Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 9 Kết nối tri thức có đáp án
26 câu hỏi
Đọc kĩ ngữ liệu sau:
Gọi cho mẹ, tuần một lần cũng được Gọi chơi thôi, hỏi thăm mẹ thế nào… Ở nhà mẹ, ngoài cửa, đông buốt giá Cửa nhà con, đang nhộn nhịp, xuân trào…
Về thăm nhé, mẹ luôn luôn mừng đón Mẹ biết con đang bận rộn bao điều… Mẹ biết lắm, nên chỉ cần chút ít Mẹ muốn con biết mẹ ngóng con nhiều…
Nếu con về, mẹ pha trà, nướng bánh, Mẹ nhớ con thuở bé thích ăn chi... Hiểu giùm mẹ, giờ mẹ hay tủi phận Lỡ con mình đã quên hẳn mình đi... | Về thăm nhé, mẹ không cần quà cáp, Mọi thứ đủ dùng… Mẫu tử tình sâu… Mẹ còn sống thì con còn được bé, Thấu điều này, phải tới những ngày sau…
Gọi cho mẹ, khi thu còn chưa hết, Những ngày đời, con ạ, rất mau qua… Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi, Tuyết ngập trời… mả chả thấy ai thưa… (Gọi cho mẹ tuần một lần cũng được, thơ Alelasjitsuke, Hồng Thanh Quang dịch, Báo Giáo dục và Thời đại, https://giaoducthoidai.vn/goi-cho-me-tuan-mot-lan-cung-duoc-post584844.html, 18/2/2022) |
Trong bài thơ, chủ thể trữ tình có những mong muốn gì?
Chủ thể trữ tình – người mẹ mong muốn con:
- Gọi điện hỏi thăm mẹ, về nhà thăm mẹ.
- Thấu hiểu nỗi nhớ thương, mong ngóng, tình yêu thương con của mẹ.
- Biết trân trọng những phút giây còn mẹ.
- Cảm thông cho nỗi lo lắng con quên mất mẹ của mẹ.
- Hiểu được quy luật ở đời: còn mẹ là con còn nhỏ dại và được yêu thương.Nêu ít nhất hai cặp từ trái nghĩa trong hai câu thơ in đậm và cho biết tác dụng của của việc sử dụng những cặp từ trái nghĩa này.
- Cặp từ trái nghĩa: “xuân” – “đông”, “buốt giá” – “nhộn nhịp”/“trào”.
- Tác dụng:
+ Gợi tả hiện thực: mùa đông lạnh lẽo, sự trống vắng của lòng người mẹ, ngôi nhà mẹ khi thiếu vắng bóng con; nhà con tưng bừng mùa xuân, đông vui, náo nhiệt.
+ Diễn tả nỗi nhớ thương da diết, nỗi mong ngóng đến khắc khoải và khát khao được con gọi điện hỏi thăm, về nhà thăm của mẹ, đồng thời gợi sự thương xót về người mẹ già nhớ con nơi xa.
Thông điệp:
- Trong cuộc sống, mẹ luôn là người yêu thương, chăm sóc, lo lắng cho con, sẵn sàng hi sinh tất cả vì con nhưng chẳng mong con đền đáp, chỉ cần con biết quan tâm, nhớ thương mẹ, biết thấu hiểu tình cảm, cảm thông với nỗi lòng của mẹ.
- Trong cuộc sống, con cái chính là “tài sản” quý giá nhất đối với mẹ, bên cạnh những tình cảm tốt đẹp, mẹ còn luôn dõi theo, là nguồn động lực, tiếp thêm niềm tin cho con trong hành trình cuộc đời và chỉ cần còn mẹ, con luôn được yêu thương, chở che.
- Mỗi người con hãy biết quan tâm, yêu thương mẹ, trân trọng những phút giây còn mẹ bên cạnh; nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, chinh phục ước mơ, trở thành công tốt của xã hội; sống an nhiên, hạnh phúc;…
Tưởng tượng em là người con được nói đến trong bài thơ, hãy viết khoảng 3 - 5 dòng để trả lời người mẹ của mình.
Định hướng câu trả lời: Bày tỏ tình cảm yêu thương, sự quan tâm, lo lắng với mẹ; hứa hẹn sẽ gọi điện hỏi thăm mẹ, về nhà thăm mẹ; giãi bày về hoàn cảnh và nỗi lòng của con với mẹ; cảm thông, thấu hiểu cho nỗi lòng của mẹ, những quy luật ở đời mà nhắn nhủ đến con;…
Đọc kĩ ngữ liệusau:
LẼ SỐNG CỦA THANH NIÊN, SINH VIÊN
(1) Đỉnh núi cao không dành cho những người hèn nhát và lười vận động, đỉnh tri thức không có chỗ cho kẻ chỉ rong chơi. Nếu không có sự miệt mài, tìm tòi khám phá và dốc lòng cho những đam mê thì làm sao có một Edison vĩ đại và bóng đèn chiếu sáng hôm nay. Đi đến tận cùng đam mê là điều không dễ, vì có lúc tuổi trẻ nóng vội, khao khát nhanh chóng thành công nên vội vàng đốt cháy giai đoạn khiến những dự định trở thành dang dở. Giữ được lửa nhiệt huyết trong tâm hồn và kiên trì trong ý nghĩ đúng là điều rất quan trọng. Nếu cháy bùng lên rồi vụt tắt thì đó chỉ là một ánh sao băng giữa thiên hà vô tận.
(2) Đừng sợ! Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi. Tự do chỉ có được khi nắm được và dự báo được quy luật, ý tưởng tốt đẹp phải được nảy mầm từ những khát khao chính đáng, mọi mơ hồ cùng lắm là ánh trăng suông. Nếu mải miết trên đất liền và lo cuồng phong, bão tố thì làm sao Chiristopher Columbus có cuộc phiêu lưu để tìm ra châu Mĩ bao la?
(3) Đất mãi mãi là đất, rừng mãi mãi là rừng, biển cả bao la vẫn quanh năm sóng vỗ, phố xá vẫn quen từng bước chân về. Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? Các bạn hãy dành nhiều thời gian để nghĩ về điều đó và ra tay vì năm tháng chẳng đợichờ, tuổi xuân trôi qua nhanh lắm.
(Trích Những lời chia sẻ, Nguyễn Văn Minh, NXB Đại học Sư phạm, 2023, tr.239-240)
Theo tác giả, nỗi sợ hãi có tác hại gì?
Tác hại của nỗi sợ hãi: Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi.
Những câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3) có tác dụng gì?
- Câu hỏi tu từ: Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao?
- Tác dụng:
+ Tạo nên nhịp điệu, lời nhắn gửi đầy thiết tha, dễ đi vào lòng người gửi đến thế hệ trẻ hãy can đảm suy nghĩ và hành động.
+ Nhấn mạnh để thành công ta không được lười biếng mà phải có suy nghĩ và hành động thiết thực để biến mọi khát khao thành hiện thực.
Theo em, thế hệ trẻ cần làm gì để tạo dựng một cuộc sống no ấm đủ đầy cho bản thân và có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng?
Gợi ý:
- Có phương hướng, mục tiêu rõ ràng.
- Luôn phấn đấu, không chùn bước trước những khó khăn để đạt mục tiêu mình đã đề ra.
- Trau dồi tri thức.
- …
Để tăng sức thuyết phục cho lập luận, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào?
Đọc văn bản sau:
NGƯỜI PHẢI CHẾT
Lược dẫn: Mọi người tập trung rất đông ở trước Đông Dương đại học đường để chờ đón vị bác sĩ trẻ tài ba Trần Thế Đoàn nhưng đã quá giờ mà chưa thấy anh ta đâu. Có người cho rằng “Anh này có vẻ một danh nhân muốn cho mọi người chờ đợi mình...” Trong số những người đứng chờ ở đó có một phóng viên trẻ tuổi – Lê Phong. Không để ý đến vẻ náo động của đám đông, anh ta cứ đi đi lại lại một cách lơ đãng, thỉnh thoảng đứng lại biên mấy chữ lên một cuốn sổ tay. Rồi lại thản nhiên lững thững đi trong phòng như đi giữa chỗ vắng. Tuy vậy, ai nhận kỹ, cũng thấy đôi mắt anh ta vẫn tinh nhanh và quan sát từng cử chỉ của mọi người, quan sát rất chóng nhưng rất chu đáo. Nét mặt linh động với cái miệng mím lại chốc chốc thoáng qua. Rồi người bác sĩ họ Trần cũng đến, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng trong 3 phút đã diễn ra….
Người thiếu niên bỗng hỏi một câu đột nhiên:
- Lúc nãy ông ở nhà viết một bức thư dài phải không? Ông cần viết đến nỗi chút nữa thì lỡ mất một việc quan trọng là hôm nay có cuộc phát bằng long trọng.
Đoàn kinh ngạc nhìn người thiếu niên thì anh ta tiếp:
- Mà lại vừa nhận được một bức thư lạ, một bức thư làm cho ông bối rối có phải không?
Vẻ kinh ngạc của Đoàn lại càng rõ rệt, nhưng người thiếu niên cứ bình tĩnh nói, tiếng hạ thấp, có ý chỉ riêng Đoàn nghe.
- Thưa ông, bức thư ấy nói những gì, xin ông cho biết.
Bây giờ Đoàn mới trấn định được tâm trí, hỏi lại người thiếu niên:
- Những điều ấy có liên lạc gì với việc ông phỏng vấn tôi?
- Vâng! Không có liên lạc gì, hay chỉ liên lạc ít thôi, nhưng đó là điều rất quan hệ. Thưa ông Trần Thế Đoàn, xin ông nghe tôi và trả lời cho tôi rành mạch. Ông có những kẻ thù ghê gớm toan hại ông, những kẻ thù ấy ông có biết không và nếu biết, ông có rõ được một chút gì về mưu mô của họ không?
Đoàn lúc ấy lại nhìn người thiếu niên một cách rất kỳ dị,chưa kịp đáp thì anh ta lại nói:
- Xin ông cho biết, đó là những điều cực kỳ quan trọng, vì. . .
Đoàn bỗng hỏi:
- Nhưng ông là ai?
- Tôi là phóng viên báo “Thời Thế”.
- Vâng. Nhưng là người... Tên ông là gì?
- Tên tôi là Lê Phong, và là người rất có cảm tình với ông.
- Ông Lê Phong! Tôi vẫn biết tiếng ông... Tôi định đến thăm ông để hỏi những việc riêng và cần ông giúp.
Lê Phong đáp:
- Càng hay, vì những việc riêng ấy chính lúc này là lúc ông nên nói ra.
- Không, tôi không nói ở đây được xin mời ông lại chơi nhà hay chốc nữa ra, tôi sẽ xin đến báo "Thời Thế”. Bây giờ (Đoàn nhìn đồng hồ) bây giờ gần đến giờ rồi, xin lỗi ông. À mà tại sao ông biết?
- Biết gì kia?
- Biết các điều ông hỏi tôi. Ông biết từ bao giờ?
-Vừa rồi.
-...?...
- Vâng. Vết mực ở ngón tay ông, ông viết bức thư dài, ông chưa kịp rửa tay, và đến muộn, còn bức thư mới nhận được, ông nhét nó vào túi áo một cách cũng vội vã đến nỗi để tôi trông thấy mé phong bì nhô lên. . . Còn về những kẻ thù của ông thì tôi cũng vừa mới thấy trong lúc tôi nói chuyện với ông, tôi vẫn để ý đến hai người lạ mặt đứng cách đây ngót 10 thước và nhìn ông một cách hằn học không biết ngần nào. Chúng lẩn xa rồi.
Nhưng tôi vẫn nhận được: một người ăn vận quần áo tím thẫm, đeo kính trắng, quấn phu la tuy trời không rét lắm, còn người kia thì rỗ hoa mặc quần áo màu tro, cao lớn, và cụt một tay.
Đoàn kêu sẽ lên một tiếng:
- Trời ơi! Người cụt tay?
- Vâng cụt tay trái, tay ấn thọc luôn vào túi, nhưng tôi vẫn chú ý nên không giấu được tôi...
Đoàn nhắc đi nhắc lại:
- Người cụt tay? Trời ơi! Tôi hiểu rồi, suốt mấy ngày nay, khi ở trường ra, khi sắp bước vào nhà, khi đi xem chiếu bóng hay ở hiệu cao lâu, lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, tôi thường gặp hắn, tôi cũng chú ý đến cái tay cụt ấy, nhưng tôi không ngờ gì... Đến bây giờ...
Mặt Đoàn tái xanh đi. Chàng hốt hoảng nhìn ra, không trả lời những tiếng chào hỏi của những người bạn qua đấy như trước nữa. Chàng thốt nhiên nắm lấy tay Lê Phong:
- Ông Lê Phong, nếu vậy thì tính mệnh tôi nguy mất, tính mệnh tôi nguy thật, ông. . . Tôi nhờ ông tìm giúp kẻ thù tôi nhé . . .ông ngăn cản hộ, tôi biết chỉ ông ngăn cản nổi...
Giọng nói mỗi lúc một thêm van vỉ:
- Vâng, xin ông giúp tôi, ông cứu tôi... Trời! Đến lúc này,việc tôi sắp thành, kết quả gần thấy rồi, mà... Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời tôi, nhưng tôi cũng không được vui mấy.
- Thế ra ông biết cách hành động của kẻ thù đã lâu.
- Tôi biết gì? Có lẽ tôi ngờ thôi... Tôi vẫn ngờ rằng có kẻ muốn hại tôi, nhưng mãi hôm nay, mãi lúc này, tôi mới biết rõ.
-Thế sao ông không đi trình sở Liêm phóng?
- Tôi cũng định thế, nhưng xét ra có điều bất tiện. Ông Lê Phong, ông tìm ra nhé! ông đi bắt ngay hộ hai đứa nhé. Tôi đến điên cuồng lên mất?
Lê Phong ôn tồn nói:
- Đi bắt! Tôi chỉ là người nhà báo. . . Vả lại chúng nó không ở đây nữa, chúng hẳn tránh xa rồi.
- Ông chắc không?
Lê Phong toan trả lời "Tôi đoán thế”. Nhưng muốn an ủi Đoàn, anh ta nói:
- Chắc. Nhưng ông vẫn phải đề phòng cẩn thận. Bây giờ xin ông cứ yên tâm vào giảng đường vì hình như đến giờ rồi. À quên, ông đứng lại để tôi chụp ông bức ảnh.
Bấm xong bức ảnh. Lê Phong bắt tay người thiếu niên bác sĩ lúc đó vừa có người ra gọi, rồi lững thững đến ngồi lên một cái ghế dài gần cửa, cặm cụi viết lên cuốn sổ tay.
Anh ta vừa viết được cái đầu đề:
- “Một cuộc phỏng vấn vội vàng. Mấy phút cùng thiếu niên bác sĩ Trần Thế Đoàn, một nhà thông thái kỳ dị...”
Bỗng đập tay xuống ghế chép miệng:
- Ồ ngốc chưa ! Vội gì thì vội, nhưng quên không xem bức thư lạ lùng kia thì ngu thực...
Ngẫm nghĩ một lát, lấy đồng hồ xem. Lê Phong toan đứng dậy, nhưng vẫn ngồi yên. Anh tắc lưỡi một cái, rồi viết rất nhanh, vừa viết vừa đưa mắt nhìn mấy người đến chậm vội vã bước vào giảng đường.
Lúc bốn trang giấy nhỏ đã đầy chữ. Lê Phong bước ra ngoài, đến bên một người ghếch xe đạp đợi ở vệ đường, đưa cái "Tin" mới xé ở sổ tay ra cho hắn và dặn:
- Anh về ngay tòa báo, bảo sửa qua bài tôi viết, rồi đăng ngay, cần lắm. Trang nhất, đầu đề rất to, mau lên cho kịp số hôm nay.
Rồi ngoắt quay vào, anh lẩm bẩm nói một cách rất sung sướng:
- Nào! Lê Phong, đem hết sức hết trí ra! Câu chuyện không đến nỗi tầm thường lắm.
Sắp bước lên thang để vào chỗ dành riêng cho các phóng viên, Lê Phong chợt để ý đến một mảnh giấy nhỏ rơi dưới đất. Anh nhặt lên và bất giác kêu lên một tiếng sẽ: “Ô! lạ chưa!”.Trên mảnh giấy có mấy hàng chữ này, lối chữ in hoa, vạch bằng bút chì:
“Lê Phong, anh coi chừng đó, đừng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì”.
(Trích Thế Lữ, Mai Hương và Lê Phong, 1939)
Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên? Cơ sở nào khiến em nhận định như vậy?
- Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên: truyện trinh thám.
- Cơ sở để khẳng định thể loại truyện trinh thám:
+ Đề tài của truyện: Tội ác.
+ Yếu tố cấu thành nên tác phẩm chính là tội ác.
+ Chủ đề: Xoay quanh truyện phá án, tìm ra lí do phạm tội.
+ Nhân vật: Thám tử - Phóng viên (có tài năng đặc biệt), nạn nhân và kẻ tội phạm.
+ Cốt truyện là một câu đố bí ẩn (cần có lời giải đáp: Tại sao X lại phạm tội cố ý giết người).
+ Thủ pháp nghệ thuật: Tạo sự bí ẩn nhằm đánh lạc hướng người đọc; tạo sự sáng tỏ dẫn dắt người đọc đến việc giải đố bí ẩn.
+ Cấu trúc hình học của hình tượng nhân vật: mối quan hệ tam giác giữa cảnh sát – thủ phạm – nạn nhân. Đây là cuộc đấu trí ngang ngửa giữa thủ phạm với chàng phóng viên Lê Phong tài ba.
Truyện được kể bằng ngôi kể thứ mấy? Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể đó?
- Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ ba.
- Nhận xét về tác dụng của việc sử dụng ngôi kể của nhân vật này đối với nội dung câu chuyện:
+ Tạo cái nhìn khách quan về những sự việc xảy ra.
+ Giúp người kể có thể kể linh hoạt nội dung của câu chuyện.
Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là ai? Dựa vào văn bản đọc, em hãy chia sẻ những hiểu biết của mình về nghề phóng viên?
* Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là Lê Phong – một phóng viên rất tài ba - một thám tử nghiệp dư tay ngang.
* Những hiểu biết của em về nghề phóng viên:
- Phóng viên là người làm nghề chuyên chụp ảnh, săn tin, xử lý thông tin, viết bài để đăng cho các tòa soạn báo, tạp chí, truyền hình…
- Công việc của phóng viên bao gồm: quan sát, ghi chép, phỏng vấn người đưa tin, viết bài hoặc sáng tạo nội dung về các sự kiện, tin tức quan trọng.
- Để trở thành một phóng viên thực thụ, cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản như sau:
· Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
· Kỹ năng viết bài rõ ràng, xúc tích và mang tính thuyết phục.
· Kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn để thu thập và lấy thông tin từ các đối tượng liên quan.
· Khả năng nghiên cứu và phân tích thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác của thông tin.
· Làm việc dưới áp lực công việc tốt, bởi phóng viên thường phải làm việc dưới áp lực thời gian và khối lượng khá lớn.
· Trung thực, đưa tin đúng nội dung, không xào nấu làm sai sự thật.
· Có khả năng làm việc và phối hợp đội nhóm tốt.
· Cẩn thận, tỉ mỉ, đảm bảo tính chính xác của nội dung cung cấp đến công chúng.
· Không ngại học tập và tiếp thu thêm kiến thức mới.
Theo em nhan đề của văn bản hé lộ điều gì?
Theo em nhan đề của văn bản “Người phải chết” đã hướng sự chú ý của độc giả vào câu chuyện ngay từ nhan đề. “Người phải chết” đã bộc lộ tính chất chủ đề của câu chuyện một “tội ác” sắp sửa được thực hiện; kích thích trí tò mò và khả năng phán đoán của người đọc, hé lộ nạn nhân của vụ án này là ai.
Nhân vật thám tử Lê Phong đã thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật chính trong truyện trinh thám? Làm rõ ý kiến của em bằng những chi tiết trong văn bản.
* Nhân vật thám tử Lê Phong thể hiện những đặc điểm nổi bật của nhân vật chính trong truyện trinh thám:
- Khả năng quan sát tỉ mỉ.
- Khả năng suy luận logic.
- Kiến thức uyên bác.
- Tư duy độc lập.
- Lòng dũng cảm.
* Các chi tiết tô đậm tài năng của phóng viên tài ba Lê Phong:
+ Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
+ Nhìn vết mực trên ngón tay và bức thư trong túi của Trần Thế Đoàn mà biết được anh ta vì phải viết 1 bức thư rất dài nên đến muộn.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Nhìn bức thư nhét vội trong túi áo vị bác sĩ trẻ Thế Đoàn và quan sát thấy có 2 kẻ khả nghi đứng quanh đó mà biết được có kẻ đang muốn ám sát bác sĩ này.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Hành động ghi chép tỉ mỉ, chụp ảnh chuyên nghiệp, xử lý thông tin và đưa tin nhanh chóng. -> Đây chính là yếu tố cần có của một phóng viên chuyên nghiệp.
+ Hé lộ cho Thế Đoàn biết kẻ cụt tay là tên sát thủ nhằm cảnh báo cho nạn nhân biết mà đề phòng. -> hành động trượng nghĩa.
+ Mảnh giấy đe dọa, ngăn cản Lê Phong “Lê Phong, anh coi chừng đó, đứng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì.” Cho biết tài năng phá án của anh. Anh đã từng nhúng tay tìm ra chân tướng rất nhiều vụ án. Cả nạn nhân và kẻ thủ phạm đều biết rõ khả năng này của anh.
+…
Từ nội dung của câu chuyện, em rút ra bài học gì cho bản thân?
Một số bài học cho bản thân:
+ Biết nhiều quá đôi khi cũng gặp nguy hiểm.
+ Giỏi quá đôi khi cũng gặp họa.
+ Kẻ ác luôn đứng trong bóng tối.
+ Cần học cách bảo vệ bản thân.
+ Cần rèn cho mình khả năng quan sát và tư duy logic để phán đoán tình hình...
+…
Đọc văn bản sau:
DẶN CON
(Trần Nhuận Minh)
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn
Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào
Con chó nhà mình rất hư
Cứ thấy ăn mày là cắn
Con phải răn dạy nó đi
Nếu không thì con đem bán
Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này…
- Thể thơ: Tự do.
- Cách gieo vần: Gieo vần chân.
Ý nghĩa của cách gọi “hành khất” mà không phải “ăn mày” ở câu thơ mở đầu?
Cách gọi “hành khất” mà không phải “ăn mày” thể hiện thái độ tôn trọng củangườicha với những người bị “giời đày” chẳng may phải xin ăn trên phố, đồngthời cũngthể hiện niềm đồng cảm chân thành với nỗi bất hạnh của họ. Qua cáchgọi ấy ngườicha cũng muốn con mình nhận ra nên có thái độ hành xử như thế nàocho đúng với những người cơ cực, khổ nghèo.
Việc lặp lại: “Con không...Con không...” ở khổ 1, 2 thể hiện thái độ gì của nhân vật trữ tình”
Việc lặp lại “Con không...Con không...” ở khổ 1,2 là những câu khẳng định có ýnghĩa mệnh lệnh thể hiện thái độ nghiêm khắc căn dặn con của nhân vật trữ tình.Người cha muốn khắc sâu trong con những điều tuyệt đối không được làm khi gặpnhững người hành khất tránh gây nên sự tổn thương về tinh thần cho họ.
Hãy thử lí giải tại sao người cha lại dặn con: Con không bao giờ được hỏi: Quê hương họ ở nơi nào.
Nguyên nhân khiến người ha dặn dò con: Con không bao giờ được hỏi/ Quê hươnghọ ở nơi nào.
+ Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi có họ hàng, làng xóm,...Ai cũng yêu,cũng muốn gắn bó với quê hương mình và khi đi xa thì tha thiết mong nhớ.
+ Những người hành khất không may phải lang thang xin ăn, họ vì lí do nào đómàphải xa quê, nên khi hỏi họ về quê hương là đâm sâu hơn vào nỗi đau thahương củahọ, khiến họ xót xa hơ cho tình cảnh thực tại nghiệt ngã của chínhmình.
=>Qua lời dặn dò này, người cha dạy con cần phải có tình yêu thương con người,biết quý trọng con người. Không chỉ giúp đỡ những con người hành khất về vậtchất,một người biết yêu thương cần phải biết đồng cảm, sẻ chia, thấu hiểu đểkhông gây ra những tổn thương tinh thần cho họ.
Những lời chia sẻ trong khổ cuối gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
Những lời chia sẻ trong khổ cuối là lời dặn dò vô cùng ý nghĩa của người cha dành cho con:
+ Mình tạm gọi là no ấm/ Ai biết cơ trời vần xoay: Gia đình mình chỉ “tạm” gọi là no ấm hơn những người hành khất tội nghiệp kia. Sự no ấm ấy chưa biết tồn tại được bao lâu bởi cuộc sống luôn “vần xoay” biến đổi...
+ Lòng tốt gửi vào thiên hạ/Biết đâu nuôi bố sau này: Con hãy sống giàu tình yêu thương, sẻ chia, trân trọng những người nghèo khổ, tu nhân tích đức, bởi biết đâu sau này bố cũng rơi vào tình cảnh như họ, và cũng được mọi người giúp đỡ, trân trọng như con đã làm.
=> Người cha đã đánh thức lòng trắc ẩn, tình yêu thương, khơi dậy lòng tốt không chỉ của con mình mà con của nhiều người khác.
Đọc văn bản sau:
Có bao giờ chúng ta yêu thế gian này như yêu ngôi nhà có bếp lửa ấm áp của mình không? Có bao giờ chúng ta yêu nhân loại như yêu một người máu thịt của mình không? Chúng ta từng nói đến việc làm sao trở thành những công dân toàn cầu. Danh từ công dân toàn cầu rất dễ làm cho những ai đó lầm tưởng về một siêu nhân trong những khía cạnh nào đấy. Nhưng bản chất duy nhất của một công dân toàn cầu là một người biết yêu thương thế gian này và luôn tìm cách cải biến thế gian. Có thể sẽ có những công dân kêu lên đầy bất lực: Ta chỉ là một sinh linh bé nhỏ làm sao ta có thể yêu thương và che chở cả thế gian rộng lớn nhường kia! Việc yêu thương và che chở cho cả thế gian có phải là một lước mơ hay một nhân cách hão huyền không? Không. Đó là một hiện thực và đó là một nguyên lí. Khi một con người yêu thương chân thực mảnh đất con người đó đang đứng dù chỉ vừa hai bàn chân thì người đó đã yêu cả trái đất này. Khi bạn yêu một cái cây bên cạnh bạn thì bạn yêu mọi cái cây trên thế gian. Khi bạn yêu thương một con người bên cạnh thì bạn yêu cả nhân loại. Và khi tất cả những con người dù bé nhỏ đến đâu yêu thương, người bên cạnh thì tình thương yêu ấy sẽ ngập tràn thế gian này.
Tình yêu thương nhân loại sẽ ngay lập tức trở nên hão huyền và mang thói đạo đức giả khi chúng ta nói đến tình yêu thương đó mà không bao giờ chúng ta yêu thương nổi một người bên cạnh. Và thói đạo đức giả đang lan rộng trên thế gian chúng ta đang sống.
Hãy cứu thế gian này khỏi những hận thù, những ích kỉ, những vô cảm và giá lạnh bằng những hành động cụ thể của mỗi con người đang sống trên thế gian này. Đấy là tiếng kêu khẩn thiết, đầy tình thương yêu và trách nhiệm của biết bao con người đang sống trên thế gian này.
(Trích Cần một ngày hoà giải để yêu thương, theo vietnamnet.vn, ngày 7/9/2010)
Theo tác giả, phẩm chất cốt lõi của một “công dân toàn cầu” là biết yêu thương và luôn tìm cách cải biến thế gian này.
Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên.
HS có thể chỉ ra và nêu tác dụng của một trong các phép tu từ sau:
- Phép so sánh (Có bao giờ chúng ta yêu thế gian này như yêu ngôi nhà có bếp lửa ấm áp của mình không? Có bao giờ chúng ta yêu nhân loại như yêu một người máu thịt của mình không?) khiến cho câu văn giàu cảm xúc, hình ảnh, tạo sự gần gũi, thân mật khi đề cập đến một vấn đề thoạt nghe rất cao siêu: tình yêu thế gian, yêu nhân loại.
- Phép điệp cấu trúc câu (Có bao giờ chúng ta yêu thế gian này như yêu ngôi nhà có bếp lửa ấm áp của mình không? Có bao giờ chúng ta yêu nhân loại như yêu một người máu thịt của mình không?; Khi bạn yêu một cái cây bên cạnh bạn thì bạn yêu mọi cái cây trên thế gian. Khi bạn yêu thương một con người bên cạnh thì bạn yêu cả nhân loại. Và khi tất cả những con người dù bé nhỏ đến đâu yêu thương người bên cạnh thì tình thương yêu ấy sẽ ngập tràn thế gian này.) có tác dụng liên kết và nhấn mạnh ý nghĩa, tác dụng của tình yêu thương, tạo nên giọng điệu nghị luận đầy nhiệt huyết.
- Sử dụng câu hỏi tu từ (Có bao giờ chúng ta yêu thế gian này như yêu ngôi nhà có bếp lửa ấm áp của mình không? Có bao giờ chúng ta yêu nhân loại như yêu một người máu thịt của mình không?) tác động mạnh mẽ đến tình cảm và lí trí của người đọc.
Tác giả sử dụng thao tác lập luận nào khi bàn về “bản chất duy nhất của công dân toàn cầu”?
Bàn về “bản chất duy nhất của công dân toàn cầu”, tác giả sử dụng thao tác lập luận bác bỏ: nêu ý kiến cho rằng yêu thương nhân loại là một ước mơ hay nhân cách hão huyền, rằng mỗi người chỉ là một sinh linh bé nhỏ làm sao có thể yêu thương và che chở cả thế gian rộng lớn, sau đó đưa ra lí lẽ để lật lại vấn đề. Điều này khiến cho lập luận trở nên thuyết phục, sắc bén, hấp dẫn.
Anh/ Chị thử đưa ra một định nghĩa khác về “công dân toàn cầu”.
HS có thể nêu một trong các cách định nghĩa dưới đây:
- Công dân toàn cầu là những người sống, làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau, có thể có một hoặc nhiều quốc tịch.
- Công dân toàn cầu là công dân có kiến thức nền tảng về các vấn đề văn hoá nhân loại, có thể giao lưu, học tập, làm việc tại bất cứ quốc gia nào; có khả năng hoà nhập với những người dân trên khắp thế giới; có năng lực giải quyết những vấn đề chung của toàn nhân loại: bảo vệ môi trường, chống chiến tranh, đẩy lùi dịch bệnh,...
- Công dân toàn cầu là người coi những vấn đề của nhân loại là vấn đề của dân tộc mình, của cá nhân mình và biết suy nghĩ, hành động vì một thế giới tốt đẹp hơn,...
Tôi vốn là người cùng làng với lão Hạc và ông giáo, cũng chỉ là người nông dân bình thường. Hàng ngày đi làm ruộng, có rảnh rỗi thì sang hút điếu thuốc lào cũng lão. Mọi chuyện vẫn sẽ trôi qua như thế, nếu hôm đó tôi không được chứng kiến câu chuyện giữa lão và ông giáo.
Làng quê khi ấy còn nhiều đói kém lắm, ăn không đủ no, áo không đủ mặc. Người ta vật lộn với miếng ăn cũng đã đủ khổ sở. Vậy nhưng mà cả làng này không ai là không biết lão quý con chó Vàng như quý một báu vật. Lão ăn gì cậu ăn nấy, mà có khi còn ăn hơn. Phần vì sống một mình lắm nỗi buồn, phần vì đó là con chó của cậu con trai để lại, nên lão cũng không nỡ bán. Cứ thỉnh thoảng tôi chạy sang, lại thấy lão ngồi vuốt ve nói chuyện với nó. Thế nhưng lạ thật, mấy hôm nay lại thấy lão cứ thỉnh thoảng tặc lưỡi: “Thôi thì bán phắt đi”. Lão túng thiếu quá rồi sao? Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn tin là lão sẽ không chịu để mất cậu Vàng.
Chiều hôm ấy, tôi ngồi bên nhà ông giáo, khề khà hút thuốc tâm sự. Chợt thấy cái dáng lòng khòng quen thuộc chạy sang. Hình như là lão Hạc rồi. Lão bình thường đã gầy, nay trông lại càng khắc khổ hơn. Đôi mắt đục ngầu lại đỏ hoe như vừa làm điều gì có lỗi. Tức thì, lão nói ngay:
- Cụ Vàng đi đời rồi ông giáo ạ
Tôi và ông giáo như không tin vào tai mình. Một người coi cả con chó ấy là tài sản, lại nỡ lòng nào bán nó. Ông giáo hỏi lại:
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi. Họ vừa bắt xong
Lão trả lời chúng tôi, miệng cười nhưng mà như mếu. Hình như lão đang cố tỏ ra vui vẻ, đôi mắt lại còn ầng ậc nước. Tội nghiệp lão quá! Chưa bao giờ tôi thấy xót xa cho một phận người thế này. Không biết ông giáo có còn tiếc năm quyển sách của ông nữa không, nhưng giờ tôi chỉ thấy ái ngại cho lão. Tôi toan đến ôm lấy lão mà an ủi thì ngừng lại, sợ lão khó xử. Tôi và ông giáo lân la hỏi cho có chuyện:
- Thế nó cho bắt à?
Lúc này, biểu hiện của lão càng làm chúng tôi ngạc nhiên hơn nữa. Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...
- Khốn nạn... Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!
Lão nói đến đâu mà tôi và ông giáo phải câm lặng đến đó. Trước tình thế ấy, chúng tôi biết phải nói gì? Phải an ủi lão như một đứa con nít, hay hùa theo mà trách lão? Cũng may, ông giáo kịp mở lời:
- Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho nó làm kiếp khác.
Lão giờ cũng đã xuôi xuôi hơn rồi, nhưng giọng nghe vẫn còn chua chát lắm. Có chăng, tiếng kêu cứu hay cái nhìn của cậu Vàng kia vẫn còn ám ảnh lão. Lão lắc đầu nói:
- Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút... kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!...
Hai con người khốn khổ ấy cứ ngồi nói chuyện với nhau về kiếp sướng kiếp khổ. Tôi cũng tham gia đôi lời, để lão Hạc tạm yên lòng quên đi chuyện con chó. Nói vậy thôi chứ tôi cũng thầm nghĩ rằng, đêm về lão sẽ còn ân hận nhiều lắm, mà có khi còn làm chuyện dại dột cũng nên. Nghĩ đến đó, tôi chợt rùng mình, chỉ mong sao lão đừng làm những chuyện ấy. Chứng kiến câu chuyện bán chó của lão Hạc mà lòng tôi cũng không yên. Tôi phải suy nghĩ lại xem vì sao lão sẵn sàng bán con chó ấy? Có khi vì lão sợ động đến tiền của đứa con trai? Lão thà để bản thân khổ chứ không để con khổ. Lòng người cha, cũng chỉ rộng đến thế mà thôi!
Biết bao năm trôi qua, nhưng hình ảnh lão Hạc ngày hôm ấy thì tôi vẫn không thể quên được. Thương lão một phần, nhưng cũng vì qua đó, tôi nhận thức được nhiều điều về con người. Lão Hạc đã ra đi ngay đêm đó, nhưng đó phải chăng cũng là cách giải thoát cho lão?
Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
Không phải ngẫu nhiên mà Rasul Gamzatov đã từng tâm niệm rằng: “ Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn”. Thật vậy, thi ca muôn đời là nơi bộc lộ những trở trăn, nhưng nghĩ suy thổn thức của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc đời. Và thơ Lưu Quang Vũ cũng chính là những nỗi niềm chân thành của thi nhân. Đến với thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, người đọc sẽ bắt gọn những cảm xúc đầy xúc động, để lại những dư âm, dư ba qua thi phẩm mang tên “Tiếng Việt”.
Lưu Quang Vũ là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch tài năng. Bài thơ “Tiếng Việt” của nhà thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Bài thơ đã ca ngợi sự giàu đẹp của tiếng việt: vừa giản dị, mộc mạc, vừa phong phú, sâu sắc. Tiếng việt có sức sống mãnh liệt, thấm đẫm giá trị dân tộc, bồi đắp tâm hồn, tình yêu dân tộc. Bằng lời thơ chân thành, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã thể hiện tình yêu, niềm tự hào, sự trân trọng với Tiếng việt.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ không sử dụng những khái niệm trừu tượng để lí giải Tiếng việt mà người nghệ sĩ đã sáng tạo nên một thế giới hình ảnh sinh động, gần gũi với cuộc sống của chúng ta, đó là tiếng mẹ gọi, tiếng cha dặn, tiếng kéo gỗ, câu hát, lời ru,...
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
...
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.
Âm thanh hiện lên trong câu thơ là những âm thanh đậm tình, sâu lắng, những âm thanh gắn liền với cuộc sống hằng ngày. Đó là âm thanh của tiếng mẹ gọi, tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, tiếng lụa, tiếng cha dặn,.. Những âm thanh nghe sao mà thiết tha.
Tình yêu tiếng Việt in sâu vào tâm khảm mỗi người từ những ngày bé thơ khi tập đọc ê a từng con chữ đầu lòng:
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếnmg nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
Tiếng Việt là kết quả của Tình yêu và Lao động. Mọi mặt của đời sống dân tộc đã làm nên hồn cốt của tiếng việt. Bởi vậy chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói. Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc. Nhà thơ Lưu Quang Vũ rất tài hoa khi sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để khái quát đặc trưng tiếng nói của dân tộc. Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ. Đây là một phát hiện mới mẻ của thi sĩ. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh quen thuộc, gần gũi, mang đậm bản sắc dân tộc, đó là hình ảnh đất cày, lụa, tre ngà, tơ. Hai câu thơ giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc, chân chất, khỏe khoắn, vừa mềm mại, dịu dàng, vừa cứng cỏi lại óng ả của Tiếng Việt.
Người Việt Nam ngày nay có đầy đủ lý do và bằng chứng để tự hào về tiếng Việt của mình. Vẻ đẹp của tiếng Việt đến từ mọi khía cạnh, đến từ cả sự giàu đẹp và đa dạng của tiếng Việt. Âm điệu của tiếng Việt đa dạng và trầm bổng nhờ hệ thống 4 dấu gồm: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng:
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
Thật vậy, chúng ta thấy ngôn ngữ tiếng Việt có hệ thống dấu thanh rất đa dạng. Mỗi một dấu thanh khi sử dụng giống như một nốt nhạc. Với những thanh bằng như huyền, ngang giống như những nốt trầm. Những thanh trắc như sắc hỏi, ngã nặng lại giống như những thanh cao. Tiếng Việt còn có hệ thống ngữ âm rất phong phú lại rất đa dạng về ngữ nghĩa. Ông cha ta vẫn thường hay nói Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam. Là một người dân Việt Nam chúng ta có quyền tự hào về sự giàu đẹp của tiếng Việt. Chúng ta cũng cần có trách nhiệm giữu gìn sự giàu đẹp ấy.
Mỗi một khổ thơ là mỗi cung bậc cảm xúc khác nhau. Bằng lời thơ chân thành, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã thể hiện niềm trân trọng, nó như lời nhắc nhở thế hệ trẻ ngôn ngữ ngàn đời của dân tộc
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình
Từ cảm thán vang lên như lời chân tình sâu nặng của nhà thơ. Tiếng việt là kết quả lao động vất vả của những người nhân dân. Người nhân dân đã lao động, sáng tạo, đổ biết bao mồ hôi công sức, chịu đựng bao vất vả, bao hi sinh để gìn giữ, vun đắp cho tiếng việt ngày càng giàu đẹp. Qua đó, nhà thơ đã ca ngợi sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam, cần cù, chịu thương, chịu khó, ân tình, thủy chung son sắt. Nhà thơ nhắc nhở thế hệ mau sau phải biết giữ gìn, phát huy thứ ngôn ngữ của dân tộc.
Tiếng Việt là một bài thơ hay, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Kết thúc tác phẩm nhưng nó vẫn để lại trong lòng người đọc biết bao ấn tượng sâu sắc, là bài học về lòng yêu nước, giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội).
Việc bảo vệ, khôi phục và trồng cây xanh phủ xanh đồi trọc không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi sự sẻ chia và hành động đồng lòng từ toàn bộ cộng đồng, bởi cây xanh không chỉ là nguồn sống mà còn là bảo vệ cho môi trường và làm đẹp cho cảnh quan tự nhiên.
Rừng xanh là "phổi" của Trái Đất, cung cấp oxy cho mọi sinh vật sống và giữ cho hệ sinh thái cân bằng. Cây xanh là những cột trụ của sự sống trên hành tinh. Chúng hấp thụ khí cacbon dioxide và sinh ra khí oxy, cung cấp không khí trong lành cho môi trường sống. Hơn nữa, cây xanh cũng giữ đất, ngăn chặn sự trôi trở của đất và sạt lở đất. Việc bảo vệ cây xanh là việc làm cần thiết để duy trì sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân như phá rừng, khai thác trái phép và đất đai, rừng xanh của chúng ta đang dần suy giảm. Do đó, việc bảo vệ và khôi phục rừng xanh là vô cùng cấp bách. Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình bảo vệ rừng và tái tạo rừng. Mỗi công dân cũng cần nhận thức về tầm quan trọng của rừng xanh và đóng góp vào việc bảo vệ và khôi phục chúng. Trên nhiều khu vực, đồi trọc đã bị thiên tai, cháy rừng và khai phá mặt bằng để làm đất canh tác gây ra sự suy giảm về cây xanh. Việc khôi phục và tái tạo cây xanh trên những khu vực này không chỉ giúp phục hồi hệ sinh thái mà còn cung cấp nguồn lực thiên nhiên cho sinh vật sống. Mỗi hành động tái tạo cây xanh là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển môi trường.
Đồi trọc không chỉ gây ra sạt lở đất mà còn gây ra nhiều vấn đề khác như sạt lở đất, mất màu mỡ đất, và ô nhiễm môi trường. Trồng cây xanh phủ xanh đồi trọc không chỉ là việc làm cá nhân mà còn là đóng góp của mỗi cá nhân vào cộng đồng. Việc này không chỉ giúp làm đẹp cho cảnh quan mà còn cung cấp nguồn thực phẩm, nguồn nước sạch và không khí trong lành cho cả mọi người. Hơn nữa, việc trồng cây xanh còn tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho các loài sinh vật.
Tình trạng mất rừng và đồi trọc đang diễn ra trên toàn thế giới, đe dọa sự tồn vong của nhiều loài sinh vật và gây ra nhiều vấn đề về môi trường. Các chính sách bảo vệ rừng cần được thực thi mạnh mẽ và mọi người cần phải nhận thức và hành động để ngăn chặn tình trạng này. Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình bảo vệ rừng và tái tạo rừng. Mỗi công dân cũng cần nhận thức về tầm quan trọng của rừng xanh và đóng góp vào việc bảo vệ và khôi phục chúng.
Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng cần phối hợp nhau tổ chức các hoạt động trồng cây gây rừng. Trong quá trình bảo vệ, khôi phục và trồng cây xanh phủ xanh đồi trọc, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm cá nhân đóng vai trò quan trọng. Chỉ khi mọi người cùng nhau hành động, chúng ta mới có thể đạt được mục tiêu của mình. Mỗi công dân cần nhận thức rõ ràng về trách nhiệm của mình đối với môi trường và tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Từ việc giữ vệ sinh, tái chế chất thải, đến việc trồng cây và bảo vệ rừng, mỗi hành động nhỏ của mỗi cá nhân đã, đang và sẽ góp phần to lớn cho quá trình phủ xanh đồi trọc, bảo vệ môi trường và hành tinh xanh của chúng ta.
Mỗi ngày chúng ta bắt đầu từ những hành động nhỏ, nhưng tương lai sẽ tạo thành những việc to lớn. Việc bảo vệ, khôi phục và trồng cây xanh phủ xanh đồi trọc không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là nhiệm vụ của mỗi công dân. Chúng ta hãy cùng chung sức đồng lòng gìn giữ và bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta và thế hệ mai sau.

