích lịch sử và văn hoá có giá trị vô giá đối với ngành khảo cổ. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những dấu vết và hiện vật từ thời tiền sử, các công trình văn hóa Chămpa và Việt cổ, những di tích của căn cứ được xây dựng trong kháng chiến chống Pháp dưới thời vua Hàm Nghi, con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, Bến phà Xuân Sơn.
Quảng Bình đã góp phần thống nhất hai miền Nam Bắc v.v. Tất cả những điều này đã phản ánh bề dày của lịch sử ngàn đời dân tộc, khắc ghi những chiến công hiển hách và biết bao xương máu của các thế hệ ông cha ta đã đổ xuống để giành lấy độc lập và tự do cho đất nước.
(Tuyết Trịnh, MIA.vn Go Quảng Bình, ngày 26.09.2023) https://mia.vn/cam-nang-du-lich/vuon-quoc-gia-phong-nha-ke-bang-quang-binh-va-ve- dep-xung-tam-di-san-the-gioi-6020)
Văn bản đã trình bày những thông tin cơ bản nào?
Những thông tin trình bày trong văn bản: Giới thiệu về vị trí địa lí, diện tích và những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng.
Đặc điểm kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh được thể hiện qua các yếu tố nào?
Đặc điểm kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh được thể hiện qua các yếu tố:
- Sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính như là: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở đâu? Những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng...
- Một số từ ngữ chuyên ngành: đa dạng sinh học, sinh thái, địa hình Karst, rừng nhiệt đới nguyên sinh ...
- Hình ảnh minh hoạ.
Khi giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, tác giả có thái độ như thế nào?
Khi giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, tác giả có thái độ: Tự hào, trân trọng vẻ đẹp của Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng.
Những giá trị của Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng được nêu trong văn bản là gì?
Những giá trị của Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng được nêu trong văn bản: Giá trị về du lịch (Di sản thế giới); Giá trị về địa chất (nghiên cứu khoa học); Giá trị văn hóa và lịch sử.
Nhan đề Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình và vẻ đẹp xứng tầm di sản thế giới đã làm nổi bật và khái quát nội dung của văn bản chưa? Vì sao?
Nhan đề Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình và vẻ đẹp xứng tầm di sản thế giới đã làm nổi bật và khái quát nội dung của văn bản vì: Từ nhan đề này, tác giả đã triển khai những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng như: quần thể hang động có một không hai; hệ thống sông ngòi chằng chịt; khu vực rừng nhiệt đới nguyên sinh; giá trị văn hóa và lịch sử...các thông tin trong bài đều cung cấp thông tin của khu danh lam thắng cảnh này.
Đọc xong văn bản, em có được những hiểu biết gì về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng và còn muốn biết thêm những thông tin gì về địa danh nổi tiếng này?
- Thông qua văn bản, em biết được Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng là một kì quan thiên nhiên thế giới, là một thế giới sống sống động với những quần thể hang động có một không hai; hệ thống sông ngòi chằng chịt; khu vực rừng nhiệt đới nguyên sinh có độ che phủ lên đến trên 96,2%... Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng từ xưa đến nay và vấn đề bảo tồn di sản hiện.
- Ngoài ra, em còn muốn biết thêm về quần thể hang động, sự thay đổi của nay như thế nào.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
VỊNH HẠ LONG
Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh có một không hai của đất nước Việt Nam.
Cái đẹp của Hạ Long trước hết là sự kì vĩ của thiên nhiên. Trên một diện tích hẹp mọc lên hàng nghìn đảo nhấp nhô khuất khúc như rồng chầu phượng múa. Đảo có chỗ sừng sững chạy dài như bức tường thành vững chãi, ngăn khơi với lộng, nối mặt biển với chân trời. Có chỗ đảo dàn ra thưa thớt, hòn này với hòn kia biệt lập, xa trông như quân cờ bày chon von trên mặt biển. Tùy theo sự phân bố của đảo, mặt vịnh Hạ Long lúc tỏa mênh mông, lúc thu hẹp thành ao, thành vũng, lúc bị kẹp giữa hai triển đảo như một dòng suối, lúc uốn quanh chân đảo như dải lụa xanh.
Thiên nhiên Hạ Long chẳng những kì vĩ mà còn duyên dáng. Nét duyên dáng của Hạ Long chỉ là cái tươi mát của sóng nước, cái rạng rỡ của đất trời. Sóng nước Hạ Long quanh năm trong xanh. Đất trời Hạ Long bốn mùa sáng trắng. Bốn mùa Hạ Long phủ trên mình một màu xanh đằm thắm: xanh biếc của biển, xanh lam của núi, xanh lục của trời. Màu xanh ấy như trường cửu, lúc nào cũng bát ngát, cũng trẻ trung, cũng phơi phới.
Tuy bốn mùa là vậy, nhưng mỗi mùa Hạ Long lại có những nét riêng biệt, hấp dẫn lòng người. Mùa xuân của Hạ Long là mùa sương và cá nục. Mùa hè của Hạ Long là mùa gió nồm nam và cá ngừ, cá vược. Mùa thu của Hạ Long là mùa trăng biển và tôm he. Song quyến rũ hơn cả vẫn là mùa hè của Hạ Long. Những ngày hè đi bên bờ Hạ Long ta có cảm giác như đi trước cửa gió. Ngọn gió lúc êm ả như ru, lúc phần phật như quạt, mang cái trong lành, cái tươi mát của đại dương vào đất liền, làm sảng khoái tâm hồn ta. Trong tiếng gió thổi, ta nghe tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ, tiếng ve ran và cả tiếng máy, tiếng xe, tiếng cần trục từ trên các tầng than, bến cảng vọng lại. Những âm thanh của sự sống trăm ngả tụ về, theo gió ngân lên vang vọng.
Núi non, sóng nước tươi đẹp của Hạ Long là một bộ phận của non sông Việt Nam gấm vóc mà nhân dân ta đời nọ tiếp đời kia mãi mãi giữ gìn.
(Theo Thi Sảnh)
Tác giả tả cảnh theo trình tự nào?
Tác giả tả cảnh vịnh Hạ Long không theo trình tự thời gian mà tả theo đặc điểm nổi bật của cảnh.
Bài văn gồm 3 phần
* Mở bài: (câu đầu)
- Giới thiệu về vịnh Hạ Long
* Thân bài: gồm 3 đoạn
- Đoạn 1: Từ “Cái dẹp của Hạ Long.” đến “...như dải lụa xanh”.
→ Sự kì vĩ của vịnh Hạ Long với hàng nghìn hòn đảo.
- Đoạn 2: Từ “Thiên nhiên Hạ Long.” Đến “...cũng phơi phới”.
→ Vẻ duyên dáng của vịnh Hạ Long.
- Đoạn 3: Từ “Tuy bốn mùa là vậy...” đến “...ngân lên vang vọng”.
→ Những nét riêng biệt hấp dẫn của Hạ Long qua bôn mùa.
* Kết bài: Câu cuối:
- Nhân dân mãi mãi giữ gìn Hạ Long vì nó là một bộ phận của non sông Việt Nam gấm vóc.
Tìm những hình ảnh so sánh trong bài.
Những hình ảnh so sánh trong bài
- “....hàng nghìn đảo nhấp nhô, khuất khúc như rồng chầu, phượng múa”.
- “Có chỗ đảo dàn ra thưa thớt như quân cờ bày chon von trên mặt biển”.
- “mặt vịnh Hạ Long như một dòng suối, lúc uốn quanh chân đảo như dải lụa xanh”.
- “Ngọn gió lúc êm ả như ru, lúc phần phật như quạt”
Nêu tác dụng của các biện pháp so sánh đó.
1. So sánh về hình dáng đảo:
So sánh đảo với rồng chầu phượng múa: Thể hiện sự hùng vĩ, uy nghi của các hòn đảo.
So sánh đảo với bức tường thành: Thể hiện sự kiên cố, vững chãi của các hòn đảo.
So sánh đảo với quân cờ: Thể hiện sự nhấp nhô, lấp lánh của các hòn đảo trên mặt biển.
2. So sánh về không gian vịnh:
So sánh mặt vịnh với ao, thành vũng: Thể hiện sự đa dạng về địa hình của vịnh.
So sánh mặt vịnh với dòng suối: Thể hiện sự uốn lượn, quanh co của các hòn đảo.
3. So sánh về màu sắc:
So sánh màu nước vịnh với màu xanh biếc: Thể hiện sự trong xanh, tươi mát của nước.
So sánh màu núi với màu xanh lam: Thể hiện sự hùng vĩ, thơ mộng của núi non.
So sánh màu trời với màu xanh lục: Thể hiện sự tươi sáng, bao la của bầu trời.
4. So sánh về âm thanh:
So sánh tiếng gió với tiếng ru, tiếng quạt: Thể hiện sự êm ả, nhẹ nhàng của gió.
So sánh tiếng gió với tiếng máy, tiếng xe, tiếng cần trục: Thể hiện sự sôi động, náo nhiệt của cuộc sống.
* Tác dụng của các hình ảnh so sánh:
- Giúp cho việc miêu tả cảnh vật trở nên sinh động, cụ thể, hấp dẫn hơn. Nhờ có các hình ảnh so sánh, người đọc có thể hình dung ra được vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của Vịnh Hạ Long một cách dễ dàng và rõ ràng hơn.
- Gợi tả cảm xúc của tác giả trước cảnh đẹp Vịnh Hạ Long. Qua các hình ảnh so sánh, ta có thể cảm nhận được niềm tự hào, say mê của tác giả trước vẻ đẹp của non sông đất nước.
- Làm cho ngôn ngữ thêm phong phú, tăng tính biểu cảm. Việc sử dụng các hình ảnh so sánh một cách hợp lý giúp cho bài viết trở nên sinh động, hấp dẫn và thu hút người đọc hơn.
- Ngoài ra, các hình ảnh so sánh còn góp phần khẳng định giá trị của Vịnh Hạ Long - một di sản thiên nhiên độc đáo của Việt Nam.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ ông đã ngoài bốn mươi tuổi, đã trải qua thời Lê – Trịnh, thời Tây Sơn đến thời Nguyễn. Những năm thiếu thời sống ở Thăng Long, ngót mười năm lưu lạc sống chung với nhân dân, và mấy năm làm quan dưới triều đình mới, ông đã chứng kiến những cảnh thối nát của xã hội phong kiến suy tàn thời Lê -Trịnh, đến sự vùng dậy mãnh liệt của thời Tây Sơn, v.v… Những biến cố ấy khắc sâu vào tâm trí của ông và được phản ánh vào văn chương một cách sâu sắc.
Trong Truyện Kiều, mới thoáng qua bề ngoài ta thấy chế độ phong kiến yên tĩnh, vững vàng “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng thực chất thì mục ruỗng từ bên trong. Bọn quan lại phong kiến toàn là lũ sâu mọt, là những thế lực vô cùng hắc ám: Một tên quan xử kiện vụ Vương Ông, thằng bán tơ vu oan cho gia đình họ Vương, nhưng quan chẳng cần điều tra, nghiên cứu gì, chỉ cốt khảo cho ra tiền: “Có ba trăm lạng việc này mới xong”, đẩy gia đình họ Vương vào cảnh tan nát, phá tan mối tình đẹp đẽ của Thúy Kiều và Kim Trọng.
Đến như “Quan Tổng đốc trọng thần” họ Hồ, đại diện cho triều đình cũng là con người bỉ ổi, mất tư cách: dụ Từ Hải hàng rồi lừa giết một cách hèn nhát, dở trò dâm ô ngay với người vợ kẻ mình giết, rồi đem gán cho một tên thổ quan, để đến nỗi Kiều phải gieo mình xuống sông Tiền Đường.
Trong lúc đó, bọn đại quí tộc như “họ Hoạn danh gia” tha hồ làm mưa làm gió. Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước. Hoạn Thư còn lập mưu bắt cóc Kiều đem về cho mụ mẹ ngược đãi và bày ra trò gặp gỡ éo le chua xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Hoạn Thư “con quan Lại bộ”, tuy thông minh sắc sảo có thừa nhưng vô cùng nham hiểm độc ác:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.”
Bên cạnh cường quyền, bọn phong kiến quan liêu ấy còn có thứ quyền hung hãn hơn là đồng tiền. Cả một lũ quan lưu manh “trong tay sẵn có đồng tiền” nên chúng tha hồ hoành hành làm hại những người lương thiện. Đồng tiền mà trước đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo tác dụng phá hoại đạo đức phong kiến:
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử,
Hết cơm hết rượu hết ông tôi.”
Đến thời Nguyễn Du, đồng tiền càng tác oai tác quái hơn. Cũng vì có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật. “Nghĩ rằng cũng mạch thư hương” như Sở Khanh, vì tiền mà chịu làm “mặt mo” để thi hành độc kế của Tú Bà… Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen”. Nó dày xéo lên công lý, nó mua được lương tâm của con người. Nó đánh giá tài đức, phẩm cách con người như đánh giá một món hàng bán ngoài chợ. Và Nguyễn Du đã vạch mặt tác hại của đồng tiền đối với xã hội và cuộc sống con người:
“Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
Qua đó, ta thấy được xã hội trong Truyện Kiều là một xã hội phong kiến thối nát. Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó. Truyện Kiều quả thật là một “Bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến xấu xa, tàn bạo”.
(Trích: Những giá trị và hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều – GS.TS. Lê Văn Quán, Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113),2012; tr.3-11)
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Văn bản trên viết về vấn đề gì?
Xác định hệ thống luận điểm của văn bản?
Văn bản có 2 luận điểm:
- Luận điểm 1: Bối cảnh hiện thực thời Nguyễn Du sống. – Luận điểm 2: Sự tác động của bối cảnh hiện thực đối với “Truyện Kiều”.
Qua văn bản trên, tác giả bày tỏ quan điểm gì?
Quan điểm:
- Đánh giá cao giá trị hiện thực trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
- Phê phán chế độ phong kiến thời kì suy tàn.
Từ văn bản trên, anh/ chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay
Rút ra bài học về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay:
- Không hùa theo, không tiếp tay cho cái xấu, cái ác;
- Cần mạnh mẽ lên tiếng và có những hành động để ngăn chặn, loại bỏ cái xấu, cái ác;
- Cần kêu gọi mọi người cùng chung tay để đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Người làm thơ chọn chữ và tiếng không những vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy. Câu thơ hay, có cái gì làm rung những chiếc cốc kia trên bàn, làm lay động ánh trăng kia trên bờ đê. “Chim hôm thoi thót về rừng..”. Chúng ta đọc mà thấy rõ buổi chiều như hơi thở tắt dần, câu thơ không còn là một ý, một bức ảnh gắng gượng chụp lại cảnh chiều, nó đã bao phủ một vầng linh động truyền sang lòng ta cái nhịp phập phồng của buổi chiều. Mỗi chữ như một ngón nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả chung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc chung quanh. Người xưa nói: Thi tại ngôn ngoại.”
(Trích Mấy ý nghĩ về thơ, Tuyển tác phẩm văn học Nguyễn Đình Thi, Tiểu luận-Bút kí, NXB Văn học, Hà Nội, 2001)
Những ý chính của đoạn trích văn bản:
- Chữ và tiếng trong thơ phải có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Ngoài công
dụng gọi tên sự vật, nó còn có khả năng gợi hình, gợi cảm cao.
- Nghĩa của câu thơ, bài thơ, không chỉ là nghĩa cộng của những chữ, những tiếng
tạo nên câu thơ, bài thơ mà là nghĩa tổng hợp trong mối quan hệ đa chiều của những
tiếng, những chữ tạo nên câu thơ, bài thơ ấy.
Người viết đã sử dụng kết hợp các thao tác lập luận nào trong đoạn trích trên? Xác định thao tác lập luận chính.
- Người viết đã sử dụng kết hợp các thao tác : Bình luận, chứng minh...
- Bình luận là thao tác lập luận chính
+ Biểu hiện: Có nhiều câu văn thể hiện quan điểm, ý kiến của người viết về vấn đề chữ và tiếng trong thơ như câu 3,4 ...
Xác định và chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau:
Mỗi chữ như một ngón nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung.
Các biện pháp tu từ
- Biện pháp so sánh: Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy
Hiệu quả nghệ thuật: Làm tăng tính gợi hình, gợi cảm. Có cảm giác mỗi chữ không
còn là một cái vỏ ngôn ngữ vô hồn, bất động mà lung linh, sinh động, có sức sống
đang toả nhiệt và truyền hơi ấm sang người đọc.
- Biện pháp ẩn dụ: Hình ảnh một vùng sáng chung.
Hiệu quả nghệ thuật: Đó là nghĩa của những tiếng, những chữ ( nói chung là từ ngữ)
trong mối quan hệ tương tác, hoà hợp, bổ sung lẫn nhau để tạo nên những ý nghĩa
ngoài ý nghĩa riêng của mỗi tiếng, mỗi chữ. Phép ẩn dụ cũng làm tăng tính gợi hình
gợi cảm cho câu văn.
Anh/ chị hiểu như thế nào về câu: "Thi tại ngôn ngoại”? Hãy chỉ ra phần "Thi tại ngôn ngoại” trong 2 câu thơ:
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
(Đất nước- Nguyễn Đình Thi)
- Thi tại ngôn ngoại nghĩa là : Ý thơ ở ngoài lời thơ
- Phần Thi tại ngôn ngoại trong hai câu thơ:
+ Tiếng nói thiêng liêng của lịch sử cha ông luôn vọng về nhắc nhở.
+ Sức mạnh truyền thống của lịch sử dân tộc tạo nên động lực, niềm tự hào cho thế hệ hiện tại trong cuộc đương đầu với thực dân Pháp xâm lược.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Anh về cùng mùa hoa
(Tác giả: Tạ Hữu Yên)
1. Rớt xuống trang thơ tôi
Cánh hoa đào phớt đỏ
Chiều Sơn La lặng gió
Tôi nghe hoa thì thầm
2. Tôi nghe nụ nảy nầm
Từ kẽ tường nhà ngục
Trở trăn và khó nhọc
Trong giá lạnh mùa đông
3. Cái hạt non Anh trồng
Nở mùa đào Cộng sản
Nụ hoa chúm chím hồng
Khoảng trời bừng nắng rạng
4. Trái tim người Cách mạng
Sẽ không héo bao giờ
Gieo ý nhạc vần thơ
Cho mai sau hát mãi
5. Trang thơ tôi đằm lại
Giữa nhà tù Sơn La
Tô Hiệu ơi! Có phải
Anh về cùng mùa hoa?
Chú thích:
Tô Hiệu, một chiến sĩ cộng sản bị thực dân Pháp cầm tù trong nhà ngục tỉnh Sơn La. Anh đã ươm một hạt đào mọc thành cây trong sân nhà ngục và cây đào đó nay vẫn còn Tô Hiệu đã mất trong nhà ngục Sơn La do đòn roi tra tấn của giặc.
Bài thơ viết theo thể thơ nào?
Bài thơ "Anh về cùng mùa hoa" được viết theo thể thơ lục bát.
Những từ ngữ và hình ảnh nào miêu tả sự phát triển vô cùng khó khăn của cây đào trong sân nhà ngục?
Những từ ngữ và hình ảnh miêu tả sự phát triển khó khăn của cây đào trong sân nhà ngục gồm:
- "Nụ nảy nầm"
- "kẽ tường nhà ngục"
- "Trở trăn và khó nhọc"
- "giá lạnh mùa đông"
=> Các từ ngữ và hình ảnh này nhấn mạnh sự khó khăn, khắc nghiệt của môi trường nơi cây đào phải sinh trưởng và phát triển.
Từ việc tái hiện quá trình phát triển của cây đào, ý thơ mở rộng sang suy ngẫm về điều gì ở hai khổ 3 và 4?
Ở hai khổ 3 và 4, ý thơ mở rộng sang suy ngẫm về:
- Khổ 3: "Cái hạt non Anh trồng / Nở mùa đào Cộng sản / Nụ hoa chúm chím hồng / Khoảng trời bừng nắng rạng". Từ sức sống kiên cường của cây đào mà Tô Hiệu trồng, tác giả liên tưởng đến sự phát triển rộng khắp của lý tưởng cộng sản. Cây đào, dù khó khăn, vẫn nở hoa tươi đẹp, tượng trưng cho lý tưởng cộng sản đã phát triển và lan tỏa, mang lại niềm hy vọng và tương lai sán lạn cho đất nước.
- Khổ 4: "Trái tim người Cách mạng / Sẽ không héo bao giờ / Gieo ý nhạc vần thơ / Cho mai sau hát mãi". Lý tưởng cách mạng của Tô Hiệu và những người anh hùng sẽ không bao giờ phai nhạt, luôn sống mãi cùng các thế hệ sau và trong lòng dân tộc. Những giá trị và tư tưởng mà họ đã đấu tranh, hy sinh sẽ khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho đời sau, qua thời gian sẽ tiếp tục được nâng niu, giữ gìn và ca ngợi.
Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ trong khổ kết của bài thơ? Ý thơ nào ở khổ năm cho biết Tô Hiệu vẫn còn sống mãi?
Câu hỏi tu từ trong khổ kết:
"Tô Hiệu ơi! Có phải
Anh về cùng mùa hoa?"
Tác dụng của câu hỏi tu từ này là để khẳng định: Tô Hiệu, dù đã hy sinh, vẫn sống mãi trong tình cảm của mọi người. Hình ảnh "Anh về cùng mùa hoa" tượng trưng cho sự hiện diện, trường tồn của lí tưởng mà Tô Hiệu để lại cho đời sau. Câu hỏi này không chỉ bày tỏ niềm tưởng nhớ mà còn nhấn mạnh sự trường tồn của Tô Hiệu cũng như lý tưởng cách mạng của người anh hùng đã hy sinh.
Đọc bài thơ, em suy nghĩ gì về sự hi sinh của những người anh hùng đã hi sinh vì dân tộc?
Đọc bài thơ, em cảm nhận sâu sắc sự hy sinh cao cả và thiêng liêng của những người anh hùng đã dâng hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và tự do của dân tộc. Những người anh hùng như Tô Hiệu đã sống và chiến đấu trong những hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nhưng vẫn giữ vững tinh thần và lý tưởng cao đẹp. Sự hy sinh của họ không chỉ mang lại tự do và độc lập cho đất nước mà còn truyền lại những giá trị vô giá cho thế hệ sau. Em cảm thấy tự hào và biết ơn sâu sắc đối với những người anh hùng đã không tiếc cuộc sống của mình để bảo vệ và xây dựng một tương lai tươi sáng cho đất nước và nhân dân.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.
Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lí do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm công việc rất đỗi bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường ”
(Phạm Lữ Ân – Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012)
Tác giả đã chỉ ra những thái độ nào của con người đối với công việc ?
Tác giả đã chỉ ra những thái độ nào của con người đối với công việc: thèm khát, rẻ rúng, trân trọng, mặc cảm, bình thản, tự ti.
Theo tác giả, vì sao chúng ta “ không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” ?
Theo tác giả, chúng ta “không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” vì mỗi người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận.
Chỉ ra các biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả biểu đạt của chúng trong những câu văn sau trong văn bản : Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
- Biện pháp: Điệp (từ, ngữ, điệp cấu trúc), Liệt kê, Câu hỏi tu từ
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh mỗi người có một nhiệm vụ, một vai trò khác nhau trong xã hội và tất cả đều đáng trân trọng vì đều góp phần giúp ích cho cuộc sống, xây dựng xã hội.
+ Tạo giọng điệu khẳng định, tăng sức thuyết phục trong bàn luận và tạo sự liên kết câu trong đoạn văn.
Anh chị có đồng tình với ý kiến “Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường” ? Vì sao?
- Đồng ý với quan điểm của tác giả.
- Vì:
+ Cuộc sống luôn vận động và phát triển đòi hỏi con người phải có ý thức sống tích cực (sống có mục đích, lí tưởng,…), cố găng, vươn lên từng ngày.
+ Phải quyết tâm, tâm huyết với nghề mình đã chọn, nỗ lực không ngừng để đạt được thành quả cao nhất, đạt đến đỉnh cao của nghề.
+ Vươn lên trong cuộc sống để khẳng định giá trị bản thân, hoàn thành vai trò trách nhiệm công dân trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Có nhiều truyền thuyết về các vị anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, nhưng người ta vẫn mãi khắc ghi một truyền kỳ về người anh hùng ở làng Gióng, được truy phong là Phù Đổng Thiên Vương, mà nhân dân Việt Nam ta đời đời nhớ ơn.
Truyền thuyết kể rằng vào đời vua Hùng Vương thứ 6, ở một ngôi làng nhỏ có hai vợ chồng nghèo, sống rất tình nghĩa, phúc đức, cuộc sống khó khăn không khiến họ mệt mỏi hay nản chí thế nhưng tuổi cả hai ngày một lớn mà mong mỏi mãi cũng không có lấy một mụn con cho vui cửa vui nhà. Hai vợ chồng lấy làm buồn lòng lắm, hàng xóm cũng cảm thấy xót xa cho họ. Một hôm trời nắng to, bà lão theo lệ thường ra ruộng làm cỏ, trong lúc đang cặm cụi nhổ cỏ thì bà vợ bỗng nhìn thấy một dấu chân người đặc biệt to lớn. Không biết trời xui đất khiến thế nào bà lại đưa chân mình vào ướm thử, sau chuyện ấy bà cũng quên khuấy đi, ba tháng sau bà bỗng cảm thấy người mệt mỏi, chán ăn, đến thầy lang khám bệnh thì hay tin mình có thai. Khi nghe tin cả hai vợ chồng đều rất đỗi vui mừng mà sung sướng, bởi ước nguyện bấy lâu đã trở thành hiện thực, gia đình nhỏ của hai vợ chồng dần trở nên ấm áp hơn cả, ngày ngày chờ đợi đứa con bé bỏng ra đời trong hạnh phúc. Nhưng lạ thay, đã qua chín tháng mười ngày tròn mà người vợ vẫn chưa trở dạ, hai vợ chồng lấy làm lo lắng, đợi mãi đến khi cái thai được tròn mười hai tháng, thì đứa trẻ mới chịu chui từ bụng mẹ ra. Vừa ra đời người ta đã nhận xét rằng đây là một đứa bé có tư chất hơn người, bởi vẻ thông minh sáng sủa, khôi ngô tuấn tú, vợ chồng ông lão nghe thứ thì lại càng vui mừng hơn cả, đặt cho con cái tên là Gióng, cho dễ nuôi. Cuộc sống một gia đình ba người cứ thế êm đềm trôi đi, nhưng lạ thay mãi đến ba tuổi Gióng vẫn chẳng biết đi biết đứng, cha mẹ đặt đâu thì em ngồi đấy, em cũng chưa hề mở miệng nói một câu nào, điều ấy làm cho hai vợ chồng sốt ruột, bồn chồn không yên vì sợ con mình có bệnh lạ.
Năm ấy, giặc ở phương Bắc tràn vào nước ta xâm lược, giày xéo mảnh đất Lạc Việt, thế giặc mạnh, vua Hùng cùng với các Lạc Hầu, Lạc Tướng rất lấy làm lo lắng. Trước tình hình ấy vua bèn nảy ra một ý, cho sứ giả truyền tin tuyển mộ người tài, đức ra giúp nước. Khi sứ giả vừa loan tin đến đầu làng, thì Gióng bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây giúp con”, người mẹ tuy sửng sốt nhưng vẫn chạy ra mời sứ giả vào. Vào đến nơi, sứ giả chỉ thấy một cậu bé ba tuổi và hai vợ chồng đã tuổi xế chiều, thì lấy làm tức giận, tưởng mình bị đùa giỡn, thế nhưng Gióng đã kịp lên tiếng: “Giặc đã hoành hành khá lâu, ta xin nguyện vì bệ hạ, vì non sông xung phong đánh giặc, khẩn cầu ngài về tâu với nhà vua chế tạo cho ta một chiếc roi sắt từ loại sắt tốt nhất, đảm bảo đánh trăm trận mà không gãy, ban cho ta một con chiến mã bằng sắt nặng ngàn cân và một bộ giáp sắt nặng trăm cân, giáo mác xuyên không thủng. Như thế ta có thể yên tâm diệt giặc”. Sứ giả nghe thế thì lấy làm mừng rỡ vì đích thị đây là nhân trung long phượng, là bậc kỳ tài hiếm có nên mới có thể có khẩu khí hiên ngang, oai hùng của võ tướng như thế. Kể từ ngày gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, bao nhiêu cơm gạo ăn cũng không đủ, dân làng người nhà nhà chung tay góp cơm, góp gạo cho Gióng ăn, thầm mong chàng sớm ngày đánh tan lũ giặc xâm phạm bờ cõi.
Mười ngày sau, mọi thứ mà Gióng yêu cầu đều được mang tới cả, lúc này đây từ một đứa bé ba tuổi, Gióng đã trở thành chàng trai cao lớn vượt trội, tầm vóc phi phàm, thân hình cao lớn, cơ bắp cuồn cuộn. Chàng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt, từ biệt quê hương và lên đường diệt giặc, trước khi đi Gióng quay lại nhìn cha mẹ “Kiếp này đa tạ phụ mẫu đã sinh dưỡng!”, rồi hướng thẳng phía trước mà đi, con ngựa sắt vốn tưởng là khối sắt không có linh tính, thế nhưng lúc này đây nó lại phát ra tiếng hí vang trời, rồi phóng vụt đi, chốc lát chỉ còn lại cái bóng mờ mờ của người anh hùng, lẫn trong đám bụi thổi tung. Ngựa chạy một đường đến nơi đóng quân của giặc, ngựa đi đến đâu phun lửa đến đấy, thiêu trụi hết lương thực và lều trại của quân địch, chúng hoảng hồn bỏ cả vũ khí mà chạy thoát thân, kẻ giẫm đạp lên nhau, người thì chết dưới vó ngựa. Tráng sĩ vung roi sắt quất liên hồi vào lũ giặc cướp nước, khiến chúng chết như ngả rạ dưới vó ngựa, thế nhưng giặc quá đông, sau ba ngày chinh chiến thì không may roi sắt gãy làm đôi. Lúc này đây tráng sĩ vừa đuổi giặc đến khu vực có những lũy tre già hàng mấy chục tuổi, ngựa sắt phun lửa làm loài tre ấy trở nên vàng bóng. Nhanh trí, tráng sĩ đã dùng sức mạnh nhổ hẳn cây tre to nhất bên đường làm vũ khí thay roi sắt, kỳ diệu thay vốn chỉ là cây cỏ thế nhưng trên tay tráng sĩ, cay tre bỗng trở nên mạnh mẽ không kém gì so với những thứ vũ khí sắc bén khác. Sau bảy ngày chiến đấu, cuối cùng đất nước ta cũng sạch bóng quân thù, chỉ còn lại hàng vạn xác chết chốn sa trường, khung cảnh tiêu điều tan hoang.
Tráng sĩ sau khi diệt giặc thì thúc ngựa chạy vào rừng sâu, tìm nơi có dòng suối nguồn trong trẻo chưa ai biết đến, tắm rửa sạch sẽ, cởi bỏ lại bộ giáp sắt, như một cách báo cáo hoàn thành sứ mệnh, rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời. Vua Hùng để tưởng nhớ công ơn đã phong cho tráng sĩ là Phù Đổng Thiên Vương và cho xây lập đền thờ ngay tại quê nhà, để đời đời được hưởng nhang khói của nhân dân.
Trong đoạn trích của bài thơ ''Trưa hè'' của tác giả Anh Thơ. Tác giả đã vẽ cho chúng ta một bức tranh đẹp đẽ vô cùng, bức tranh vẽ về một buổi trưa hè vô cùng giản dị và mộc mạc ở một làng quê của nước Việt Nam xinh đẹp. Đây là một bức tranh rất đẹp và thanh bình. Bức tranh thiên nhiên buổi trưa hè với: bầu trời xanh, dải mây trắng, ánh nắng vàng, hoa lựu đỏ, vài ba chú bướm bay lượn... Bầu trời ngày hè cao vời vợi, ôi mới trong xanh làm sao, một màu xanh biếc ánh lên vẻ tươi sáng trong trẻo. Hòa lẫn vào màu xanh đó là những dải mây trắng muốt đang nhè nhẹ lướt trên nền trời xanh bao la. Xa xa có những đám mây màu hồng nhạt với những hình thù trông thật kì quặc. Ánh nắng ngày hè mới chói chang và gay gắt làm sao, những ánh nắng như đỏ lửa trải dài khắp cả một vùng quê như thể chúng đang muốn thiieu dọi mọi thứ nơi đây. Trong cái nóng đỏ lửa ấy, từng cơn gió từ đâu ghé qua nơi đây làm dịu đi phần nào cái nắng của buổi trưa hè. Rặng tre đầu làng đu đưa theo gió. Vài cánh diều đã theo chị gió bay lên cao tít, những cánh diều với đủ màu sắc và hình thù khác nhau do các nghệ nhân nhí trong làng tạo ra đang dập dờn trước gió nhìn trông vô cùng vui mắt. Tiếng sáo diều vi vu, khoan nhặt, đã phá vỡ cái không khí yên tĩnh vốn có của bưởi trưa hè. Trong vườn, một số cây rất hay được trồng như: cây mít, cây dứa,...đang bắt đầu bước vào đọ chín, mùi hương rất thơm và thoang thoảng khắp mọi nơi. Khi nhắc đến mùa hè thì chắc hẳn chúng ta sẽ nghĩ tới cây hoa phượng đầu tiên. Hoa phượng là biểu tượng của mùa hè, khi nhìn thấy nó ta sẽ nghĩ ngay tới những ngày hè oi ả và nóng bức. Hoa phượng nở cũng là lúc một năm học nữa lại sắp kết thúc, chúng ta sẽ phải xa mái trường thân yêu một thời gian.Nhưng em cảm thấy điểm nổi bật nhất của mùa hè đó chính là những chùm hoa lựu đỏ rực như những đốm lửa đang bùng cháy cả một góc vườn. Tô điểm cho không gian thêm phần sống động không ai khác ngoài mấy cô bướm xinh đẹp mang cho mình những đôi cánh mới kiêu sa làm sao. Những đôi cánh lộng lẫy với đủ sắc màu. Tiếng ve kêu râm ran khắp mọi nơi, tiếng ve giống như một bản hòa ca vang vọng khắp không gian. Tất cả đã làm cho làng quê Việt như bừng lên một sức sống mới. Cảnh làng quê vào buổi trưa hè thật đẹp, thật độc đáo, với những hình ảnh bình dị, quen thuộc gắn bó với mỗi người dân và tạo nên cái hồn riêng cho quê hương. Chúng ta, ai cũng có quê hương, quê hương là nơi ta sinh ra, là nơi cho ta những kỉ niệm đẹp đẽ về thời thơ ấu của mình. Buổi trưa hè là một bức tranh đẹp về quê hương. Nó là làm cho chúng ta thêm yêu quê hương của mình hơn. Với bao hình ảnh quen thuộc gắn bó với mỗi người và đẻ lại cho chúng ta biết bao cảm xúc khó quên, những hình ảnh khó có thể phai mờ trong tâm trí của mỗi người con đất Việt.
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết.
Thiên nhiên luôn tươi đẹp, hùng vĩ, lớn lao trong mắt nhìn của mỗi người. Con người không thể sống mà thiếu đi mặt trời, mặt trăng. Nhờ thiên nhiên ban tặng cho ta sự sống, ta phải biết ơn và giữ gìn bảo vệ tính nguyên sơ của thiên nhiên. Mỗi cá nhân phải có tình yêu tha thiết, tình cảm đặc biệt với thiên nhiên, phải ý thức được tầm quan trọng đó và tự xây dựng lối sống hòa hợp với thiên nhiên.
Thiên nhiên là gì? Chúng ta cùng làm rõ khái niệm về thiên nhiên. Thiên nhiên có hai khái niệm khác nhau. Theo kiểu khoa học thiên nhiên được hiểu rộng chỉ tất cả những gì sẵn có, hiện diện tồn tại xung quanh chúng ta, từ những loại vật chất nhỏ bé đến những thể tồn tại to lớn như mặt trăng, mặt trời, vũ trụ. Thiên nhiên hiểu theo cách thông thường, đơn giản gắn liền với thực tại thiên nhiên là tất cả những vật chất bao quanh con người, không phải do con người tự tạo ra mà do hình thành sẵn có trong tự nhiên dưới sự tác động qua lại lẫn nhau tạo nên các thực thể tự nhiên thường thấy: Ao, hồ, sông, suối, rừng cây, danh lam thắng cảnh đồi núi hùng vĩ mà tạo hóa ban tặng.
Tình yêu thiên nhiên là gì? Những biểu hiện thể hiện tình yêu thiên nhiên? Tình yêu thiên nhiên sự yêu mến và trân trọng thiên nhiên đã bao bọc và mang lại cho ta cuộc sống trong lành. thể hiện ở cách sống hòa hợp, gắn bó, rung động trước những cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ đó, biết giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên.
Những nhu cầu cần thiết của cuộc sống đều được khai thác từ nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Để có được nguồn đất đai giàu mỡ để tạo điều kiện cho con người trồng trọt, chăn nuôi, tạo ra của cải vật chất ngay trên mảnh đất mà tạo hóa thiên nhiên ban tặng. Để có nguồn nước ngọt sinh hoạt, ăn uống nuôi sống chúng ta cũng là do thiên nhiên tạo nên, đó là nguồn nước từ dòng sông, suối, mạch nước ngầm để có nước sạch ta sử dụng hằng ngày. Rừng cũn từ thiên nhiên cho ta môi trường trong xanh giúp thanh lọc không khí mát mẻ, trong lành, cung cấp oxy, chống xói mòn, lũ lụt. Rừng là nơi trú ẩn tuyệt vời cho các loài động vật quý hiếm, hoang dã, tồn tại nhiều sinh vật tạo nên đa dạng sinh học. Thiên nhiên biển là nơi chứa các loại hải sản đa dạng phong phú mang giá trị dinh dưỡng, cũng như giá trị kinh tế, mang lại thu nhập cho ngư dân, là nơi thích hợp được chọn xây dựng các địa điểm du lịch.
Thiên nhiên ngoài cung ứng các nhu cầu về vật, nuôi sống con người từ bao đời nay thì hiên nhiên cung cấp cho con người những giá trị mỹ quan, làm phong phú thêm đời sống tinh thần.Thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp biết bao, thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Trái Đất những cảnh sắc đẹp tuyệt vời khiến loài người phải ngất ngây. Từ châu Âu đến châu Á, mỗi địa điểm lại mang vẻ đẹp thiên nhiên riêng biệt. Các khu du lịch nghiêng về các giá trị tự nhiên ngày càng được nhân rộng để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, nhu cầu khám phá của con người. Sống trong một môi trường tràn ngập bóng mát cây xanh, sắc hoa sặc sỡ tô điểm thêm cuộc sống thêm màu nhiều màu sắc, tâm hồn con người cũng trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, thư thái hơn. Thiên nhiên là niềm cảm hứng bất tận trong thơ ca, nhạc họa; là người bạn tâm giao của các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ thời bấy giờ. Chính những giá trị vô cùng to lớn mang đến cho con người thì thiên nhiên được xem người bạn tốt của con người, chúng ta cần biết yêu thiên nhiên.
Hiện nay, có rất nhiều tấm gương tiêu biểu thể hiện tình yêu thiên nhiên, bảo vệ và gìn giữ tình yêu đó và lan tỏa đến tất cả mọi người. Tình yêu thiên nhiên trong văn học được tác giả xây dựng hình ảnh, miêu tả chân thực sâu sắc để làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên trong cuộc sống
Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam bằng những nốt nhạc, tạo cho đời ca khúc nổi tiếng. Trong bài “Nhớ về Cúc Phương,” ông viết: “Nhớ một thuở hồng hoang rừng chưa có tên; Mưa nắng thiên thu rừng cây non thành rừng đại ngàn; Rừng bao nhiêu tuổi rừng đâu có nhớ; Sao ta mãi gọi là em khi đất nước đặt tên cho rừng. Ơi Cúc Phương ơi! Mà nghe xao xuyến tên em ơi hương sắc; Rừng Việt Nam cho đất nước một kỳ quan; Bên em một lần để rồi xa nhớ mãi tình rừng xanh; Ngàn thu trầm dâng câu hát yêu thương về vui giữa đời…”. Tình yêu thiên nhiên được nhà văn khắc họa rõ nét qua từng câu chữ trong bài “Nhớ về Cúc Phương với một tình yêu to lớn, thiêng liêng, niềm tự hào về trước vẻ đẹp của núi rừng, lòng biết ơn mà thiên nhiên đem lại.
Các bạn biết đó con người và thiên nhiên có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời. Thiên nhiên bảo vệ, che chở cho con người và cung cấp những thứ cần thiết, quý báu để giúp con người có thể sinh tồn tới ngày hôm nay. Thiên nhiên mang đến cho con người tâm hồn thư thái, thoải mái, an nhiên sau những ngày bận rộn, bộn bề cuộc sống. Con người biết sống hòa hợp với thiên nhiên giúp ta tinh thần sảng khoái, sức khỏe bình phục lại sau những ngày vất vả, bận rộn với công việc. Thiên nhiên chính là môi trường sống của con người. Không có thiên nhiên, con người không thể tồn tại được. Bởi vậy, thiên nhiên được xem là tài sản chung vô giá của dân tộc và của cả nhân loại. Nếu thiên nhiên bị tàn phá sẽ làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống con người. Một khi trái đất mất cân bằng sinh thái, thiên tai sẽ xảy đến, chất lượng cuộc sống và tồn tại của con người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Tình yêu thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên là trách nhiệm của mỗi người. Chúng ta có ý thức giữ gìn bảo vệ và tránh làm những điều gây tổn hại đến thiên nhiên. Bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ chính sự sống trên trái đất và bảo vệ chính bản thân chúng ta.
Thiên nhiên mà giận dữ thì sẽ phải đón nhận hậu quả khôn lường như thiên tai, lũ lụt, hiện tượng băng tan, đe dọa đến sự sinh tồn của mọi sinh vật trên trái đất. Thiên nhiên là ngôi nhà chung của con người và tất cả các sinh vật trên trái đất. Mỗi một không gian cho con người và sinh vật trên trái đất đều được bao bọc bởi môi trường tự nhiên. Chính vì vậy mà sự tác động của con người lên không gian sống đó thì chúng ta đang trực tiếp phá hủy cuộc sống của chính mình. Thiên nhiên cung cấp đầy đủ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đời sống. Tất cả tài nguyên thiên nhiên là những vật chất sản sinh bởi quá trình tự nhiên. Ngày nay việc khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và những biến đổi về khí hậu. Nếu con người chỉ biết khai thác thiên nhiên mà không bảo vệ chúng thì khó có thể tồn tại lâu dài được.
Bên cạnh những hành động bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, có ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên. Song song tồn tại không ít những người vô ý thức, tắc trách và chỉ vì lợi ích vật chất trước mắt mà phá hủy, hủy hoại, lãng phí thiên nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho loài người. Họ ngang nhiên chặt cây, đốt phá rừng đầu nguồn, đánh bắt khai thác kiệt quệ tài nguyên khoáng sản, đánh bắt giết các động vật hoang dã bán để kiếm tiền. Chính những hành động thờ ơ, phá hủy thiên nhiên đã gây ra những hậu quả lớn, hằng năm thiên nhiên giận dỗi, nhiều quốc gia đối mặt với những trận lũ lụt lớn, sóng thần lịch sử thiệt hại nặng nề về người, mùa màng, tài sản của con, cuộc sống yên bình của trái đất vốn dĩ ngày nào đang bị đe dọa,..
Nhiều người cũng không phục hồi thiên nhiên sau khi đã lấy đi nhiều giá trị từ nó. Nhiều người không có cảm xúc gì trước vẻ tươi đẹp của thiên nhiên. Cuộc sống của họ thường đơn điệu và nhàm chán không có tầm nhìn xa, chỉ đam mê chạy theo lợi ích cá nhân mà bỏ mặc công lao gìn giữ bảo vệ thiên nhiên của ông cha ta từ xưa tới nay. Những hành động phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hủy ngôi nhà sinh tồn của trái đất cần được phê phán, phản ảnh mạnh mẽ, có những quy định về luật xử phạt nghiêm minh cho những hành động trên. Các bạn hãy sống hòa hợp với thiên nhiên, vì nó mang lại cho con người cảm giác bình yên và hạnh phúc, đừng bao giờ làm tổn hại đến thiên nhiên.
Học sinh cần làm gì để có tình yêu thiên nhiên và luôn sống hòa hợp với thiên nhiên? Trước hết mỗi học sinh là chủ nhân tương lai của đất nước, các bạn phải yêu mến và tôn trọng những gì thuộc về thiên nhiên, sử dụng tiết kiệm, không lãng phí những gì mà thiên nhiên đem lại. Biết yêu mến từ những điều đơn giản nhất từ cái cây, ngọn có, dòng sông, đồi núi, biển cả, nguồn nước,… Những điều đơn giản như tiết kiệm điện, tiết kiệm nước đó cũng là hành động thể hiện tình yêu với thiên nhiên rồi. Các bạn biết đó môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm, nhiều cây xanh, rừng cây bị chặt phá, nhiều rừng đầu nguồn bị phá hoại làm ảnh hưởng đến mạch nước ngầm cũng dần ít đi và khan hiếm. Đừng nghĩ điện nước là vô hạn, bởi dùng và khai thác quá mức không biết tiết kiệm thì cũng sẽ trở thành có hạn và dần dần tính dồi dào vốn có thiên nhiên sẽ dần mất đi bởi chính bàn tay hành động lãng phí của con người.
Chúng ta thử thả tâm hồn mình hòa hợp với thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ và thưởng thức những cái đẹp từ thiên nhiên. Sống gắn bó và gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên. Hãy tự tạo không gian thoải mái, thư thái, hãy đưa thiên nhiên đến gần với cuộc sống của mình. Hằng ngày tạo thói quen chăm sóc cây, trồng hoa, nuôi cá, tạo thêm không gian xanh cho ngôi nhà nhỏ của mình. Hoặc tổ chức những cuộc dã ngoại tham quan các danh lam thắng cảnh, những khu vườn quốc gia, cùng chung tay góp một phần công sức vào công cuộc bảo vệ môi trường tự nhiên. Hãy luôn giữ gìn màu xanh của bầu trời, màu xanh của biển, màu xanh của của núi rừng, màu xanh của niềm hy vọng về một cuộc sống chan hòa với thiên nhiên, một không gian xanh sạch đẹp. Học sinh phải biết bảo vệ thiên nhiên. Kiên quyết và kịp thời phê phán, chống lại mọi hành động tàn phá thiên nhiên. Biết khai thác từ thiên nhiên những gì có lợi cho con người và khắc phục. Không ngừng phục hồi bồi đắp các giá trị đã khai thác. Hạn chế những tác hại do thiên nhiên gây ra.
Thiên nhiên là nguồn cội, ngôi nhà chung của con người, thiên nhiên được biết đến là những điều tươi đẹp, hùng vĩ. Thiên nhiên mang lại không khí trong lành, tạo điều kiện sống, giúp con người sinh tồn và phát triển. Chúng ta nên có trách nhiệm với bản thân, với những người xung quanh và thế hệ tương lai, cùng nhau chung tay bảo vệ, gìn giữ và dành những tình cảm yêu thương, lòng biết ơn sâu sắc với thiên nhiên.
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử.
Cơn mưa lạnh đầu mùa trút xuống những mái hiên cổ kính khiến cho phố cổ Hội An nhỏ nhắn dường như co mình lại. Đâu đó tiếng rao đêm vang lên lanh lảnh làm xao động cả một khoảng trời: “Ai bánh chưng, bánh dày không?”.
Có lẽ, người dân trong nước cũng như nước ngoài không ai không biết đến Hội An: một khu phố cổ, đơn sơ, mộc mạc, nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng ba mươi ki-lô-mét. Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999.
Bước chân vào phố cổ, du khách sẽ thực sự ngạc nhiên trước một thế giới biệt lập. Không một tiếng gầm rú của xe cộ, tiếng ồn phát ra từ các nhà máy, xí nghiệp, hay ánh đèn rực rỡ sắc màu. Tất cả đã lùi xa, không gian và thời gian dường như lắng đọng trên mái ngói rêu phong cũ kĩ, những căn nhà gỗ từ xa xưa, chùa Cầu, quán hội Phúc Kiến, Quảng Đông, đang âm thầm, lặng lẽ tồn tại để người ta nhớ về một quá khứ đã qua. Ở đây, khách du lịch còn có thể thưởng thức những món ăn dân dã và đi thăm các làng nghề truyền thống, được gặp các con người “cổ”. Không những thế, du khách còn có thể tự tay làm cho mình một cái bình, ly, tách, bằng gốm để làm quà cho người thân.
Có lẽ, thời điểm phố cổ Hội An đẹp nhất là vào ban đêm. Khu phố nhỏ nhắn này trở nên lãng mạn và sâu lắng hơn, mang một nỗi niềm hoài cổ, khó có thể diễn tả được. Sáng kiến khôi phục đèn lồng vào mùa thu năm 1998 đã đem lại hiệu quả bất ngờ. Vào buổi tối, khoảng sau hai mươi giờ, mọi người dân trong phố cổ quay lại đời sống vào ba trăm năm trước. Họ tự nguyện tắt hết đèn ne-on, thay vào đó là ánh sáng mập mờ huyền ảo phát ra từ những chiếc đèn lồng. Những chiếc đèn tròn, lục lăng theo kiểu Trung Hoa treo ở cửa ra vào, đèn quả trám hay ống dài của Nhật Bản phất giấy trắng treo lơ lửng ở mái hiên. Vào đêm hội hoa đăng, tất cả mọi người phải tắt hết tất cả các thiết bị điện. Tuy nhiên họ không hề cảm thấy bất tiện vì việc này.
Cường độ ánh sáng có giảm đi, song ngọn lửa nhiệt huyết của mỗi con người vẫn bốc mạnh khi đi ngang phố cổ. Nhìn những mái nhà cũ kĩ, những người phụ nữ trong tà áo dài trắng đang cặm cụi làm việc dưới ánh đèn lồng, hay hai cụ già râu tóc bạc phờ so tài cờ tướng, nhâm nhi tách trà, cũng dưới ánh đèn lung linh, huyền ảo đó. Dường như con người đang đi ngược lại dòng thời gian để sống với những thứ đã từng hiện hữu.
Vào những đêm lễ hội, người ta thường tổ chức chơi đập niêu, kéo co, và nhiều trò chơi dân gian khác nữa. Khách du lịch cũng như người dân phố cổ tham gia rất hào hứng và nhiệt tình, tạo nên khung cảnh nhộn nhịp và sức sống tràn đầy cho thành phố. Những câu hò giã gạo, hò khoan, vang lên trên những chiếc thuyền trong đêm khuya thanh vắng. Các cô gái mặc áo bà ba, dịu dàng, thanh thoát làm rung động trái tim bao chàng lữ khách.
Hội An đã trở thành một huyền thoại, một dấu ấn khó phai nhòa của lịch sử, của những ai đã từng đặt chân đến nơi đây. Hội An sẽ mãi tồn tại trong tâm trí của chúng ta, để con người được sống với những cái đã qua, những vẻ đẹp giản dị của quá khứ.

