Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 19)
0 câu hỏi
Phần thi TƯ DUY ĐỌC HIỂU từ 41 – 60
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 41 đến 50:
Xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng
(1) Hà Giang là một trong những tỉnh có lượng mưa lớn nhất cả nước, tuy nhiên, do địa hình chia cắt, nên lượng nước thu được thấp, đặc biệt tại 4 huyện vùng cao núi đá là: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Với địa hình phức tạp, nhiều dãy núi cao nên việc dẫn nước, giữ nước và khai thác tài nguyên này trong tỉnh là tương đối khó khăn. Thời gian thiếu nước sinh hoạt thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Để có nước phục vụ sinh hoạt, người dân phải đi bộ hàng chục kilomet và chờ hứng nước nửa ngày mới đủ dùng trong 4-5 ngày.
(2) Bên cạnh việc thiếu nước, chất lượng nước sông suối khu vực biên giới tỉnh Hà Giang cũng có xu hướng giảm sút. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường tổng thể tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011-2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Giang cho thấy, chất lượng nước sông Lô khu vực cửa khẩu Thanh Thủy có hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt giới hạn cho phép, hàm lượng kim loại nặng như Zn, Fe, coliform... cao gấp nhiều lần so với các vị trí khác. Báo cáo cũng cho thấy, các hoạt động sản xuất từ phía Trung Quốc đã gây ảnh hưởng nhất định tới chất lượng nước sông Lô.
(3) Qua khảo sát địa bàn Hà Giang cho thấy, tại xã Ngọc Đường, TP Hà Giang, hàng nghìn người dân thường xuyên phải chịu tình trạng khan hiếm nước vào mùa khô, nguồn nước kém chất lượng nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các doanh trại bộ đội đóng trên địa bàn cũng gặp khó khăn khi phải dùng chung một nguồn nước lấy từ giếng đào tầng nông với chất lượng không đảm bảo, trữ lượng không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt.
(4) Trước thực trạng trên, Viện Kỹ thuật và Công nghệ môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ màng lọc kết hợp với vật liệu lọc đa năng để xử lý nước suối vùng biên giới Tây Bắc cấp nước cho sinh hoạt”. Đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2013-2018. Mục tiêu của đề tài là xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng cung cấp cho quân và dân trên địa bàn xã Ngọc Đường, TP Hà Giang.
(5) Sau khi nghiên cứu kỹ địa hình và lựa chọn công nghệ, các nhà khoa học của Viện Kỹ thuật và Công nghệ môi trường đã lựa chọn công nghệ siêu lọc UF (Ultra Filtration) kết hợp vật liệu đa năng để xử lý nước tại đập chứa Tà Vải. Lý do lựa chọn công nghệ màng lọc UF là vì màng có kích thước từ 0,1~0,001 micron ( μ m) có thể lọc sạch 100% tạp chất, loại bỏ dầu, mỡ, hydroxit kim loại, chất keo, nhũ tương, chất rắn lơ lửng và ký sinh trùng, virus, vi khuẩn. Nước sau lọc bằng công nghệ UF đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật QCVN 01:2009/BYT. Hơn nữa, màng lọc UF có giá thành thấp và khả thi hơn so với các công nghệ lọc khác.
(6) Việc xử lý nước cấp sinh hoạt tại đập chứa nước Tà Vải, xã Ngọc Đường theo 4 bước:
Bước 1: Dùng keo tụ lắng nước, làm trong nước lần 1.
Bước 2: Làm trong nước bước 2, kết hợp xử lý các chất ô nhiễm đặc biệt.
Bước 3: Xử lý nâng cao loại bỏ vi trùng và kim loại nặng.
Bước 4: Cấp nước ăn uống, sinh hoạt. Kết quả cho thấy, chất lượng nước (18 mẫu) sau khi xử lý bằng màng lọc UF và sử dụng các vật liệu (lọc cát kết hợp vật liệu đa năng) đã được kiểm nghiệm tại Phòng thí nghiệm của Viện Kỹ thuật và Công nghệ môi trường đạt Quy chuẩn kỹ thuật QCVN 01:2009/BYT.
(7) Việc thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ màng lọc kết hợp với vật liệu lọc đa năng để xử lý nước suối vùng biên giới Tây Bắc cấp nước cho sinh hoạt” có ý nghĩa rất quan trọng đối với quân và dân ở xã Ngọc Đường, TP Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Bên cạnh mục tiêu an sinh xã hội, đề tài còn có giá trị về mặt an ninh - quốc phòng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững cho các địa phương còn khó khăn thuộc vùng biên giới của Tổ quốc. Mô hình xử lý nước cho sinh hoạt tại vùng nghiên cứu hoàn toàn có thể nhân rộng cho một số nơi khan hiếm nước sinh hoạt về mùa khô ở khu vực miền núi phía Bắc. Việc triển khai đề tài nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới nhằm giải quyết nhu cầu thiết yếu về nước sinh hoạt của người dân cho thấy, KH&CN luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Chỉ có KH&CN mới có thể giải quyết được các bài toán khó trong nhiều lĩnh vực khác nhau phục vụ thiết thực cho đời sống xã hội.
(Nguồn: “Xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng”, ThS Đặng Xuân Thường, TS Nguyễn Phú Duyên, ThS Lê Văn Thạch, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 11, năm 2017)
Trả lời cho các câu 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50 dưới đây:
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi
Xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt
Nhu cầu từ thực tiễn
Chất thải y tế là loại chất thải rất nguy hại, có độc tính cao, khả năng lây nhiễm mạnh, nếu không được xử lý khoa học sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 80% chất thải từ các cơ sở y tế là chất thải thông thường, 20% còn lại là chất thải nguy hại. Hiện nay trên thế giới (và cả ở Việt Nam) đang áp dụng 2 công nghệ chính để xử lý rác thải y tế lây nhiễm, đó là công nghệ đốt và không đốt. Ở các nước phát triển, công nghệ không đốt đã được thay thế hoàn toàn cho công nghệ đốt.
Tại Việt Nam, hầu hết các cơ sở y tế đang sử dụng lò đốt để xử lý rác thải y tế nguy hại. Công nghệ đốt giúp loại bỏ hoàn toàn các chất lây nhiễm có trong rác thải y tế thành khí CO2 và hơi nước ở nhiệt độ khoảng 1.000oC. Tuy nhiên, công nghệ này có nhược điểm là khi đốt sẽ gây ra chất thải thứ phát là dioxin và furan - những độc tố ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người và môi trường.
Hiện nay với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, nhiều phương pháp xử lý chất thải đã ra đời, giúp xử lý triệt để các chất/ hợp chất nguy hại có trong rác thải y tế mà vẫn đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường, trong đó phải kể đến công nghệ nghiền hấp tiệt trùng. Nguyên lý hoạt động của công nghệ này là dùng hơi nước bão hòa ở nhiệt độ cao để khử toàn bộ vi trùng, vi khuẩn và những tác nhân gây bệnh có hại. Mặc dù đã có một số đơn vị ứng dụng công nghệ này vào lĩnh vực xử lý chất thải y tế, tuy nhiên đây là công nghệ - thiết bị nhập khẩu nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tiến hành bảo trì, bảo dưỡng, hay thay thế nếu gặp sự cố.
Một công trình mang nhiều ý nghĩa
Để từng bước chuyển đổi công nghệ xử lý rác thải y tế truyền thống, đáp ứng nhu cầu của xã hội, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và đưa vào vận hành hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt, năng suất 4.000-4.500 kg rác/ngày”. Sau 2 năm triển khai thực hiện (2019-2020), các nhà khoa học của Viện đã chế tạo thành công 1 nồi hấp, 1 nồi hơi, 1 tủ điều khiển nồi hấp, 1 tủ điều khiển nồi hơi (phần cứng, phần mềm điều khiển) và bộ quy trình công nghệ xử lý rác thải y tế hấp nhiệt ướt. Sản phẩm đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép vận hành thử nghiệm (Công văn số 6524/ BTNMT-TCM ngày 18/11/2020). Điểm đặc biệt của thiết bị do Viện thiết kế, chế tạo là toàn bộ quá trình xử lý rác được vận hành tự động, khi hết thời gian khử trùng, rác được làm nguội và nghiền nhỏ, ép thành bánh, sau đó có thể tiến hành chôn lấp như chất thải thông thường.
Sau hai tháng được lắp đặt thử nghiệm tại Công ty Cổ phần vật tư thiết bị môi trường 13 (URENCO 13) cho thấy, hệ thống vận hành ổn định; các xét nghiệm vi sinh rác thải y tế sau khi được xử lý đạt kết quả theo yêu cầu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.
Đặc biệt, hệ thống xử lý rác thải y tế do Viện Nghiên cứu Cơ khí chế tạo còn có ưu điểm hơn hẳn, như thời gian xử lý rác rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 80-85%, năng suất tăng khoảng 15-20%, giá thành chỉ bằng 1/3 so với giá nhập ngoại. Có thể khẳng định, việc các nhà khoa học trong nước nghiên cứu, chế tạo thành công hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng, cụ thể như:
Thứ nhất, về khả năng ứng dụng: hiện tại dây chuyền xử lý rác thải bằng công nghệ hấp nhiệt ướt đang được vận hành tại URENCO 13 đã chứng minh được tính ưu việt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trước mắt, hệ thống sẽ được nhân rộng tại các đơn vị thành viên của URENCO phục vụ xử lý rác thải y tế tập trung cho các bệnh viện tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, sau đó sẽ nhân rộng sang các đơn vị xử lý rác thải bệnh viên tại miền Trung và miền Nam
Thứ hai, về hiệu quả môi trường và xã hội: công nghệ xử lý rác thải y tế bằng hấp nhiệt ướt không phát sinh chất thải thứ phát là dioxin và furan như công nghệ đốt. Với công nghệ này, Việt Nam sẽ thực hiện tốt hơn các công ước về bảo vệ môi trường đã ký kết với quốc tế như: Công ước về bảo vệ tầng ôzôn 1985, Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển 1992, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) 1992, Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) 2001..., tạo ra môi trường trong sạch cho xã hội.
Thứ ba, về hiệu quả kinh tế: theo báo cáo của Công ty URENCO 13, chi phí xử lý rác thải y tế bằng công nghệ hấp nhiệt ướt đã giảm khoảng 40% so với công nghệ đốt, đồng thời chi phí bảo dưỡng, sửa chữa thấp hơn rất nhiều so với công nghệ và thiết bị nhập khẩu.
Ngoài ra, việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dây chuyền xử lý rác thải y tế theo công nghệ mới đã khẳng định năng lực của các nhà khoa học trong nước trong việc làm chủ công nghệ thiết kế chế tạo thiết bị xử lý rác thải y tế, góp phần nâng cao sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường.
(Nguồn: Nguyễn Văn Bình, Đỗ Đình Hưởng; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)
Trả lời cho các câu 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 dưới đây:
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời các câu 61 đến câu 65.
Một vòi hoa sen với nhiều lỗ phun nước nhỏ. Tổng diện tích các lỗ phun nước là S = 10 mm². Trước khi ra khỏi vòi tắm, nước được dẫn qua một bộ phận đun nóng điện trở nằm ngay bên trong vòi sen. Khi dòng nước lạnh đi qua bộ phận này, nhiệt điện trở truyền nhiệt trực tiếp cho nước, làm tăng nhiệt độ của nước trong thời gian rất ngắn (gần như tức thời). Cơ chế hoạt động này được gọi là đun nước trực tiếp, giúp tiết kiệm không gian và đảm bảo nước luôn được làm nóng theo nhu cầu.
Cho công suất điện của bộ đun nước nóng này là P = 2,8 kW; hiệu suất quá trình chuyển điện năng thành nhiệt năng cung cấp cho dòng nước phun ra H = 96%; khối lượng riêng của nước là D = 1000 kg/m³; nhiệt dung riêng của nước c = 4200 J/kg.K; nhiệt độ của nước trước khi đun là t₁ = 20°C, khi phun ra khỏi vòi nước có nhiệt độ t₂ = 36°C.
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 66 đến câu 70.
Trong một ống tia điện tử, người ta tạo ra một chùm tia electron nhờ điện áp tăng tốc bằng U=2,70kV. Sau đó chùm tia electron đi qua vùng có tác dụng của từ trường hoặc vùng có tác dụng của điện trường.
- Thí nghiệm 1: cho chùm electron đi qua vùng điện trường đều ⃗E nằm trong mặt phẳng hình vẽ, hướng lên trên hoặc xuống dưới. Đồ thị mô tả đường đi của electron (từ bên trái) bị lệch về phía dưới (Hình a)

- Thí nghiệm 2: cho chùm electron đi qua vùng từ trường đều ⃗B có phương vuông góc với mặt phẳng hình vẽ, electron có đường đi như hình b. Biết lực từ tác dụng lên electron có phương vuông góc với vectơ cảm ứng từ ⃗Bvà với vận tốc ⃗v của hạt, chiều xác định theo quy tắc bàn tay trái, có độ lớn f=Bv|q|. Bỏ qua tác dụng của trọng trường, tốc độ của electron trước khi tăng tốc.
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 71 đến câu 75.
Hệ thống làm mát của động cơ ô tô giúp duy trì nhiệt độ làm việc tối ưu (≈90–100°C), đảm bảo hiệu suất cao và tránh quá nhiệt. Hình minh họa trên mô tả hệ thống làm mát bằng chất lỏng tuần hoàn (nước + glycol/glycerine).
Nguyên lý làm việc:
- Nhiên liệu cháy sinh công trong xi-lanh, sinh ra nhiệt lượng lớn.
- Chỉ ~30% năng lượng này chuyển thành cơ năng; phần còn lại là nhiệt thải, cần được loại bỏ.
- Hệ thống làm mát:
- Nước làm mát hấp thụ nhiệt từ động cơ,
- Dòng nước nóng được bơm tuần hoàn ra két tản nhiệt,
- Quạt thổi không khí qua két để làm mát nước,
- Nước nguội quay lại động cơ tiếp tục hấp thụ nhiệt.
Hình vẽ bên dưới biểu diễn hệ thống làm mát của động cơ ô tô. Trong một lần thử nghiệm hệ thống này, các số liệu được thống kê ở bảng bên dưới. Cho rằng, khi nhiên liệu bị đốt cháy hoàn toàn thì 30% nhiệt năng từ nhiên liệu sẽ chuyển hóa thành cơ năng có ích.

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 76 đến câu 81.
CẤU HÌNH ELECTRON
Trong nguyên tử, các electron sắp xếp thành từng lớp và phân lớp theo các mức năng lượng từ thấp đến cao. Lớp electron được kí hiệu bằng chữ số 1, 2, 3, 4… Các phân lớp trong mỗi lớp electron được kí hiệu bằng các chữ cái viết thường theo thứ tự: s, p, d, f. Mỗi phân lớp có các orbital có cùng mức năng lượng như sau:
- Phân lớp s: Có 1 AO s

- Phân lớp p: Có 3 AO p

- Phân lớp d: Có 5 AO d
· Phân lớp f: Có 7 AO f 
Việc xác định cấu hình electron của nguyên tử và ion là cơ sở để giải thích tính chất hóa học và vật lý của các nguyên tố. Cấu hình electron của nguyên tử biểu diễn sự phân bố electron trên các phân lớp thuộc các lớp khác nhau của phần vỏ electron. Sự phân bố của electron tuân theo các nguyên tắc và quy tắc sau:
- Nguyên lí vững bền: Các electron trong nguyên tử ở trạng thái cơ bản lần lượt chiếm các orbital có mức năng lượng từ thấp đến cao: 1s 2s 2p 3s 3p 4s 3d 4p 5s 4d…
- Quy tắc Hund: Trong cùng một phân lớp, các electron sẽ phân bố trên các orbital sao cho số electron là tối đa và các electron này có chiều tự quay giống nhau.
- Nguyên lí loại trừ Pauli: Mỗi orbital nguyên tử chỉ chứ tối đa 2 electron và hai electron này phải có chiều quay ngược nhau (một spin lên, một spin xuống).
Cấu hình electron của nguyên tử cho biết số lớp electron, thứ tự phân lớp electron và số electron trong mỗi phân lớp và mỗi lớp. Các bước viết cấu hình electron của nguyên tử như sau:
Bước 1: Xác định số electron trong nguyên tử
Bước 2: Viết thứ tự các lớp và phân lớp electron theo chiều tăng năng lượng: 1s 2s 2p 3s 3p 4s 3d 4p 5s…
Bước 3: Điền electron vào các phân lớp theo nguyên lí vững bền cho đến electron cuối cùng.
Ví dụ: Viết cấu hình electron của nguyên tử oxygen (Z = 8)
Tổng số electron của nguyên tử O là 8.
Viết thứ tự các lớp và phân lớp electron đến phân lớp 4s theo chiều tăng năng lượng: 1s 2s 2p 3s 3p 4s 3d …
Điền các electron: 1s22s22p4
Cấu hình electron của nguyên tử oxygen có thể được biểu diễn theo ô orbital như sau:

Từ cấu hình electron của oxygen thấy nguyên tử oxygen có 2 electron độc thân.
Cho nguyên tử kim loại Mn (Z = 25)
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 82 đến câu 88.
Ethylene là một hydrocarbon không no, trong phân tử có một liên kết đôi C = C. Ở điều kiện thường, ethylene là một chất khí, không màu, không mùi, nhẹ hơn không khí, tan ít trong nước nhưng tan nhiều trong các dung môi hữu cơ không phân cực.
Ethylene là loại khí olefin đơn giản nhất và là phân tử tín hiệu sinh học đầu tiên được con người biết đến. Ethylene đóng vai trò là hormone sinh trưởng thực vật. Nhiều loại trái cây (cà chua, chuối, xoài,…) được xử lý bằng ethylene sẽ chín nhanh và đều hơn so với khi để trong điều kiện bình thường. Thực vật có xu hướng sinh ra nhiều ethylene hơn khi bị tổn thương hay gặp điều kiện bất lợi (hạn hán, ngập úng,…). Ethylene còn có tác dụng kích thích quá trình tạo mủ và làm cho mủ cây cao su chậm đông. Ngày nay khí ethylene cũng được nhiều người biết đến hơn bởi tác dụng và cách ứng dụng rộng rãi của ethylene trong các ngành công nghiệp hóa chất. Khí ethylene là nguyên liệu để sản xuất polyethylene hay chính là nhựa PE – một loại nhựa nhiệt dẻo được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới (hàng năm tiêu thụ hơn 60 triệu tấn). Người ta còn chuyển hóa ethylene thành các monomer khác để tổng hợp ra hàng loạt polymer đáp ứng nhu cầu phong phú của đời sống và kĩ thuật. Một lượng lớn ethylene sản xuất ra được dùng để điều chế ethylenen oxide, đây là một trong những chất trung gian quan trọng của công nghiệp tổng hợp hữu cơ. Phần lớn ethylene oxide dùng để sản xuất ethylene glycol làm chất chống đông cho nước dùng trong két nước làm mát động cơ ô tô và để sản xuất tơ polyester. Trên thực tế trong ngành công nghiệp, ethylene đứng thứ tư trong danh sách 20 hóa chất được sản xuất nhiều nhất, chỉ sau sulfuric acid, nitrogen và oxygen. Trong công nghiệp hóa dầu, ethylene là một chất trung gian có khối lượng lớn được thu hồi thông qua phản ứng cracking dầu mỏ.
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 89 đến câu 96.
QUÁ TRÌNH ĐÔNG MÁU Ở ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG
Máu động vật có xương sống là một mô liên kết gồm các tế bào lơ lửng trong một khối dịch gọi là huyết tương. Thành phần tế bào chiếm khoảng 45% thể tích của máu, bao gồm hồng cầu vận chuyển O2 và bạch cầu có chức năng bảo vệ. Máu cũng có tiểu cầu, đây là các mảnh tế bào chất bị cắt rời từ các tế bào tủy xương, có đường kính khoảng 2–3 μm và không có nhân. Chức năng chính của tiểu cầu là tham gia vào quá trình đông máu.
Quá trình đông máu bắt đầu khi lớp dưới niêm mạc của thành mạch máu bị tổn thương tạo ra bề mặt gỗ ghề và có lực hút tĩnh điện cho phép tiểu cầu bám vào các sợi collagen và giải phóng chất kích thích kết dính các tiểu cầu gần đó. Sự hoạt hóa tiểu cầu tạo thành nút tiểu cầu nhanh chóng lấp kín mạch máu bị tổn thương. Các yếu tố đông máu được giải phóng từ tiểu cầu và các tế bào bị tổn thương kết hợp với các yếu tố đông máu có sẵn trong huyết tương tạo thành một chuỗi phản ứng giúp chuyển hóa Prothrombin bất hoạt thành dạng Thrombin hoạt động. Thrombin được tạo thành có chức năng xúc tác hình thành các sợi Fibrin từ Fibrinogen hòa tan trong máu. Các sợi fibrin này tạo thành một mạng lưới vững chắc, giữ lại các tế bào máu để hình thành cục máu đông vững chắc ngăn chặn sự mất máu và bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn.

Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 97 đến câu 100.
Trong quá trình tiêu hóa, tuyến tụy có chức năng tiết ra các enzyme tiêu hóa vào ruột non giúp phân giải thức ăn thành các chất dinh dưỡng mà cơ thể có thể hấp thụ được. Một trong các enzyme đó là amylase, có nhiệm vụ phân giải carbohydrate thành đường đơn – hợp chất cung cấp năng lượng cho các tế bào hoạt động. Quá trình tuyến tụy tiết amylase được điều khiển bởi hai cơ chế, gồm:
Cơ chế thần kinh: các tế bào thần kinh nằm trong hệ thần kinh ruột tiết ra chất dẫn truyền thần kinh VIP khi thức ăn đi vào ruột, kích thích tế bào tuyến tụy tiết ra amylase.
Có chế thể dịch: CCK và Secretin là hai hormone chính kích thích tế bào tuyến tụy tiết ra amylase. Trong đó, CCK được giải phóng để đáp ứng với sự hiện diện của chất béo và protein trong tá tràng. Secretin được giải phóng khi pH trong tá tràng giảm khi hỗn hợp thức ăn mang trộn lẫn dịch vị từ dạ dày di chuyển tới.
Xuất bào là cơ chế giúp enzyme được tiết từ trong tế bào tuyến ra ngoài tế bào để thực hiện chức năng. Nếu quá trình xuất bào bị ức chế, enzyme amylase sẽ không được tiết ra dù có phân tử tín hiệu tác động.
Một nhóm nhà khoa học thực hiện nghiên cứu về bốn loại thuốc A, B, C, D. Bốn loại thuốc này đều có tác dụng ức chế khả năng tiết enzyme amylase của tuyến tuỵ. Biết rằng, mỗi loại thuốc ức chế một loại phân tử tín hiệu khác nhau hoặc ức chế sự xuất bào. Các nhà khoa học muốn xác định xem loại thuốc nào ức chế con đường tín hiệu Secretin, CCK, VIP hay ức chế sự xuất bào.
Người ta nuôi cấy các tế bào tuyến tụy trong những điều kiện có hoặc không có thuốc, và thêm các chất tín hiệu (Secretin, CCK, VIP) để quan sát xem tế bào có tiết amylase hay không. Kết quả được ghi lại như sau:

Ghi chú: Dấu “ – ” thể hiện kết quả chưa được ghi lại
