Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 18)
Đề thi

Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 18)

A
Admin
ĐH Bách KhoaĐánh giá năng lực1 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

PHẦN 2: TƯ DUY ĐỌC HIỂU

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 41 đến câu 50.

XUẤT KHẨU TẾT VIỆT

[1] Từ khoảng mười ngày nay, chúng tôi đã thấy các gian hàng chào mừng “Năm mới Trung Hoa” (Chinese New Year - Nouvel An Chinois) ở các siêu thị của Pháp.

Nhiều năm qua, mỗi dịp Tết Nguyên đán, các hệ thống siêu thị lớn của Pháp đều tổ chức tuần lễ bán hàng theo chủ đề như thế này. Sự kiện không chỉ thu hút cộng đồng người gốc châu Á mà còn đông đảo khách hàng đủ mọi gốc gác. Các sản phẩm đa phần đến từ Trung Quốc hoặc các nhà cung cấp có liên quan. Nhiều người mà chúng tôi biết cũng hào hứng sử dụng các sản phẩm của Trung Quốc vào những ngày Tết như thế này. Tôi thường nghĩ tới mối liên hệ giữa cái tên gọi và cơ hội bán hàng, và tiếc cho các nhà cung cấp Việt Nam.

[2] Lần đầu tiên đến Pháp cách đây gần hai mươi năm, tôi đã ngạc nhiên khi thấy người Pháp đánh đồng Tết Nguyên đán như là dịp năm mới của riêng một dân tộc, trong khi nó được nhiều quốc gia ở châu Á cùng tổ chức như Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, Singapore, Malaysia, Mông Cổ. Sự nhầm lẫn này do nhiều nguyên nhân, trong đó một phần là kết quả của những hoạt động liên tục nhằm mục đích kép truyền bá văn hóa và xúc tiến thương mại. Nhiều hội nhóm trao đổi văn hóa của Trung Quốc đều đặn thực hiện các sự kiện vui chơi hàng năm ở khắp các địa phương và dần dần họ trở nên "quen mặt" với người dân, tạo dấu ấn và từng bước đi vào thói quen mua sắm của người dân. Cách thức này khá dàn trải nhưng lại đi sâu vào địa phương với các hoạt động hết sức đơn giản, ít tốn kém, thích hợp với người châu Âu vốn thích tham gia các hoạt động vui chơi ngoài trời đơn giản vào cuối tuần.

[3] Tùy vào sản phẩm và đối tượng khách hàng, người Pháp hay người Đức cũng có cách riêng để giới thiệu đặc sản của mình ra nước ngoài.

Người Pháp thích quảng bá sản phẩm theo hướng bài bản, chính quy hay sang trọng. Rượu vang của họ thu về hơn mười bảy tỷ euro nhờ xuất khẩu vào năm 2022 và được cho là còn cao hơn thế năm 2023. Hiệp hội các doanh nghiệp Đức tại Việt Nam đã tạo được tiếng vang khi sự kiện thường niên Octoberfest của họ không chỉ dừng ở Hà Nội hay TP HCM nữa mà đã bắt đầu đến Đà Nẵng từ 2023. Với hơn mười nghìn lượt người tham dự mỗi năm, sự kiện không chỉ là ngày hội quảng bá văn hóa mà còn là một cơ hội bán hàng hay xúc tiến thương mại với sản phẩm là các loại bia Đức. Thực tế ngành công nghiệp sản xuất bia của Đức xuất khẩu đạt hơn hai nghìn tỷ USD trong năm 2022 và chiếm phân nửa GDP của nước này.

[4] Trở lại câu chuyện ngày Tết ở quê nhà, rất nhiều ngành nghề kinh doanh tại Việt Nam hàng năm vẫn trông chờ vào Tết để bán thêm được nhiều hàng. Tết cũng là mùa kinh doanh lớn nhất với sức mua sắm của người dân trong nước tăng vọt. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, tình hình kinh tế năm qua khó khăn khiến sức mua chung có phần chững lại vào dịp Tết. Ngoại trừ các sản phẩm lương thực thiết yếu, những mặt hàng khác liên quan thời trang, trang trí hay quà tặng tiêu thụ khá chậm. Chợt nghĩ tới sự nhanh nhẹn của những người buôn cây kiểng ngày Tết với hành trình ngược của những cây đào - đặc trưng Tết miền Bắc - vào Nam và những cây mai - đặc trưng Tết miền Nam - ra Bắc trong những năm gần đây, tôi tự hỏi về khả năng xuất khẩu Tết Việt Nam ra trời Âu.

[5] Xúc tiến thương mại bằng các sự kiện rầm rộ có thể tốn kém, khó diễn ra thường xuyên cũng như đòi hỏi nguồn nhân lực tổ chức dồi dào. Hiện nay các hoạt động như trên ở nước ngoài chỉ được tổ chức hoặc bảo trợ bởi các cơ quan ngoại giao Việt Nam và thường giới hạn trong phạm vi thủ đô của các nước. Khả năng lan tỏa thương hiệu của văn hóa Việt Nam ở các nước vì vậy mà khá hạn chế. Như hệ quả tất yếu, thương hiệu của sản phẩm Việt Nam cũng vẫn còn lạ lẫm với người dân địa phương ở các nước ấy. Việt Nam sử dụng chính sách "nhân dân" từ quốc phòng cho đến ngoại giao, nhưng "nhân dân" của nước ngoài chưa được tận dụng. Một mình Việt Nam có thể chưa đủ sức lan tỏa thương hiệu Tết đến với người dân bản xứ, nhưng với sự kết hợp với những nước bạn bè chia sẻ cùng giá trị ngày Tết Nguyên đán như Hàn Quốc hay Singapore có thể là một ý nghĩ không phải bất khả thi.

Ngày Tết đến ở trời Âu, nhận được những lời chúc mừng của người dân bản địa, tôi luôn nghĩ tới một ngày, Việt Nam có thể xuất khẩu Tết - cả về văn hóa lẫn hàng hóa - để người sản xuất trong nước có thêm thị trường, và cộng đồng người Việt tại nước ngoài lại có thêm niềm tự hào.

(Võ Nhật Vinh, https://vnexpress.net/xuat-khau-tet-viet-4710412.html)

Trả lời cho các câu từ 41 đến 50 dưới đây:

Đoạn văn

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 51 đến câu 60.

 

BẦU KHÍ QUYỂN

[1] Chúng ta sống tại đáy của một biển không khí gọi là bầu khí quyển. Bầu khí quyển bao quanh những phần rắn và lỏng của Trái đất - đất và nước - nhưng thực sự chỉ là một phần thôi.

[2] Nhưng bầu khí quyển không luôn luôn ở đó. Cách đây khoảng 4 tỉ năm, Trái đất chưa phát triển lớp vỏ khí quyển mà tất cả sự sống phụ thuộc vào như ngày nay. Không có bầu trời trong xanh biểu thị cho ngày, và những vì sao cũng không tỏa sáng lấp lánh vào ban đêm, do đó có rất ít không khí để có thể bắt được và tỏa ánh sáng của chúng.

Khi Trái đất xoay, mặt bên khuất với Mặt trời bị đóng băng trong khi mặt kia lại bị nung nóng lên, do ở đó có ít không khí để giữ lại nhiệt hay phản nhiệt.

[3] Sự hình thành bầu khí quyển

Khi Trái đất đứng lại, khối lượng của nó tạo ra đủ trọng lực để giữ các loại khí từ không gian - nhưng chỉ những loại khí khá nặng như methane, amoniac, hơi nước và những loại khí hiếm như neon, argon, và krypton. Các nhà khoa học tin rằng đó là những nguyên tố trong bầu khí quyển đầu tiên của hành tinh này.

Khi Trái đất nguyên sơ ổn định lại ở thể rắn, những ngọn núi lửa lớn hình thành trên bề mặt của nó. Những ngọn núi lửa này phun ra lượng lớn carbon monoxide và carbon dioxide. Lượng khí này dần dần kết hợp lại với nhau thành bầu khí quyển đầu tiên.

Bầu khí quyển đầu tiên của Trái đất quá mỏng và yếu đến nỗi không thể làm chệch hướng của các thiên thạch đang lao xuống. Mỗi ngày có hàng ngàn thiên thạch va vào bề mặt. Khi va chạm, các thiên thạch bốc hơi, làm tăng nhiều hơn lượng hơi nước, amoniac và những loại khí khác vào bầu không khí xung quanh.

[4] Vào thời điểm nào đó qua một tỉ năm sau, sự sống xuất hiện trên Trái đất. Những sinh vật đầu tiên này sinh sống trên “quá nhiều” hơi nước, carbon dioxide và amoniac. Tại thời điểm nào đó, sự sống phát triển khả năng quang hợp; đó là, nó có thể khai thác nguồn năng lượng của Mặt trời để làm chậm đi một phản ứng mà trong đó carbon dioxide và nước được sử dụng để tạo ra các phân tử hữu cơ và oxy.

Qua hàng trăm triệu năm, lượng oxy do các sinh vật quang hợp tạo ra tích tụ lại trong bầu khí quyển. Sự phát triển rộng lớn của thực vật đất liền cách đây 400 triệu năm có khả năng nâng mức oxy lên đến mức oxy như hiện nay.

Gần như là liên tục, lượng carbon dioxide trong không khí tụt xuống. Phần lớn được thực vật giữ lại, nhưng không thể hiểu hết được sự biến mất của phần còn lại. Dường như lượng carbon dioxide trong bầu khí quyển ngày nay ít hơn khoảng 100 lần so với cách đây 3,5 tỉ năm. Chỉ trong vài thế kỷ qua, xu hướng này đã đảo nghịch lại, chắc chắn là do việc đốt nhiều nhiên liệu hóa thạch.

[5] Bầu khí quyển ngày nay

Ở dạng hiện tại, bầu khí quyển hoạt động phần lớn giống như mái kính của nhà kính. Nó làm giảm đi sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa mùa hè và mùa đông. Các tia nhiệt của Mặt trời xâm nhập vào bầu không khí và làm ấm bề mặt Trái đất vào ban ngày. Bầu khí quyển phía trên giữ lại lượng nhiệt này để nó có thể thoát vào không gian chậm hơn, làm dịu đi cái lạnh vào ban đêm.

Bầu khí quyển bảo vệ sự sống trên Trái đất khỏi một trận mưa thiên thạch. Người ta ước tính có hơn 100.000 phân tử như vậy va chạm vào bầu khí quyển của Trái đất cứ mỗi 24 giờ. Nhưng sự va chạm của bầu khí quyển làm giảm đi tất cả nhưng đặc biệt là lượng khí và bụi trước khi chúng chạm đến mặt đất. Bầu khí quyển cũng làm chệch hướng của nhiều loại bức xạ khác nhau và những phân tử tích điện từ Mặt trời.

Nhờ bầu khí quyển mà sự sống trên Trái đất trải qua mưa, gió, mây và các loại thời tiết khác, cũng như là màu sắc của bình minh và hoàng hôn, cầu vồng, và những ánh ban mai hay ánh sáng địa cực đẹp rực rỡ.

[6] Hỗn hợp khí

Bầu khí quyển ngày nay gồm có phần lớn là khí nitơ (78%) và khí oxy (21%). Những loại khí khác gồm có argon (0,9%), carbon dioxide (0,04%), và một lượng nhỏ neon, hydro, heli, ozone, methane và nitrous oxide. Lượng hơi nước trong không khí cực kỳ khác nhau, phụ thuộc vào địa điểm và thời gian đo lường.

Lượng oxy trong không khí cần thiết cho các quá trình hô hấp và trao đổi chất, những quá trình mà con người và những loài động vật khác nhận lấy năng lượng cần có để duy trì sự sống. Oxy cũng là một yếu tố cần thiết cho nhiều quá trình vật lý, như sự đốt cháy. Khí nitơ, cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp và vô số các quá trình sinh học và lý học khác.

Carbon dioxide góp một phần nhỏ, nhưng quan trọng vào bầu khí quyển. Thực vật sử dụng nó trong quá trình quang hợp, trong quá trình đó chúng sản xuất ra cả năng lượng và oxy. Ngược lại, động vật hấp thu oxy và phóng thích carbon dioxide như một sản phẩm thải.

Tỉ lệ carbon dioxide trong không khí khác nhau tùy theo thời gian và địa điểm. Tia chớp dường như làm tăng thêm sự tập trung của lượng carbon dioxide trong vùng. Tổng thể tích của carbon dioxide trong khí quyển tăng lên ổn định trong nhiều thế kỷ qua, có lẽ là do sự tăng lên trong việc đốt nhiên liệu hóa thạch.

[7] Nằm ở trung tâm trên trái đất khoảng 25km là một lớp oxy “được tăng nạp” gọi là ozone. Mỗi phân tử của tầng ozone đều chứa ba nguyên tử oxy thay vì hai nguyên tử trong một phân tử oxy thông thường.

Tầng ozone hấp thụ một lượng lớn nhiệt bức xạ của mặt trời, và do đó làm ấm bầu khí quyển bên dưới và bảo vệ sự sống khỏi những tác động phá hủy của bức xạ nhiệt. Sự suy yếu của tầng ozone do các chất gây ô nhiễm của con người tạo ra là mối quan tâm lớn ngày nay, và nổi lên như là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học quan trọng.

(NGUYỄN ĐĂNG KHOA biên dịch, nguồn: Tuoitre.vn, ngày 19 Tháng 10, 2009)

Trả lời cho các câu từ 51 đến 60 dưới đây:

Đoạn văn

Phần thi TƯ DUY KHOA HỌC/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi dưới đây:

Có thể sử dụng bộ thí nghiệm (hình bên) để tìm hiểu về mối liên hệ giữa áp suất và thể tích của một lượng khí xác định ở nhiệt độ không đổi.

Trả lời cho các câu 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi dưới đây:

Các nhà máy điện thường ở cách xa khu công nghiệp và khu dân cư để đảm bảo an toàn và tránh ô nhiễm. Từ các nhà máy này, năng lượng điện được truyền đến nơi sử dụng bằng các đường dây tải điện.

Khi truyền đi xa, năng lượng điện thường bị tiêu hao đáng kể, chủ yếu do toả nhiệt trên đường dây. Gọi r là điện trở đường dây, 𝑃𝑝𝑎𝑡 là công suất truyền đi, 𝑈𝑑 là điện áp hiệu dụng đặt vào hai đầu đường dây truyền tải điện. Công suất hao phí do toả nhiệt trên đường dây là:

\({P_{hao{\kern 1pt} phi}} = r{I^2} = r\left( {\frac{{{P_{phat}}}}{{{U_d}}}} \right) = r\frac{{{P_{phat}}^2}}{{{U_d}^2}}\)

Với công suất truyền tải 𝑃𝑝𝑎𝑡 xác định, có hai cách giảm công suất hao phí trên đường dây.

Cách thứ nhất: Giảm điện trở r của đường dây.

Giảm điện trở r của đường dây bằng một số biện pháp như:

  • Dùng dây dẫn có điện trở suất nhỏ như bạc, vàng hay dây siêu dẫn.
  • Tăng tiết diện dây dẫn, làm cho khối lượng dây dẫn tăng lên,... Cách này vừa hạn chế vừa không hiệu quả kinh tế.

Cách thứ hai: Tăng điện áp 𝑈𝑑khi truyền đi và khi đến nơi tiêu thụ điện sẽ giảm điện áp về giá trị cần thiết. Đây là biện pháp mang lại hiệu quả rõ rệt. Ví dụ, tăng 𝑈𝑑 lên 10 lần thì công suất hao phí trên dây giảm 100 lần.

Cách này có thể thực hiện được nhờ máy biến áp.

Trả lời cho các câu 68, 69, 70, 71, 72, 73 dưới đây:

Đoạn văn

TỐC ĐỘ PHẢN ỨNG CỦA AMINO ACID

Amino acid được coi là cơ sở xây dựng nên protein trong cơ thể. Các amino acid kết hợp với nhau để tạo thành chuỗi gọi là peptide, sau đó các peptide lại kết hợp với nhau để tạo thành protein. Cơ thể con người cần 20 loại amino acid khác nhau, sự kết hợp của chúng tạo ra mọi loại protein thiết yếu trong cơ thể. Khi amino acid tạo thành peptide thì giải phóng ra các phân tử nước được tạo thành từ một nguyên tử hydrogen của nhóm amino (NH2) của amino acid này với nhóm OH của gốc carboxyl (COOH) từ amino acid kia. Tốc độ phản ứng là yếu tố làm cho protein có thể tự hình thành thông qua sự kết hợp của peptide. Hình 1; 2 và 3 cho thấy những tác động thay đổi trong nhiệt độ, thể tích nước và nồng độ dư lượng về tốc độ phản ứng khi amino acid A và B có mặt. Hình 4 cho thấy những tác động thay đổi trong nồng độ amino acid A và B có tỷ lệ phản ứng trong dung dịch dư lượng có cùng nồng độ. Hình 5 thể hiện tốc độ phản ứng tương đối của alanine (một loại amino acid có trong DNA) và glycine (một amino acid được tìm thấy trong cơ bắp).

Trả lời cho các câu 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80 dưới đây:

Đoạn văn

DOPAMINE

Dopamine đóng vai trò là chất tăng cường hoặc chất xúc tác (một chất bắt đầu hoặc làm tăng tốc độ xung động trong quá trình một phản ứng hóa học, nhưng không bị cạn kiệt trong quá trình) tới những phản ứng nhất định liên quan đến hoạt động của con người nghĩ. Chất dopamine intropin có liên quan đến việc kích thích các chất dẫn truyền thần kinh trong não khi suy nghĩ được bắt đầu. Một sinh viên đã điều tra tác dụng của dopamine hoạt động trên một chất dẫn truyền thần kinh cụ thể.

Thí nghiệm 1

Mỗi ống nghiệm trong số 10 ống nghiệm chứa 7 mL peptide (một chất dẫn truyền thần kinh) đã được thêm vào. 2 mL một dung dịch intropin đã được thêm vào mỗi ống 1–9. Ống 10 được nhận 2 mL nước không có intropin. Các ống đã được sau đó khuấy với tốc độ không đổi trong nồi cách thủy ở các nhiệt độ khác nhau và ủ (làm nóng) từ 0 đến 15 phút. Vào cuối thời gian ủ, thêm 0,3 mL dung dịch NaCl vào mỗi ống. NaCl có tác dụng làm dừng phản ứng giữa intropin và peptide. Kết tủa, chất rắn được hình thành trong dung dịch trong một phản ứng hóa học, trong đó trường hợp này là do phản ứng của NaCl và peptide, được lấy ra khỏi ống nghiệm và sấy khô. Lượng kết tủa, tính bằng miligam (mg), được đo bằng xác định lượng chất tăng cường tương đối còn lại trong ống. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.

Thí nghiệm 2

Dung dịch peptide (8 mL) được thêm vào 8 xét nghiệm bổ sung sau đó thêm vào các ống 2 mL dung dịch intropin. Các ống được ủ ở 10°C và khuấy đều với tốc độ không đổi trong 15 phút. Ảnh hưởng của độ acid đến chất dẫn truyền thần kinh được quan sát bằng cách thay đổi nồng độ acid (dùng thang đo pH).                            

Lượng chất dẫn truyền thần kinh tương đối có trong mỗi ống được xác định theo cùng một cách như thí nghiệm 1, bằng cách thêm dung dịch NaCl vào mỗi ống nghiệm. Kết quả được thể hiện ở bảng 2.

Trả lời cho các câu 81, 82, 83, 84, 85, 86 dưới đây:

 

Đoạn văn

Đọc đoạn văn sau và trả lời 6 câu hỏi tiếp theo

Một nhà khoa học đã thử nghiệm khả năng tiêu diệt vi khuẩn kháng penicillin của 5 loại thuốc.

Thí nghiệm 1

Số lượng vi khuẩn kháng penicillin bằng nhau được đưa vào các bình chứa 10 , 0 m l 10 , 0 m l môi trường dinh dưỡng. Các bình được ủ trong 1 giờ ở 37 độ C cùng với các nồng độ khác nhau của 5 loại thuốc được trình bày trong Bảng 1 . Bình đối chứng bao gồm các vi khuẩn được ủ trong môi trường không có bất kỳ loại thuốc nào. Sau đó, vi khuẩn được rửa sạch để loại bỏ vết thuốc còn sót lại và nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng trong 7 ngày. Trong thời gian này, vi khuẩn sinh sản, tạo thành các khuẩn lạc, sau đó được đếm vào cuối ngày thứ bảy. Các đĩa có nhiều khuẩn lạc hơn được cho là có nhiều vi khuẩn sống hơn vào cuối thời gian ủ 1 giờ. Bảng 1 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm. Kiểm soát không có thuốc cho thấy 50 khuẩn lạc vào cuối 7 ngày.

Thí nghiệm 2

Vi khuẩn được xử lý như mô tả trong thí nghiệm 1 nhưng ở thí nghiệm 2 tất cả các loại thuốc được dùng ở cùng một nồng độ và thời gian ủ của mỗi lần nuôi cấy là khác nhau. Bảng 2 cho thấy số lượng khuẩn lạc được đếm cho thí nghiệm 2.

                                                             

Thí nghiệm 3

Các hệ số thấm đo khả năng của thuốc xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Hệ số thấm càng lớn thì khả năng vận chuyển thuốc qua màng càng nhanh. Khối lượng phân tử, tính bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (amu) và hệ số thấm tính bằng centimet trên giây (cm/s) của 5 loại thuốc ở 37 độ C đã được đo. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 3.

                                

Trả lời cho các câu 87, 88, 89, 90, 91, 92 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời 6 câu hỏi tiếp theo:

Điều hòa hoạt động gene chính là điều hòa lượng sản phẩm của gene được tạo ra. Trong mỗi tế bào cơ thể, ví dụ tế bào người có khoảng 25000 gene, song ở mỗi thời điểm, để phù hợp với các giai đoạn phát triển của cơ thể hay thích ứng với các điều kiện môi trường, chỉ có một số gene hoạt động, còn phần lớn các gene ở trạng thái không hoạt động, hoặc hoạt động rất yếu.

Trên phân tử DNA của vi khuẩn, các gene cấu trúc có liên quan về chức năng thường được phân bố liền nhau thành từng cụm có chung một cơ chế điều hòa được gọi là một operon. Cấu trúc của một operon Lac gồm có vùng vận hành (operator), vùng khởi động (promoter), các gene cấu trúc Z, Y, A.

                  
Khi có mặt lactose trong môi trường, các phân tử lactose sẽ liên kết với protein ức chế, làm biến đổi cấu trúc không gian của protein ức chế, làm cho protein ức chế không bám được vào vùng vận hành. Vì vậy, RNA polymerase liên kết với vùng khởi động để tiến hành phiên mã tạo ra các phân tử mRNA của các gene cấu trúc Z, Y, A, và dịch mã để trở thành các enzyme phân giải đường lactose.

Trong môi trường không chứa lactose thì protein ức chế gắn vào vùng vận hành và ngăn cản không cho quá trình phiên mã diễn ra.

Trả lời cho các câu 93, 94, 95, 96, 97, 98 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời 2 câu hỏi tiếp theo:

Cuối năm 2019, dịch bệnh Covid-19 (SARS-CoV-2) đã bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc.Cho đến nay, các bác sĩ dựa trên triệu chứng sốt cao, ho khan, khó thở, kết quả xét nghiệm Real Time-PCR (RT-PCR) và kháng thể miễn dịch (IgM, IgG) để đánh giá, theo dõi tình trạng của bệnh nhân. RTPCR là xét nghiệm tìm sự có mặt của RNA virus trong mẫu bệnh phẩm. Thường sau khi có triệu chứng Covid từ 3-10 ngày thì cơ thể sẽ sinh ra kháng thể IgM chống lại virus, còn kháng thể IgG thì có nồng độ cao nhất trong giai đoạn phục hồi.

Năm bệnh nhân khác nhau (kí hiệu 1 - 5) nhập viện vì các lí do khác nhau. Bảng dưới đây thể hiện tình trạng biểu hiện triệu chứng và kết quả xét nghiệm của mỗi người.

Trả lời cho các câu 99, 100 dưới đây: