Đề thi Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 09)
0 câu hỏi
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi 41-50:
GPT-4 CHẨN ĐOÁN BỆNH VỀ MẮT
[1] GPT-4 là một mô hình trí tuệ nhân tạo (AI), được xây dựng dựa trên những bộ dữ liệu chứa hàng trăm tỷ bài báo, sách và các nguồn thông tin khác nhau trên internet. Một nghiên cứu mới đây cho thấy, kiến thức lâm sàng và kỹ năng suy luận của AI GPT-4 đang tiệm cận đến trình độ của các bác sĩ chuyên khoa mắt.
[2] Trong một thử nghiệm tại Đại học Cambridge (Anh), GPT-4 cùng với các bác sĩ mới vào nghề không chuyên về mắt, bác sĩ nhãn khoa thực tập và các chuyên gia nhãn khoa nhiều kinh nghiệm đã tham gia xem xét 87 tình huống bệnh nhân liên quan đến một vấn đề về mắt cụ thể và được yêu cầu đưa ra chẩn đoán hoặc tư vấn về cách điều trị bằng cách chọn các phương án điều trị. Kết quả cho thấy, GPT-4 đạt điểm cao hơn đáng kể trong bài kiểm tra so với các bác sĩ mới vào nghề không chuyên về mắt. Những người này có trình tự kiến thức chuyên môn về mắt tương đương những bác sĩ đa khoa thực hành. GPT-4 cũng đạt được điểm số tương tự với các bác sĩ mắt thực tập, tuy nhiên các chuyên gia nhãn khoa nhiều kinh nghiệm đạt điểm số cao nhất
[3] Mô hình trí tuệ nhân tạo lớn như GPT-4 không có khả năng thay thế các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, nhưng có tiềm năng cải thiện việc chăm sóc sức khỏe như một phần của quy trình làm việc lâm sàng. GPT-4 có thể hữu ích trong việc cung cấp lời khuyên, chẩn đoán và đề xuất quản lý liên quan đến mắt trong các bối cảnh được kiểm soát tốt, như phân loại bệnh nhân hoặc khi khả năng tiếp cận với các chuyên gia chăm sóc sức khỏe chuyên khoa bị hạn chế.
[4] Công nghệ Al này có thể được triển khai trong thực tế như phân loại bệnh nhân có vấn đề về mắt để quyết định trường hợp nào là trường hợp khẩn cấp cần được bác sĩ chuyên khoa khám ngay lập tức, trường hợp nào có thể được bác sĩ khám và trường hợp nào không cần điều trị. Mô hình này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và cần có khối lượng lớn văn bản nhãn khoa lâm sàng để giúp tinh chỉnh và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn đang được tiến hành thu thập trên khắp thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để GPT-4 phát triển và được đưa vào ứng dụng trong thực tế.
(Công Minh (theo University of Cambridge), vjst.vn, ngày 25/04/2024)
Trả lời cho các câu 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50 dưới đây:
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 51 đến 60
CHÚNG TA CÓ SỐNG TRONG MỘT ĐA VŨ TRỤ?
[0] Một trong những khám phá khoa học gây sửng sốt bậc nhất trong vài thập kỷ gần đây việc dường như vật lý xuất hiện là để tinh chỉnh cho thế giới thực. Điều đó có nghĩa là để sự sống có thể tồn tại, cần phải có vô số vật lý nhất định trong một phạm vi hẹp nhất định.
[1] Một trong những ví dụ của việc tinh chỉnh khiến các nhà vật lý tranh cãi nhất là lực tối, thứ lực làm gia tốc sự giãn nở của vũ trụ. Nếu lực này chỉ cần lớn hơn một chút, vật chất không thể tập hợp lại cùng nhau. Và nếu hai hạt không thể kết hợp lại với nhau, điều đó có nghĩa là không có sao, hành tinh, hay bất kỳ dạng phức hợp cấu trúc nào, và do đó không có sự sống.
[2] Nếu lực đó yếu một cách đáng kể, có thể lực hấp dẫn sẽ mất tác dụng, hay nói cách khác bị trung hòa. Điều đó cũng có nghĩa là vũ trụ này có thể bị suy sụp từ lõi ngay trong tích tắc tồn tại đầu tiên - một lần nữa có nghĩa là không có sao, không có hành tinh hay sự sống. Để cho phép sự sống có thể tồn tại, độ lớn của năng lượng tối phải giống như thứ cháo đặc cổ tích của Goldilocks, "vừa đủ, vừa khéo".
Đó chỉ là một ví dụ, và còn nhiều ví dụ khác nữa.
[3] Sự giải thích phổ biến nhất của thứ tinh chỉnh vật lý là chúng ta sống trong một vũ trụ giữa một đa vũ trụ. Nếu như đủ người mua vé số, thì có thể là có ai đó sẽ có những con số đúng để trúng số. Giống như vậy, nếu có đủ các loại vũ trụ, với những thứ vật lý khác nhau của mình, thì cũng có một số vũ trụ có được những con đúng, vừa đủ đề giúp tồn tại sự sống.
[4] Trong một thời gian dài, điều này dường như là một giải thích hợp lý nhất của sự tinh chỉnh vật lý. Tuy nhiên, các chuyên gia về toán xác suất đã nhận ra suy luận từ sự tinh chỉnh cho một đa vũ trụ như một hiển thị của sự sai lầm - điều mà tôi khám phá trong cuốn sách mới của mình, "Why? The Purpose of the Universe" (Tại sao? Mục đích của vũ trụ này). Cụ thể hơn, các nhà lý thuyết về đa vũ trụ phạm phải cái mà người ta vẫn gọi là ngụy biện của con bạc (the inverse gambler's fallacy).
[5] Chúng ta hãy giả sử Betty là người duy nhất chơi bingo tại thành phố của mình trong một đêm và có được vận may đáng kinh ngạc, tất cả các con số đúng của cô đến cùng một lúc. Betty nghĩ trong đầu là "Ồ, phải có rất nhiều người chơi bingo trong những phòng chơi bingo khác đêm nay!". Lý giải của cô là nếu không có nhiều người chơi trong suốt vùng này thì không có lẽ ai đó có được tất cả các con số của mình ngay phút đầu tiên.
[6] Nhưng đây là một ví dụ cho ngụy biện của con bạc. Không phải vấn đề có bao nhiêu người chơi hay không chơi trong các phòng chơi bingo khác của vùng, lý thuyết xác suất nói không có khả năng chính bản thân Betty lại hội tụ đủ vận may như vậy.
[7] Nó giống như chơi súc sắc vậy. Nếu chúng ta có nhiều con sáu trong một lượt chơi, chúng ta có thể giả định một cách sai lầm là chúng ta dường như sẽ tung được nhiều con sáu trong những lượt chơi tiếp theo. Và nếu chúng ta không có những lần tung sáu trong một lượt chơi, chúng ta lại giả định một cách sai lầm là nó phải có những con sáu như trong quá khứ. Nhưng trong thế giới thực, mỗi lượt tung súc sắc là một xác suất chính xác và ngang bằng của một phần sáu của một số cụ thể nhận được.
[8] Các nhà lý thuyết đa vũ trụ cũng rơi vào trường hợp tương tự. Họ nghĩ là "Ô, bao nhiêu chắc chắn về việc vũ trụ của chúng ta có những con số đúng để tồn tại sự sống; phải có nhiều vũ trụ khác ngoài kia có những con số sai chứ!". Nhưng cách nghĩ này cũng giống như Betty nghĩ là mình có thể giải thích vì sao cô có thể gặp vận may khi người khác chơi bingo. Khi vũ trụ cụ thể được tạo ra, giống như một cú ném súc sắc, vẫn có thể có một cơ hội cụ thể, dù rất ít, của việc có những con số đúng.
[9] Tại điểm này, các nhà lý thuyết đa vũ trụ mang đến trong "nguyên lý nhân học" - bởi vì chúng ta tồn tại, chúng ta có thể không quan sát một vũ trụ không thích hợp với sự sống nhưng không có nghĩa là có nhiều vũ trụ khác không tồn tại.
[10] Giả định có một tay thiện xạ cũng có mặt ở đằng sau phòng chơi bingo, chờ đợi để bắn Betty ở khoảnh khắc một con số xuất hiện mà không có trên thẻ chơi của cô. Giờ đây tình trạng đó tương tự trong sự tinh chỉnh thế giới thực: Betty có thể không quan sát thấy bất cứ điều gì ngoài con số đúng để giành chiến thắng, cũng giống như chúng ta không thể quan sát được một vũ trụ với những con số sai cho sự tồn tại của sự sống.
(Thanh Hương, Chúng ta có sống trong một đa vũ trụ?, Tạp chí Tia sáng, 19/11/2023)
Để chuẩn bị cho giải bóng đá, một số câu lạc bộ đã thực hiện nghiên cứu để tính lực căng đặc hiệu (lực căng tối đa trên một đơn vị diện tích) của cơ bắp chân trên một trong những cầu thủ giỏi nhất của họ. Đầu tiên, họ ghi lại một số dữ liệu giải phẫu như sau:

Cho biết:
¾ Khối lượng cơ thể của cầu thủ là 72 kg .
¾ Diện tích mặt cắt ngang bắp chân (trung bình) là .
¾ Khoảng cách từ gan bàn chân tới khớp cổ chân là 13,5 cm.
¾ Khoảng cách từ xương gót chân đến khớp cổ chân là .
Có thể quan sát số liệu trên hình B:
Lực căng đặc hiệu: một cầu thủ được yêu cầu nâng người lên cao nhất có thể để giữ thăng bằng trên gan của bàn chân trong hình A .
Trả lời cho các câu 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67 dưới đây:
Một số học sinh đã tiến hành các thí nghiệm để xác định mối quan hệ giữa cao độ của âm (tần số) của sợi dây đang dao động. Xét các yếu tố sau của sợi dây: chiều dài, lực căng và mật độ khối lượng (khối lượng trên một đơn vị chiều dài dây).
Thí nghiệm 1:
Học sinh cắt một số đoạn dây thép có đường kính khác nhau. Các dây có khối lượng và mật độ khối lượng xác định. Sợi dây được treo vào trần, một đầu thả tự do. Treo một vật nặng vào đầu tự do, khi đó xuất hiện lực căng và sợi dây dao động, tạo ra sóng âm. Sóng âm được đo và hiển thị trên màn hình máy đo, trên đó xác định được tần số sóng cơ bản. Kết quả được trình bày trong Bảng 1.

Thí nghiệm 2:
Học sinh lặp lại quy trình ở Thí nghiệm 1, nhưng sử dụng các sợi dây bằng chất liệu và đương kính khác nhau. Kết quả được trình bày trong bảng 2:

Trả lời cho các câu 68, 69, 70, 71, 72, 73 dưới đây:
CHẤT CHỈ THỊ ACID - BASE
Thuật ngữ acid hoặc base (acid hoặc kiềm) vẫn thường xuất hiện rất phổ biến trong đời sống gia đình. Để nhận biết một dung dịch có môi trường là acid hay là base người ta sử dụng tới chất chỉ thị acid - base. Chất chỉ thị acid - base là chất có màu sắc biến đổi phụ thuộc vào giá trị pH của dung dịch. Một trong những chất chỉ thị thông dụng nhất trong các kĩ thuật chuẩn độ acid - base đó là phenolphthalein. Adolf van Bayer đã phát hiện ra phenolphtalein vào năm 1871. Ông đã quan sát thấy sự hình thành của phenolphtalein khi đun nóng phenol với phthalic anhydride với sự có mặt của acid:

Phenolphthalein là chất rắn kết tinh không màu, đôi khi nó có thể ở dạng bột màu vàng nhạt hoặc màu cam. Đây là một chất không tan trong nước nhưng tan trong cồn. Ở trạng thái tự nhiên, phenolphtalein tồn tại ở dạng acid yếu không màu, được kí hiệu là HIn. Hằng số phân li acid (Ka) của HIn là 3.10-10. Base liên hợp của nó có màu đỏ hồng đậm. Trong dung dịch nước, phenolphthalein sẽ có trạng thái cân bằng như sau:
Theo nguyên lý chuyển dịch cân bằng Le Chatelier, trạng thái cân bằng trên sẽ chuyển dịch sang trái nếu nồng độ của tăng lên, tức là trong dung dịch ưu tiên chiều phản ứng: hơn. Nếu dung dịch có tính base mạnh thì cân bằng chuyển dịch sang phải vì ion OH- sẽ phản ứng với các phân tử Hln chuyển hóa thành In-.
Trong các phép chuẩn độ, phenolphtalein được thêm vào để nhận ra điểm dừng chuẩn độ. Tại điểm này có sự thay đổi màu sắc đột ngột của dung dịch được chuẩn độ vì có sự thay đổi của pH trong môi trường chuẩn độ làm thay đổi trạng thái tồn tại của chất chỉ thị màu, từ đó màu của chỉ thị sẽ thay đổi là một dấu hiệu nhận biết đã đến lúc cần dừng chuẩn độ. Người ta coi rằng có một pH trung gian nào đó một nửa phenolphtalein ở dạng acid và một nửa ở dạng base liên hợp có màu. Độ pH trung gian này có thể được tính theo phương trình Henderson - Hasselbalch cho trạng thái cân bằng chỉ thị:
Trả lời cho các câu 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80 dưới đây:
PHẢN ỨNG THỦY PHÂN SACCHAROSE TRONG CƠ THỂ
Saccharose (sucrose - C12H22O11) còn được gọi với nhiều cái tên như đường kính, đường củ cải, đường thốt nốt,... Ở động vật có vú, sucrose được tiêu hóa rất nhanh trong dạ dày thành các loại đường thành phần do bị thủy phân bởi acid.
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu phản ứng thủy phân sucrose trong môi trường acid (có nồng độ H+ theo thời gian) và thấy rằng sau khoảng thời gian t (phút) diễn ra phản ứng thủy phân thì số mol sucrose còn lại n1 được biểu diễn theo phương trình:
(*)
trong đó, n0 là số mol ban đầu của sucrose.
Trả lời cho các câu dưới đây: 81-87
Sử dụng đoạn thông tin dưới đây để trả lời 6 câu hỏi tiếp theo
Mất kiểm soát chu kỳ tế bào trong các tế bào ung thư
Các tế bào ung thư không phản ứng với các tín hiệu bình thường điều khiển chu kỳ tế bào. Chúng phân chia quá mạnh và xâm lấn các mô khác. Nếu không kiềm chế, chúng có thể giết chết cơ thể. Ngoài mất tính ức chế phụ thuộc mật độ và phụ thuộc neo bám, các tế bào ung thư không ngừng phân chia khi thiếu các yếu tố tăng trưởng. Chúng có thể tự sản xuất các yếu tố tăng trưởng, hoặc chúng có con đường truyền tín hiệu tăng trưởng sai lệch cho chu kỳ tế bào cả khi không có các yếu tố này. Tế bào ung thư dừng phân bào ở các điểm ngẫu nhiên trong chu kỳ tế bào, chứ không ở các điểm kiểm soát bình thường. Hơn thế, tế bào ung thư có thể phân chia vô hạn trong nuôi cấy nếu được cung cấp liên tục chất dinh dưỡng; có nghĩa là, chúng "bất tử". Ngược lại, hầu như tất cả các tế bào bình thường của động vật có vú chỉ chia 20 đến 50 lần trước khi ngừng phân chia, già và chết.

Sự tăng sinh mất kiểm soát của các tế bào ung thư
Hành vi bất thường của các tế bào ung thư có thể là thảm khốc nếu xảy ra trong cơ thể. Vấn đề bắt đầu khi một tế bào trong mô bị chuyển dạng, quá trình biến tế bào bình thường thành tế bào ung thư. Hệ thống miễn dịch trong cơ thể bình thường nhận biết tế bào chuyển dạng như phần tử nổi loạn và tiêu diệt chúng. Tuy nhiên, nếu tế bào tránh được, nó có thể tăng sinh và hình thành khối u, một khối các tế bào bất thường trong một mô nào đó. Nếu tế bào dị thường nằm yên tại vị trí ban đầu, khối u đó gọi là u lành. Đa số u lành không gây các vấn đề nghiêm trọng và có thể dùng phẫu thuật loại bỏ đi hoàn toàn. Ngược lại, u ác trở nên xâm lấn và cản trở hoạt động của một hay vài cơ quan. Cá thể có u ác được gọi là mắc ung thư.
Các tế bào của khối u ác tính có nhiều tính chất dị thường ngoài khả năng tăng sinh quá mạnh. Chúng có thể có số nhiễm sắc thể không bình thường. Những biến đổi dị thường trên bề mặt làm tế bào ung thư mất bám dính với các tế bào xung quanh và với chất nền ngoại bào, điều đó làm chúng phân tán sang các mô bên cạnh. Một số ít tế bào ung thư có thể tách khỏi khối u ban đầu, đi vào các mạch máu hay bạch huyết và di cư sang các phần khác của cơ thể. Ở đó chúng có thể tăng sinh và hình thành khối u mới. Sự phát tán các tế bào ung thư tới các vị trí ở xa vị trí ban đầu gọi là sự di căn.
Trả lời cho các câu 88, 89, 90, 91, 92, 93 dưới đây:
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời 3 câu hỏi tiếp theo
Bệnh máu không đông (Máu khó đông) hay còn gọi là bệnh ưa chảy máu (Hemophilia) là một rối loạn hiếm gặp trong đó máu của người bệnh không đông máu như bình thường vì do thiếu yếu tố đông máu trong chuỗi 12 yếu tố giúp đông máu. Nếu mắc bệnh máu không đông, người bệnh có thể bị chảy máu trong thời gian dài, khó cầm máu hơn sau khi bị chấn thương so với người bình thường. Người phụ nữ mang gen bệnh sẽ không biểu hiện ra bên ngoài nên vẫn có kiểu hình bình thường.

Trả lời cho các câu 95, 96, 97 dưới đây:
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời 3 câu hỏi tiếp theo
Trong một hồ ở châu Phi, người ta thấy có 2 loài cá rất giống nhau về các đặc điểm hình thái và chỉ khác nhau về màu sắc, một loài màu đỏ và một loài có màu tím Mặc dù cùng sống trong một hồ nhưng chúng không giao phối với nhau. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học nuôi các cá thể của 2 loài này trong một bể cá có chiếu ánh sáng đơn sắc làm chúng trông cùng màu thì các cá thể của 2 loài lại giao phối với nhau và sinh con hữu thụ. Người ta cho rằng 2 loài này được tiến hoá từ một loài ban đầu.

Trả lời cho các câu 98, 99, 100 dưới đây:
