Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 20)
Đề thi

Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 20)

A
Admin
ĐH Bách KhoaĐánh giá năng lực1 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

Phần thi TƯ DUY ĐỌC HIỂU từ 41 – 60

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi

Làm cách nào để học trong lúc ngủ?

(1) Học trong lúc ngủ từng là giấc mơ hão huyền. David Robson cho biết các nhà khoa học về thần kinh nói họ đã tìm ra cách để củng cố trí nhớ của bạn, ngay cả trong lúc đang ngủ.

(2) Trước khi chui vào chăn, bạn chuẩn bị căn phòng mình kỹ càng - xịt hương thơm lên gối, gắn headphone vào tai, thậm chí quấn một chiếc khăn có hình dáng kỳ lạ lên da đầu. Toàn bộ quy trình này chỉ tốn vài phút, nhưng bạn hy vọng điều này có thể giúp bạn thúc đẩy quy trình học những kỹ năng mới: Từ piano, tennis đến ngoại ngữ. Bạn sẽ không nhớ gì nhiều về quy trình này khi thức dậy, nhưng điều đó không quan trọng: Các kỹ năng của bạn sẽ trở nên tốt hơn vào sáng hôm sau.

(4) Ý tưởng về việc học khi đang ngủ từng được cho là không thể thực hiện. Nhưng trên thực tế, vẫn có nhiều cách để giúp bạn nâng cao các kỹ năng khi đang ngon giấc. Mặc dù hiện nay, vẫn chưa có phương pháp nào giúp bạn học những kỹ năng hoàn toàn mới trong lúc ngủ, nhưng điều đó không có nghĩa rằng bạn không thể sử dụng giấc ngủ nhằm củng cố trí nhớ. Vào buổi tối, não của chúng ta bận rộn với việc xử lý và củng cố những sự kiện chúng ta đã bắt gặp trong ngày.

(5) Và có nhiều cách để đẩy mạnh quy trình này. Mặc dù không thể tiếp nhận thông tin mới, không có nghĩa là bộ não hoàn toàn ngưng hoạt động vào đêm. Não bộ của chúng ta vẫn tiếp tục xử lý những điều chúng ta bắt gặp trong ngày, gửi các ký ức đến những vùng khác nhau trong não, nơi chúng được chuyển vào nơi lưu trữ lâu dài.

(6) "Quy trình này giúp ổn định các ký ức và nối chúng vào chuỗi những ký ức dài hạn khác". Susanne Diekelmann, đại học Tubingen ở Đức.

Giấc ngủ cũng giúp tổng quát hoá những gì đã học, giúp chúng ta có được sự linh động để áp dụng các kỹ năng trong những tình huống mới. Như vậy, dù không thể tiếp thu các kiến thức mới, bạn vẫn có thể củng cố những kiến thức hoặc kỹ năng đã học trong lúc ngủ.

CÁC PHƯƠNG PHÁP NHIỀU TRIỂN VỌNG

(7) Cho đến nay, có nhiều phương pháp được cho là có nhiều triển vọng. Một trong các phương pháp đơn giản nhất là của một nhà nghiên cứu người Pháp từ thế kỷ 19, Hầu tước d'Hervey de Saint-Denys.

Vị hầu tước nhận ra rằng ông có thể tìm lại một số ký ức trong giấc ngủ bằng cách sử dụng các mùi, vị hay âm thanh liên quan. Trong một thử nghiệm, ông đã vẽ một người phụ nữ trong lúc nhai rễ cây irit. Người hầu của ông này sau đó nhét rễ cây vào miệng ông trong lúc ngủ. Mùi rễ cây khiến ông nằm mơ thấy cùng một người phụ nữ trong cùng một trang phục, đang biểu diễn trên sân khấu.

Trong một thử nghiệm khác, ông nhờ chỉ huy dàn nhạc chơi một số bản waltz nhất định mỗi khi ông khiêu vũ với những người phụ nữ xinh đẹp. Vị hầu tước sau đó hẹn giờ cho máy nghe nhạc phát cùng một bản nhạc vào buổi tối. Kết quả là ông nằm mơ thấy những khuôn mặt của họ trong giấc ngủ.

(8) Trong tương lai, những tiến bộ về công nghệ cũng có thể giúp ích. Quy trình củng cố ký ức được cho là xảy ra trong những lần dao động sóng điện não cụ thể. Điều quan trọng là khuyến khích những dao động này xảy ra mà không làm chúng ta bị thức giấc. Jan Born, từ Đại học Tubingen, đã dẫn đầu những thử nghiệm như vậy. Vào năm 2004, ông nhận ra rằng có thể tăng cường độ những tín hiệu này bằng máy kích thích sóng điện não. Kết quả cho thấy người tham gia thử nghiệm đã đạt kết quả cao hơn trong bài sát hạch về trí nhớ.

Gần đây, ông đã tìm ra cách đơn giản hơn, bao gồm việc sử dụng một tấm lưới điện cực để đo hoạt động não, trong lúc headphone được sử dụng để phát âm thanh tương ứng với các làn sóng não. "Phương pháp này làm tăng cường độ các sóng điện não chậm", ông Born nói. "Đây là cách tự nhiên nhằm đưa não bộ hoạt động theo nhịp", ông nói.

(9) Nếu như bạn không thích phải đi ngủ với một cặp headphone, Miriam Reiner tai Viện Nghiên cứu Công nghệ Technion tại Israel có thể có một phương pháp hấp dẫn hơn. Bà sử dụng một dây điện cực để nối não bộ của người tham gia thử nghiệm với một trò chơi. Trong trò chơi, người tham gia thử nghiệm được yêu cầu lái xe bằng suy nghĩ của mình. Khi điện cực phát hiện ra đúng tần số của sóng điện não - yếu tố liên hệ với việc xử lý và củng cố các ký ức, nó sẽ tăng cường độ, nếu không, nó sẽ chậm lại.

Ý tưởng đằng sau thử nghiệm này là nhằm thúc đẩy quy trình xử lý các ký ức ngay sau khi tiếp thu kiến thức mới, Reiner cho biết. Điều này giúp cho não bộ chuẩn bị tốt hơn cho quá trình sắp xếp lại những sự kiện đã xảy ra trong ngày.

(10) Tất nhiên, chúng ta sẽ cần những thí nghiệm lớn hơn, với nhiều người tham gia hơn, trước khi những phương pháp này được đưa vào sử dụng trong đời sống hàng ngày. Cho đến nay, các phương pháp này vẫn chỉ dựa trên những thí nghiệm khá chung chung. Reiner muốn đào sâu vào các thử nghiệm cụ thể hơn, ví dụ như xem phương pháp của bà có thể giúp người khác học cách chơi guitar ra sao. Diekelmann cũng cho rằng các nhà nghiên cứu cần đảm bảo việc tác động vào trí nhớ sẽ không tạo ra những hậu quả khác. "Nếu chúng ta củng cố một chuỗi ký ức này, nhiều khả năng các chuỗi ký ức khác sẽ bị tổn thương", bà nói.

Trả lời cho các câu 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi

Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng phát triển ở Việt Nam

(1) Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa đang ở mức báo động và trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong những giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này là thay thế các sản phẩm nhựa truyền thống bằng nhựa phân hủy sinh học (NPHSH) thân thiện môi trường. Bài viết đề cập một số nét cơ bản về thực trạng, tiềm năng và giải pháp phát triển loại vật liệu này trong thời gian tới ở nước ta.

(2) NPHSH là loại nhựa có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật, thường là vi khuẩn, tạo thành nước, carbon dioxide và sinh khối trong một khoảng thời gian xác định. Các sản phẩm sau phân hủy có thể tiếp tục tham gia vào chu trình carbon và không để lại bất kỳ hợp chất nào có thể gây hại cho môi trường. Nhìn chung, quá trình phân hủy sinh học polyme có thể được chia thành 4 giai đoạn: suy thoái sinh học, phân rã polyme, phân hủy sinh học và khoáng hóa.

(3) Một loại nhựa được coi là nhựa sinh học (NSH) nếu nó được sản xuất một phần hoặc toàn bộ bởi các polyme có nguồn gốc sinh học. Không phải tất cả các loại NSH đều có khả năng phân hủy sinh học. Chẳng hạn như nhựa bio-PE, bio-PP, bio-PET có nguồn gốc sinh học nhưng chúng có các tính chất tương đồng với nhựa cùng loại được sản xuất từ nguồn dầu mỏ, nghĩa là không có khả năng phân hủy sinh học.

(4)   NSH và NPHSH được phân loại thành các nhóm như sau: 1) Nhựa có nguồn gốc sinh học không phân hủy (Bio-based plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tái tạo (tinh bột ngô, khoai, sắn…), gồm các loại nhựa như PE (polyethylen), PET (polyetylen terephthalate), PA (polyamide) và gần đây là PP (polypropylen), PEF (polyethylene furanoate). 2) NSH phân hủy hoàn toàn (Bio-based và Biodegradable plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu sinh học hoặc bằng con đường sinh học, gồm PLA (polylactic acid), PHA (polyhydroxyalkanoates), TPS (thermoplastic starch), hỗn hợp tinh bột và các loại khác.

(5) NPHSH có nguồn gốc dầu mỏ (Biodegradable plastics):  nhóm này chủ yếu gồm PBAT (Polybutylene adipate terephthalate), PCL (polycaprolactone), PBS (polybutylene succinate). NPHSH bao gồm PLA, PHA, hỗn hợp tinh bột và các loại khác hiện chiếm hơn 55% (1,17 triệu tấn) tổng lượng NSH trên thế giới. Trong đó PLA chiếm 24%, hỗn hợp tinh bột (44%), các polyester phân hủy sinh học khác 23% và PHA (6%). Sản lượng NPHSH dự kiến sẽ tăng lên 1,33 triệu tấn vào năm 2024, trong đó dự báo tốc độ tăng trưởng của PHA là nhanh nhất, ước tính tăng gấp 3 lần trong 5 năm tới. Trên thế giới, NPHSH được quan tâm phát triển do có nhiều ưu điểm như: thân thiện với môi trường; được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu tái tạo; an toàn cho người sử dụng; có khả năng tái chế.

(6) Thời gian gần đây, nhựa Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ (đạt 17,5% giai đoạn 2011-2020, chỉ sau viễn thông và dệt may). Sản lượng nhựa ở nước  ta năm 2019 đạt 8,9 triệu tấn, lượng nhựa tiêu thụ bình quân năm 2019 là 41 kg/người, cao gấp hơn 10 lần so với lượng tiêu thụ 3,8 kg/người vào năm 1990.

(7) Cùng với xu hướng phát triển của ngành nhựa thế giới, việc nghiên cứu sử dụng NSH, NPHSH hiện đang là mối quan tâm của các doanh nghiệp nhựa trong nước. Quan điểm phát triển ngành nhựa Việt Nam là phải đạt hiệu quả cao và bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường. Một số công ty đã nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm NPHSH như An Phát bioplastics đã phát triển thành công NPHSH có thể phân hủy hoàn toàn (100% compostable) mang nhãn hiệu AnEco, gồm các sản phẩm như: túi nilon, găng tay, dao, nĩa, ống hút, màng nông nghiệp… được sử dụng trong nước và xuất khẩu. Các công ty: Biostarch, Cổ phần sản xuất nhựa Phú Mỹ (PMP)... đã sử dụng kết hợp tinh bột và nhựa nguyên sinh PE, PP với hàm lượng tinh bột lên đến 40% để sản xuất sản phẩm có khả năng phân hủy sinh học. Một số hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi (Co.opmart, Vinmart, Big C, Mega Market, Lotte…) đã giảm dần việc sử dụng túi nhựa một lần, thay thế bằng các loại bao bì thân thiện môi trường. Hiện nay tỷ trọng NPHSH so với tổng lượng nhựa sử dụng ở Việt Nam vẫn còn thấp. Trong tương lai, nếu tỷ trọng này được nâng cao gần với tỷ trọng chung của thế giới thì đến năm 2025 tổng nhu cầu NPHSH của Việt Nam là khoảng 80 nghìn tấn/năm, như vậy tiềm năng phát triển đối với NPHSH là rất đáng kể.

(8) Ngoài ra, trên phương diện vĩ mô, với quan điểm nhất quán là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường. Mới đây, Thủ tướng đã phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương; ban hành chỉ thị tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Việt Nam phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, chợ, siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần và đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần. Đây cũng là một động lực để thúc đẩy sự phát triển của NPHSH ở Việt Nam trong tương lai.

(9) Có thể khẳng định, khuyến khích sử dụng và phát triển NPHSH ở nước ta là phù hợp với xu thế chung của thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu này ở nước ta, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, cần có lộ trình cụ thể và các giải pháp đồng bộ để hạn chế dần các sản phẩm nhựa dùng một lần và tăng cường sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hiện nay chưa có chính sách thuế phù hợp khiến giá thành NPHSH cao nên đã không tạo động lực khuyến khích người tiêu dùng sử dụng. Vì vậy, cần ban hành một số chính sách ưu đãi về thuế, phí cũng như hỗ trợ, khuyến khích đối với các doanh nghiệp sản xuất NPHSH để giảm giá thành sản phẩm, đồng thời mở rộng đối tượng chịu thuế và tăng mức thuế đối với túi nilon, bao bì và sản phẩm nhựa gốc (virgin plastics); kiểm tra ngăn chặn các hành vi trốn thuế bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với túi nilon.

Hai là, cùng với việc thúc đẩy sản xuất, trong xu hướng sản xuất gắn liền với sử dụng, tái sử dụng sản phẩm của nền kinh tế tuần hoàn hiện nay, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm nhựa để tiến tới từ bỏ thói quen sử dụng túi nilon, các sản phẩm nhựa khó phân hủy và chuyển sang sử dụng các sản phẩm NPHSH. Triển khai giải pháp 3R (Reduce - Reuse - Recycle) và có lộ trình mở rộng giải pháp 3R lên 5R (Refuse - Reduce - Reuse - Recycle - Rot) 3. Từng bước triển khai hiệu quả công tác phân loại rác tại nguồn kèm theo xây dựng hệ thống xử lý rác thải đồng bộ để tăng cường thu hồi và tái chế sản phẩm nhựa.

Ba là, hiện nước ta chưa ban hành các tiêu chuẩn cụ thể đối với các sản phẩm NPHSH cũng như chưa có phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn đánh giá NPHSH, dẫn đến bất cập trong việc kiểm định, đánh giá các sản phẩm dán nhãn NPHSH. Hiện nay, một số đơn vị nghiên cứu về vật liệu polymer phân hủy sinh học ở các trường đại học, viện nghiên cứu đã có một số nghiên cứu khá bài bản và thu được những kết quả đáng khích lệ về NPHSH. Nếu có các chính sách ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về NPHSH, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất nhựa thân thiện với môi trường nhằm thay thế nhựa truyền thống sẽ giúp triển khai hiệu quả việc ứng dụng NPHSH trong thực tiễn.

Bốn là, các doanh nghiệp ngành nhựa cần phải thay đổi công nghệ sản xuất để hướng đến các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Từng bước dịch chuyển từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu dầu mỏ sang sử dụng nguồn nguyên liệu tái tạo (các nhà máy sản xuất PE, PP trong các khu liên hợp lọc hóa dầu có thể chuyển đổi để sản xuất thêm các loại nhựa bio-PE, bio-PP, chuyển đổi một phần các nhà máy sản xuất bio-ethanol sang sản xuất PLA…) sẽ giúp ngành công nghiệp nhựa của Việt Nam thích ứng với xu hướng phát triển mới ngành nhựa của thế giới.

(Nguồn: “Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng Phát triển ở Việt Nam” Đường Khánh Linh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2020)

Trả lời cho các câu 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 dưới đây:

Đoạn văn

PHẦN 3. TƯ DUY KHOA HỌC

Đọc đoạn văn dưới đây:

Hình 1 mô tả một động cơ phản lực:

 

Không khí đi vào động cơ tại A bằng một chiếc quạt hút không khí. Sau đó, không khí được giữ lại bên trong động cơ, tại đó một máy nén tạo áp suất cho không khí. Nhiên liệu được đưa vào, một tia lửa được đốt cháy, khiến hỗn hợp nhiên liệu và không khí cháy. Không khí bị đốt cháy nhanh chóng nở ra và được dẫn qua một vòi phun, được đặt ở phía sau động cơ. Khí được làm nóng thoát ra khỏi B với tốc độ lớn hơn, tạo ra lực đẩy cho máy bay.

Trả lời cho các câu 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn dưới đây:

Phương pháp đầu dò điện trở (Electrical Resistance Probe) là phương pháp được sử dụng để đo tốc độ ăn mòn trong đường ống dẫn chất lỏng hoặc khí ăn mòn. Đầu dò được làm từ cùng loại kim loại với đường ống. Lượng kim loại bị ăn mòn được xác định thông qua sự thay đổi của giá trị điện trở đầu dò. Tốc độ ăn mòn của dây trong đầu dò giống như trong đường ống. Phương pháp này có thể được sử dụng trong hầu hết các môi trường.

Hình ảnh đầu dò được biểu diễn ở hình 1. Hình 2 là sơ đồ mạch điện đơn giản phương pháp đầu dò điện trở.

Trả lời cho các câu 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74 dưới đây:

 

Đoạn văn

Đọc đoạn văn dưới đây:

Sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nhiệt độ được ước lượng gần đúng theo quy tắc Van’t Hoff: “Ở những nhiệt độ thông thường, tốc độ phản ứng tăng từ hai đến ba lần khi nhiệt độ tăng thêm 10C10^\circ C.”

Quy tắc này được biểu diễn bằng công thức:

rt2=γΔT10rt1r_{t_2}= \gamma^{\frac{\Delta T}{10}} r_{t_1}

Trong đó:

  • rt1r_{t_1}, rt2r_{t_2} là tốc độ phản ứng ở các nhiệt độ T1T_1T2T_2;
  • ΔT=T2T1\Delta T = T_2 - T_1;
  • γ\gamma là hệ số nhiệt độ của tốc độ phản ứng (hay hệ số nhiệt Van’t Hoff), cho biết khi nhiệt độ tăng thêm 10C10^\circ C thì tốc độ phản ứng tăng lên bao nhiêu lần;
  • γ\gamma có giá trị từ 2 đến 3.

Quy tắc Van’t Hoff không phải là một định luật nghiêm ngặt. Trong khoảng ΔT\Delta T rộng, hệ số nhiệt độ γ\gamma cũng thay đổi và có thể vượt ra ngoài khoảng từ 2 đến 3. Quy tắc này chỉ cho phép ước lượng gần đúng sự thay đổi của tốc độ phản ứng khi nhiệt độ thay đổi trong một khoảng không quá lớn.

Trả lời cho các câu 75, 76, 77, 78, 79, 80 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn dưới đây:

Ô nhiễm nước bởi các ion kim loại nặng như Pb2+ (chì) và Cd2+ (cadmium) là vấn đề môi trường nghiêm trọng, đặc biệt gần các khu công nghiệp, làng nghề tái chế kim loại và ắc-quy. Các ion này không bị phân hủy sinh học, dễ tích lũy trong cơ thể, gây tổn thương thần kinh, thận và xương.

Một giải pháp bền vững là sử dụng pectin - một polymer thiên nhiên có nhiều trong thành tế bào thực vật và cỏ biển. Trong cấu trúc pectin có các nhóm chức hoá học đúng là: –COOH và –OH, giúp liên kết ion kim loại trên bề mặt thông qua tương tác tĩnh điện và tạo phức bề mặt.

Trong thí nghiệm xử lý nước, người ta dùng 1,0 L dung dịch chứa ion kim loại, và 0,50 g pectin để hấp phụ. Sau khi đạt cân bằng, đo lại nồng độ ion còn lại trong nước.

Lượng ion kim loại đã được pectin giữ lại được tính bằng công thức:

Trong đó:

qe: lượng ion kim loại bị hấp phụ (mg/g)

C0: nồng độ ion ban đầu trong dung dịch (mg/L)

Ce: nồng độ ion còn lại khi cân bằng (mg/L)

V: thể tích dung dịch (L)

m: khối lượng pectin dùng hấp phụ (g)

Trả lời cho các câu 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn thông tin sau và trả lời các câu hỏi:

NUÔI CẤY VI SINH VẬT ĐỂ THU SINH KHỐI

Vi sinh vật có kích thước rất nhỏ, có tỉ lệ diện tích bề mặt/ thể tích (S/V) rất lớn nên khả năng hấp thu và chuyển hóa các chất trong cơ thể rất lớn. Nhờ vậy, vi sinh vật có khả năng sinh trưởng, sinh sản rất nhanh, tạo ra khối lượng sinh khối lớn. Đặc điểm khiến vi sinh vật là đối tượng được ứng dụng trong sản xuất các chế phẩm sinh học.

Để nghiên cứu quá trình ứng dụng thu sinh khối vi sinh vật đối với từng loại sản phẩm khác nhau, người ta nuôi cấy hai loài vi khuẩn Streptomyces rimosus (thu kháng sinh tetracylin) và Propionibacterium shermanii (thu vitamin B12) vào từng môi trường với điều kiện dinh dưỡng thích hợp ở 300C. Đường cong sinh trưởng của từng loài vi khuẩn và sự biến đổi về hàm lượng sản phẩm được thể hiện ở hình dưới:

Biết rằng: Vitamin B12 là chất cần thiết cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn (cofactor của nhiều loại enzim tổng hợp ADN và chuyển hoá axit amin), chủ yếu được tạo ra trong giai đoạn vi khuẩn đang sinh trưởng và phát triển mạnh. Tetracylin là sản phẩm không cần thiết cho sự sinh trưởng của vi khuẩn (làm ức chế hoạt động của vi khuẩn khác và gia tăng khả năng cạnh tranh), thường được tạo ra sau khi pha sinh trưởng đã kết thúc.

Để tối ưu hiệu quả sản xuất các sản phẩm khác nhau từ các nhóm vi sinh vật khác nhau, người ta phải tiến hành các kiểu nuôi cấy trong môi trường thích hợp. Cụ thể: kháng sinh là sản phẩm tạo ra chủ yếu ở pha cân bằng nên vi sinh vật cần được nuôi cấy không liên tục để thu được lượng sản phẩm đối đa, vitamin là sản phẩm gắn liền với sự sinh trưởng, do đó muốn thu sinh khối tối đa từ vi khuẩn cần nuôi cấy trong điều kiện nuôi cấy liên tục (không có pha cân bằng, pha luỹ thừa kéo dài liên tục).

Trả lời cho các câu 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95 dưới đây:

Đoạn văn

Dựa vào thông tin sau và trả lời 5 câu hỏi tiếp theo:

Nước thải chế biển thủy sản có chứa nhiều protein, khi protein bị thủy phân sinh ra ammonium làm cho nước thải có lượng ammonium cao. Ở dạng khí, nồng độ ammonium cao gây kích thích niêm mạc mũi, đường hô hấp dẫn đến dị ứng và tăng tiết dịch, co thắt khí quản và ho. Khi vào đường hô hấp, ammonia di chuyển từ phổi vào máu. Trong máu, ammonium bị oxy hóa tạo thành nitrite gây ức chế chức năng vận chuyển oxy của hồng cầu làm cho người bị xanh xao, nặng hơn có thể gây thiếu oxy não dẫn đến đau đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí có thể tử vong.

Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá khả năng hấp thu ammonium của các 3 dòng vi khuẩn khác nhau, làm cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng để xử lý ammonium trong nước thải.

 

(Nguồn: Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 60, Số 1B (2024): 86-96).

Trả lời cho các câu 96, 97, 98, 99, 100 dưới đây: