Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 16)
Đề thi

Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 16)

A
Admin
ĐH Bách KhoaĐánh giá năng lực2 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

PHẦN 2: TƯ DUY ĐỌC HIỂU

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 41 đến câu 50.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÔ ĐỘC GIỮA RỪNG

     Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi ấy, rừng này còn nhiều hổ lắm. [...] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hổ chúa mò vào, từ ngoài sân phóng một cái phủ lên người gã. Bất thần gã tỉnh dậy. Gã vớ luôn cái mác bên người, cũng không kịp ngồi dậy nữa, cứ nằm ngửa thế mà xóc mũi mác lên đâm thẳng một nhát vào hàm dưới con hổ chúa, hai chân gã đá thốc lên bụng nó, không cho con ác thú kịp chụp xuống người. Con hổ chúa lộn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mác đâm từ hàm dưới thấu lên tận óc, làm nó không hả họng được, nhưng vẫn còn cố vớt cái tát cuối cùng, để lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ. Không biết có phải do đấy mà gã mang tên “Võ Tòng” hay không? Chứ theo như một vài ông lão đa sự, thì ngày xưa, gã là một chàng trai hiền lành, ở tận một vùng xa lắm. Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gã là một người đàn bà trông cũng xinh mắt. Chị ấy, lúc có chửa đứa đầu lòng, cứ kêu thèm ăn măng. Gã đàn ông hiền lành, quý vợ rất mực ấy bèn liều xách dao đến bụi tre đình làng xẳn một mụt măng. Khi về qua ngang bờ tre nhà tên địa chủ, tên này bắt gã bỏ mụt măng xuống và vu cho gã lấy trộm măng tre của hắn. Gã một mực cãi lại, nhưng tên địa chủ quyền thế nhất xã ấy cứ vung ba toong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn được, chứ đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà…. thì số mày tới rồi!”. Lưỡi dao trên tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba toong lên đầu gã đến cái thứ hai. Nhát dao chém trả vào mặt đã gí tên bóc lột và hống hách này nằm gục xuống vũng máu. Nhưng gã không trốn chạy. Gã đường hoàng xách dao đến ném trước nhà việc, bỏ tay chịu tội. Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thì nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia, và đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mặt thì đã chết từ khi gã còn ngồi trong khám lạnh. Người trong xã vốn ghét tên địa chủ hống hách, khấp khởi chờ xem cuộc rửa thù bằng máu lần thứ hai. Nhưng họ đã thất vọng. Gã chỉ kêu trời một tiếng rồi cười nhạt bỏ làng ra đi. Những người đa sự quả quyết rằng chính gã đã mang tên “Võ Tòng” từ lúc xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những chữ bùa xanh lè xăm rằn rực trên người gã, và gã trở nên một người giỏi võ từ lúc nào, thì có kẻ nói đó là dấu vết trong những năm gã ở tù, lại có người bảo đó là mới có từ lúc gã đi giang hồ. Hơn mười năm sống trơ trọi giữa rừng, mặc dầu, cũng có nhiều người đánh tiếng mối mai cho gã, nhưng tuyệt nhiên Võ Tòng không để mắt tới một người đàn bà nào nữa. Ở trong rừng lâu năm chầy tháng, gã ngày càng trở nên kì hình dị tướng. Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không. Điều đó, má nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy... 

(Trích Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi, NXB Văn học, Hà Nội, 2010)

Trả lời cho các câu từ 41 đến 50 dưới đây:

Đoạn văn

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 51 đến câu 60.

TẠI SAO CON NGƯỜI ĐAU ĐẦU DÙ NÃO KHÔNG ĐAU?

[0] Não không có thụ thể cảm nhận cơn đau riêng, nhưng con người vẫn có thể thấy nhức đầu do hiện tượng "đau quy chiếu".

 

Minh hoạ các dây thần kinh cảm giác đau gửi thông điệp đến não. 

Ảnh: Mr.ColePhotographer

[1] Đau đầu là tình trạng phổ biến và có thể diễn ra ở nhiều dạng, từ nhẹ đến dữ dội, kéo dài từ vài phút đến vài ngày. Khi nhức đầu, nhiều người cho rằng các mô não đang đau đớn, nhưng điều này không chính xác.

[2] Thực tế, bộ não cảm nhận được cơn đau trên khắp cơ thể, nhưng lại không có thụ thể cảm nhận cơn đau của chính nó. Vậy tại sao con người lại thấy nhức đầu?

Đau đầu có thể bắt nguồn từ các bệnh lý nền, ví dụ như viêm xoang, lượng đường trong máu thấp hoặc chấn thương đầu. Nhưng nhìn chung, hầu hết các cơn nhức đầu xuất hiện do hiện tượng "đau quy chiếu", nghĩa là cảm thấy cơn đau ở nơi khác với nơi nó thực sự xảy ra, theo tiến sĩ Charles Clarke, nhà thần kinh học kiêm chuyên gia về đau đầu tại bệnh viện Vanderbilt Health (Mỹ). Điều này tương tự như việc thoát vị đĩa đệm ở lưng có thể gây đau thần kinh toạ, đau xuống chân. Với đa số những cơn đau đầu, vấn đề thực sự xảy ra ở vị trí khác như hàm, vai hay cổ, gây đau ở cơ và dây thần kinh xung quanh não.

[3] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đau đầu do căng thẳng là loại đau đầu tái phát phổ biến nhất. Clarke cho biết, đau đầu do căng thẳng thường xảy ra do đau các cơ trên đỉnh đầu hoặc trán. Cơn đau xuất hiện khi các cơ ở mặt, cổ và da đầu bị siết chặt, có thể liên quan đến căng thẳng, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH). Tuy nhiên, cơn đau đầu và việc các cơ bị siết chặt có thể là thứ phát, bắt nguồn từ một phản ứng căng thẳng khác như căng vai hoặc nghiến hàm.

[4] Theo NIH, các dây thần kinh cảm nhận đau trong cơ và mạch máu xung quanh đầu, cổ, mặt có thể bị kích hoạt bởi nhiều quá trình khác nhau như mạch máu giãn, căng thẳng hoặc căng cơ. Sau đó, những dây thần kinh này sẽ gửi tín hiệu đến não, nhưng người bệnh có thể cảm thấy cơn đau như đến từ sâu trong mô não.

[5] Một loại đau đầu khác, đau nửa đầu, có thể dữ dội và kéo dài hơn. Rối loạn này thường mang tính di truyền và có thể gây ra các triệu chứng khác như buồn nôn. Nguyên nhân gốc rễ của chứng đau nửa đầu vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng một giả thuyết cho rằng cơn đau này liên quan đến dây thần kinh sinh ba (dây thần kinh cảm nhận ở vùng đầu và mặt) và màng cứng (lớp bảo vệ của não, nơi các mạch máu giãn ra và co lại).

[6] Một cách giải thích khả dĩ là một kích thích điện trong não tác động đến các dây thần kinh sinh ba và gây ra phản ứng viêm. Phản ứng viêm lan truyền qua các mạch máu màng cứng và các dây thần kinh sinh ba gửi tín hiệu về cuống não. Sau đó, chỗ viêm lan đến màng não nhạy cảm với cơn đau - mô bảo vệ xung quanh não - gây ra cơn đau đầu.

[7] Trong khi mối quan hệ giữa cơn đau trên cơ thể và đau đầu đã được thiết lập rõ ràng, thì cơ chế gây ra cơn đau đầu vẫn chưa được hiểu hết, Clarke cho biết. Nhưng theo Clarke, con người vẫn có thể xử lý tốt các vấn đề này bằng những cách như thay đổi lối sống, ví dụ tập yoga, sử dụng thuốc không kê đơn, ví dụ ibuprofen và aspirin, hoặc sử dụng thuốc kê đơn với những chứng đau đầu nghiêm trọng hơn.

Nguồn: Thu Thảo, Theo Live Science - đăng ngày 13/03/2023, vnexpress.net

Trả lời cho các câu từ 51 đến 60 dưới đây:

Đoạn văn

PHẦN 3. TƯ DUY KHOA HỌC

Đọc đoạn văn bản dưới đây:

Trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm, việc chiết xuất tinh dầu từ các loại thực vật (như bạc hà, sả, hoa hồng) thường sử dụng phương pháp "lôi cuốn hơi nước". Phương pháp này dựa trên nguyên lý: một số hợp chất hữu cơ không tan trong nước nhưng có thể bay hơi cùng với hơi nước ở nhiệt độ thấp hơn điểm sôi của chính chúng.

Một nhóm học sinh thực hiện dự án chưng cất tinh dầu bạc hà với hệ thống thực nghiệm như sau:

1.     Nguồn nhiệt (1) cung cấp năng lượng cho bình cầu (2) chứa nước.

2.     Nước hóa hơi, đi qua nguyên liệu bạc hà (3), cuốn theo các phân tử tinh dầu.

3.     Hỗn hợp hơi (4) (gồm hơi nước và hơi tinh dầu) theo ống dẫn (5) vào bình ngưng (6). Tại đây, hơi nước và tinh dầu được làm lạnh, ngưng tụ thành chất lỏng và chảy vào bình chứa (7).

4.     Sau cùng, do tinh dầu bạc hà không tan và nhẹ hơn nước, người ta dùng kỹ thuật tách (như phễu chiết) để thu lấy tinh dầu nguyên chất.

Trong thí nghiệm này, nhóm sử dụng bình ngưng chứa 5,0 lít nước làm mát ban đầu ở 15,0C. Quá trình chưng cất kéo dài trong 4 giờ liên tục mà không thay nước làm mát. Kết thúc quá trình, nhiệt độ nước trong bình ngưng tăng lên đến 40,0C. Giả sử không có sự thất thoát nhiệt ra môi trường xung quanh.

Các thông số vật lý của nước được cho như sau:

Khối lượng riêng: ρn = 0,997g/cm3

Nhiệt dung riêng: cn = 4180J/kgK

Trả lời cho các câu từ 61 đến 65 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn bản dưới đây:

Pin năng lượng mặt trời (PV) chuyển đổi trực tiếp năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện năng dựa trên hiệu ứng quang điện. Hiệu suất của một tấm pin (η) được định nghĩa là tỉ số giữa công suất điện đầu ra tối đa (Pmax) và công suất năng lượng ánh sáng chiếu xuống bề mặt tấm pin (Pin).

Trong điều kiện tiêu chuẩn (STC: cường độ sáng 1000W/m2, nhiệt độ tế bào pin 25C), các thông số của hai loại tấm pin phổ biến được ghi nhận trong bảng sau:

 

Lưu ý: Hệ số nhiệt độ (γ) cho biết tỉ lệ phần trăm công suất giảm đi khi nhiệt độ tế bào pin tăng thêm 1C so với nhiệt độ tiêu chuẩn (25C). Công suất thực tế Ptt tại nhiệt độ T được tính theo công thức: Ptt=PSTC[1+γ(T−25)]

(Trong đó PSTC là công suất ở điều kiện tiêu chuẩn, γ tính theo số thập phân, ví dụ −0,4%=−0,004

Trả lời cho các câu 66, 67, 68, 69, 70 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn bản dưới đây:

Quá trình hô hấp của con người nhằm cung cấp oxygen cho các tế bào duy trì sự sống. Lượng khí cần thiết để nuôi dưỡng cơ thể phụ thuộc vào khối lượng khí nạp vào phổi trong một đơn vị thời gian. Theo phương trình trạng thái khí lí tưởng, mối liên hệ giữa áp suất (P), thể tích (V), nhiệt độ tuyệt đối (T) và khối lượng khí (m) được xác định bởi công thức:

\[P \cdot V = n \cdot R \cdot T = \frac{m}{\mu } \cdot R \cdot T\]

Trong đó: μ là khối lượng mol khí (29 g/mol đối với không khí), R=8,31 J/(mol.K).

Một người A thực hiện các nhịp hít thở đều đặn. Ở điều kiện bình thường (mặt nước biển), áp suất khí quyển \({p_1} = 1{\mkern 1mu} {\rm{Bar}} = {10^5}{\mkern 1mu} {\rm{Pa}}\), nhiệt độ t1=27°C. Mỗi nhịp hít vào, người này thu được \({m_1} = 0,87{\mkern 1mu} {\rm{g }}\) không khí với chu kỳ \({T_1} = 2,9{\mkern 1mu} {\rm{s}}{\rm{.}}\) Thể tích khoang phổi khi hít vào được coi là không đổi trong mọi điều kiện.

Khi lên núi cao, do không khí loãng, áp suất và nhiệt độ đều giảm (p2=0,8Bar, t2=17°C). Để đảm bảo lượng khí nuôi cơ thể không đổi (nghĩa là tổng khối lượng khí hít vào trong cùng một khoảng thời gian phải bằng nhau), người A phải thay đổi nhịp thở với chu kỳ \({T_2}\) ngắn hơn.

Trả lời cho các câu 71, 72, 73, 74, 75 dưới đây:

Đoạn văn

XÀ PHÒNG VÀ CƠ CHẾ LÀM SẠCH

Xà phòng là sản phẩm của quá trình đun nóng chất béo (triacylglycerol) với dung dịch kiềm mạnh như NaOH hoặc KOH. Phản ứng này được gọi là phản ứng xà phòng hoá (saponification), về bản chất là quá trình thủy phân ester trong môi trường kiềm tạo thành muối của acid béo (xà phòng) và glycerol. Một ví dụ điển hình là phản ứng của glyceryl stearate với NaOH:

(C17H35COO)3C3H5 + 3NaOH   3C17H35COONa + C3H5(OH)3

Khả năng tẩy rửa của xà phòng bắt nguồn từ cấu trúc đặc biệt của phân tử muối acid béo. Mỗi phân tử xà phòng (ví dụ: sodium stearate) gồm hai phần:

- Đầu ưa nước (hydrophilic head): Là nhóm carboxylate (−COO) có tính phân cực cao, dễ dàng tương tác với các phân tử nước,.

- Đuôi kỵ nước (hydrophobic tail): Là mạch hydrocarbon dài, không phân cực, có xu hướng tránh xa nước nhưng lại dễ hòa tan trong dầu mỡ và các vết bẩn hữu cơ.

Khi giặt rửa, các đuôi kỵ nước sẽ bám vào vết bẩn, bao quanh chúng để tạo thành các hạt nhỏ gọi là micelle. Các đầu ưa nước hướng ra ngoài môi trường nước, giúp kéo vết bẩn rời khỏi bề mặt vật liệu và lơ lửng trong dung dịch.

Tuy nhiên, xà phòng có nhược điểm lớn khi sử dụng trong nước cứng (nước chứa nhiều ion Ca2+ và Mg2+ ). Các ion này phản ứng với muối acid béo tạo thành các kết tủa không tan, thường được gọi là cặn xà phòng (scum), làm mất tác dụng tẩy rửa và gây bám bẩn lên quần áo. Để khắc phục, người ta đã phát triển các chất tẩy rửa tổng hợp không tạo cặn trong nước cứng.

Trả lời cho các câu 76, 77, 78, 79, 80 dưới đây:

Đoạn văn

Đọc đoạn văn bản dưới đây

Cho biết tính chất vật lí của một số arene như sau:

 

Cho biết khối lượng nguyên tử (amu): H = 1, C = 12.

Trả lời cho các câu 81, 82, 83, 84, 85 dưới đây:

Đoạn văn

LACTIC ACID

Lactic acid, hay còn gọi là acid sữa, là một hợp chất hữu cơ có mặt tự nhiên trong cơ thể chúng ta và nhiều loại thực phẩm lên men như sữa chua. Nó đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa và có nhiều ứng dụng trong công nghiệp và y tế. Lactic acid được phân tách lần đầu tiên bởi nhà hóa học Thụy Điển Wilhelm Scheele vào năm 1780.

Lactic acid có công thức hóa học  trong dung dịch phân tử lactic acid có thể phân li một phần tạo thành ion lactate và một proton.

Khi cơ thể hoạt động mạnh và trong tình trạng thiếu oxygen, cơ thể sẽ phân giải glucose tạo thành lactic acid và năng lượng để cung cấp cho tế bào. Tuy nhiên, khi tích tụ quá nhiều, lactic acid sẽ gây ra cảm giác mỏi cơ.

Trong thực phẩm, lên men lactic là một quá trình sinh học quan trọng, đóng vai trò cốt lõi trong việc tạo ra sữa chua. Trong quá trình này, vi khuẩn lactic sẽ chuyển hóa đường lactose có trong sữa thành lactic acid. Chính lactic acid này là yếu tố quyết định đến vị chua đặc trưng và kết cấu đặc quánh của sữa chua.

Trả lời cho các câu 86, 87, 88, 89, 90 dưới đây:

Đoạn văn

ẢNH HƯỞNG CỦA NaCl VÀ KCl ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TỔNG HỢP CAROTENOID Ở NẤM MEN Rhodotorula mucilaginosa

Nấm men đỏ thuộc chi Rhodotorula là nhóm vi sinh vật không chỉ nổi bật bởi khả năng sinh trưởng nhanh, dễ nuôi cấy mà còn được biết đến là nguồn sinh học quan trọng trong sản xuất các hợp chất thứ cấp có giá trị, đặc biệt là carotenoid. Trong đó, Rhodotorula mucilaginosa được xem là chủng tiềm năng nhờ khả năng sinh tổng hợp mạnh mẽ các sắc tố tự nhiên như β-carotene, torularhodin, astaxanthin – đây là các hợp chất có hoạt tính sinh học cao với khả năng kháng oxy hóa, bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa, tia cực tím và các tác nhân gây viêm. So với nguồn carotenoid từ thực vật, việc khai thác từ nấm men có nhiều ưu thế: không phụ thuộc mùa vụ, thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu suất ổn định, dễ kiểm soát thông số nuôi cấy và có thể sử dụng các nguồn carbon giá rẻ từ phụ phẩm nông nghiệp.

Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi cấy tiêu chuẩn, lượng carotenoid tích lũy thường không cao. Một số giả thuyết cho rằng stress do muối có thể cảm ứng mạnh mẽ con đường sinh tổng hợp carotenoid do  kích thích tế bào gia tăng sản xuất các chất kháng oxy hóa nội sinh, đồng thời hoạt hóa các enzyme quan trọng trong quá trình tổng hợp các sắc tố kháng oxy hóa mạnh hơn β-carotene như torularhodin và astaxanthin.

Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của stress muối do NaCl và KCl gây ra đến khả năng sinh trưởng và tổng hợp sắc tố ở nấm men đỏ R. mucilaginosa. Trong thí nghiệm này, nấm men được nuôi trong các điều kiện môi trường có nồng độ NaCl hoặc KCl khác nhau, lượng sinh khối khô của nấm (g/l) được đo ở giữa pha lũy thừa và hàm lượng carotenoid nấm tạo ra (μg/g sinh khối) được đo ở giữa pha cân bằng. Kết quả thu được như sau:

 

Trả lời cho các câu 91, 92, 93, 94, 95 dưới đây:

Đoạn văn

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN NẤM MEN SẢN XUẤT RƯỢU TRÁI CÂY

Saccharomyces cerevisiae là loài nấm men rất phổ biến trong ngành công nghiệp lên men sản xuất rượu trái cây. Với khả năng lên men đạt yêu cầu, tăng trưởng nhanh, dễ thích nghi với khoảng nhiệt độ rộng từ 2 đến 45°C, pH từ 2,5 đến 8,5 và chịu được SO2 tốt hơn so với các loài khác. Có nhiều chủng S. cerevisiae khác nhau được sử dụng trong lên men dịch ép trái cây, tuy nhiên mỗi loại trái cây khác nhau lại phù hợp với một hoặc một số chủng nấm men khác nhau.

Khả năng sản xuất ethanol của nấm men chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài như pH, nhiệt độ, thời gian lên men, cơ chất và các vi lượng. Độ pH tối ưu cho các enzyme chuyển hóa cơ chất thành ethanol hoạt động là 4,5. Độ pH môi trường quá cao hoặc quá thấp so với mức này đều làm giảm hiệu suất lên men. Tuy nhiên, CO2 được sản sinh ra trong quá trình lên men thường làm pH môi trường giảm nhanh nên ta cần sử dụng dòng nấm men chịu được pH thấp để tăng hiệu quả.

Mặc dù nấm men là nhóm vi sinh vật có khả năng lên men sản xuất ethanol tốt, nhưng nồng độ ethanol cao trong môi trường sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển các chất qua màng, các bào quan và có thể làm chết tế bào. Bên cạnh đó, tế bào nấm men có thể điều hòa chuyển sang sản xuất glycerol và ergosterol để sống sót trong môi trường bất lợi.

Việc tuyển chọn những dòng nấm men có khả năng chịu nhiệt cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất rượu trái cây ở các nước nhiệt đới. Lên men ở nhiệt độ cao hơn giúp giảm tiêu hao năng lượng làm mát, giảm nguy cơ nhiễm những vi sinh vật gây hư hỏng và tăng hiệu suất chuyển hóa đường thành ethanol.

Kết quả khảo sát khả năng chịu pH, chịu ethanol và chịu nhiệt của 10 chủng nấm men khác nhau sau 7 ngày ủ lên men trong môi trường lỏng được tổng hợp trong bảng sau:

(+ môi trường nuôi cấy đục nhiều; ± môi trường nuôi cấy đục ít, - môi trường nuôi cấy không đục)

Một thí nghiệm sau đó đã khảo sát khả năng lên men của 4 chủng nấm men với các loại trái cây bản địa khác nhau trong 7 ngày. Nguyên liệu lên men là những loại trái cây như: mít, ổi, khế, cam sành. Đây là những loại nông sản có thời gian bảo quản ngắn và giá thành thấp khi vào chính vụ; vì vậy, việc chuyển sang sản xuất nước ép lên men không chỉ giúp tăng thời gian bảo quản mà còn tăng giá trị sử dụng của nguồn trái cây này.

Trả lời cho các câu 96, 97, 98, 99, 100 dưới đây: