Đề thi Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 06)
0 câu hỏi
Sao băng là gì và những điều bạn cần biết về sao băng
[1] 1. Sao băng là gì?
Sao băng hay sao sa (sao băng tiếng Anh là shooting star), là đường nhìn thấy của các thiên thạch khi chúng đi vào khí quyển Trái đất (hoặc của các thiên thể khác có bầu khí quyển). Trên Trái Đất, việc nhìn thấy đường chuyển động của các thiên thạch này là do nhiệt phát sinh ra bởi áp suất nén khi chúng đi vào khí quyển.
Vậy sao băng có thật không? Thực chất sao băng là một tia lửa thoáng hiện trên bầu trời, trên thực tế nó không phải là một ngôi sao rơi khỏi bầu trời mà là một viên đá nhỏ của vũ trụ, xuyên qua khí quyển với vận tốc rất lớn, khoảng 100.000 km/h. Lực ma sát của không khí lập tức làm nóng viên đá này, nó chói sáng lên và để lại một vệt sáng dài.[2] Có rất ít thiên thạch có khả năng rơi xuống đến tân mặt đất, do phần lớn chúng có kích thước và khối lượng nhỏ nên đã bị thiêu cháy hết trên đường đi xuống mặt đất hoặc đơn giản là chúng chỉ xẹt ngang qua bầu khí quyển của Trái Đất rồi lại tiếp tục hành trình của mình trong không gian do chúng có vận tốc đủ lớn để không bị rơi xuống Trái Đất.
Những thiên thạch có khối lượng đủ lớn để rơi được xuống mặt đất thường tạo ra những hố lòng chảo sâu hoắm.
Thông thưởng, một sao băng sẽ có màu trắng, trắng xanh, xanh lá, đỏ,... và chỉ có thể phát sáng vài giây rồi vụt tắt do thiên thạch cháy rất nhanh trong vũ trụ. Sao băng màu trắng hoặc xanh xuất hiện nhiều nhất và cũng dễ nhìn thấy bằng mắt thường nhất.
[3] 2. Sao băng và sao chổi khác nhau như thế nào?
Người ta thường hay quan niệm rằng gặp được sao băng sẽ mang lại may mắn còn nếu gặp phải sao chổi cũng đồng nghĩa với việc gặp điều xui xẻo. Vậy sao chổi và sao băng khác nhau như thế nào mà lại dẫn đến quan niệm đó?
2.1 Về bản chất
Kích thước của sao chổi to gấp hàng trăm lần sao băng và chúng có quỹ đạo di chuyển cố định xung quanh mặt trời theo hình elip dẹp hoặc hyperbol. Trong quá trình di chuyển, sao chổi có thể đâm vào một hành tinh nào đó và tan biến hoặc bị đốt cháy khi đến gần mặt trời. Mỗi loại sao chổi đều có hình dạng, màu sắc không giống nhau vì có cấu tạo về thành phần khác nhau và chúng thường chỉ xuất hiện đơn lẻ.
Sao băng ngược lại có kích thước cực kỳ nhỏ nên chúng không có một quỹ đạo di chuyển cụ thể và sẽ nhanh chóng bị vụt tắt. Dưới áp suất của khí quyển tác động, sao băng sẽ phát ra ánh sáng khi di chuyển. Khác với sao chổi, sao băng vừa có thể xuất hiện đơn lẻ, vừa có thể xuất hiện chung với số lượng lớn hay còn gọi là hiện tượng mưa sao băng.
[4] 2.2 Về cấu tạo
Cấu tạo của sao chổi gồm lõi, sợi và đuôi sao chổi. Lõi được tạo thành từ là nước, có kích thước khổng lồ lên đến vài trăm kilomet. Bên ngoài lõi sao chổi có lớp ánh sáng phát ra gọi là sợi sao chổi. Còn đuôi sao chổi được tạo ra từ bạc được thổi vào từ những cơn gió khi sao chổi đi ngang qua mặt trời, khiến sao chổi luôn có những chiếc đuôi lấp lánh kéo dài tới hàng triệu kilomet.
Cấu tạo của sao băng tuy khá giống với sao chổi nhưng phần đuôi lại không sáng rõ và kéo dài được như sao chổi mà chỉ là một vệt sáng nhỏ thoáng qua là do kích thước quá của sao băng quá nhỏ bé.
Trong lịch sử, sao chổi thường gắn với những tai họa, xui xẻo, dịch bệnh lớn của nhân loại. Chính vì điều đó, người ta cho rằng sự xuất hiện của sao chổi chính là điềm báo cho những điều xui xẻo. Tuy nhiên, sau này khi khoa học được phát triển, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng sao chổi hoàn toàn không liên quan đến các thảm họa đã tững xảy ra.
[5] 3. Sao băng thường xuất hiện khi nào?
Khi nào có sao băng là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm nhằm mục đích muốn chứng kiến sao băng thực tế bằng mắt. Thực chất, những trận mưa sao băng mỗi năm chỉ xuất hiện được vài lần, thậm chí còn hiếm hơn nữa. Nhưng sao băng không thật sự hiếm tới vậy, như năm 2008 được ghi nhận là có tới 30 trận mưa sao băng.
Và việc quan sát được các sao băng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trời mây hay độ ô nhiễm không khí của của thành phố đó. Nếu như bầu trời hôm đó nhiều mây thì việc quan sát sao băng là điều không thể, hay thành phố có quá nhiều bụi bẩn ô nhiễm hay ánh sáng thì việc quan sát sao băng cũng gặp nhiều khó khăn.
[6] 4. Tại sao sao băng lại có chu kì?
Thực chất nguyên nhân chính làm xuất hiện mưa sao băng chính là các Sao Chổi. Sao Chổi là những thiên thể quay quanh mặt trời với quỹ đạo Hyperbol hoặc elip rất dẹt.
Do được cấu tạo bởi băng, bụi và đá nên khi chuyển động gần mặt trời chúng bị tan tạo thành những dải bụi trên quỹ đạo. Nếu các sao Chổi lại đi qua hoặc ở gần quỹ đạo của Trái Đất thì khi Trái Đất chuyển động đến gần điểm giao nhau đó các bụi khí sẽ bay vào trong khí quyển làm xuất hiện rất nhiều sao băng và được gọi là Mưa Sao băng.
Vì quỹ đạo của Trái Đất và các sao Chổi là xác định nên các giao điểm là xác định trên đường đi của Trái Đất.
Trong hành trình chuyển động quanh Mặt trời hằng năm của mình Trái Đất sẽ đi qua những giao điểm đó tại thời điểm xác định, do đó các trận mưa sao băng là có chu kỳ, và chu kỳ của tất cả các trận mưa sao băng đều là 1 năm.
[7] 5. Xem sao băng ở đâu thích hợp nhất?
Để xem được một trận sao băng hoàn hảo thì phải xác định được hướng các chòm sao. Do tâm điểm của các trận mưa sao băng sẽ nằm trên bầu trời nên ở nơi nào có thể nhìn được những chòm sao đó thì có thể nhìn được những trận mưa sao băng.
Càng đi dần về cực thì việc nhìn được về phía bên kia bán cầu rất là khó khăn cũng như rất khó quan sát được những trận mưa sao băng. Vì thế những nơi nằm ở càng gần vùng xích đạo thì càng dễ quan sát được những trận mưa sao băng.
Thật may mắn khi Việt Nam nằm gần vùng xích đạo nên và có thể quan sát được các trận mưa sao băng một cách khá thuận lợi.[...]
(Theo voh.com.vn)
Trả lời cho các câu 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50 dưới đây:
Nhà mẹ Lê
[1] Đoàn Thôn là một phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lị nhỏ ở trung châu. Hai dãy nhà lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái giại nứa đã mục nát. Gần đấy là những quán chợ xiêu vẹo đứng bao bọc một căn nhà gạch có gác, bưng bít như là cái tổ chim, nhà của một người giàu trong làng làm ra đấy để bán hàng.
[2] Người ở phố chợ là bảy, tám gia đình nghèo khổ không biết quê quán ở đâu, mà người dân trong huyện vẫn gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Họ ở những đâu đến đây kiếm ăn trong mấy năm trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt: người thì kéo xe, người thì đánh dậm, hay làm thuê, ở mướn cho những người giàu có trong làng. Người ta gọi mỗi gia đình bằng tên người mẹ: nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này đều giống nhau ở chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả.
[3] Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì rải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc là đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó....
[4] Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lờ đầu - bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
[5] Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm [...]
[6] Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo:
Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không?
Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.
Bác Lê đáp:
Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao. [...]
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó:
Hình như u về đấy chị ạ.
[7] Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngoài. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:
Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì độc lắm đấy.
Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo vừa hỏi:
U làm sao thế, u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra đuổi, tao đã chạy mà không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.
Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đỡ đói bây giờ.
Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm chúng nó vào lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
[8] Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn. [...]
Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?
Tiếng kêu thất thanh của bác làm lũ trẻ giật mình, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn người mẹ. Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.
[9] Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè. Con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát rồi sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ hết.
(Trích Nhà mẹ Lê, Thạch Lam, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2015, tr 28-29)
Trả lời cho các câu 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 dưới đây:
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi từ Câu 61 đến Câu 67
Để dẫn điện từ nhà máy phát điện đến hộ tiêu thụ cần phải có đường dây tải điện. Nếu khoảng cách từ nơi sản xuất điện đến hộ tiêu thụ lớn, một vấn đề đặt ra là việc truyền tải điện năng đi xa làm sao cho kinh tế nhất.
Cùng một công suất truyền tải trên đường dây, nếu điện áp truyền tải cao thì dòng điện chạy trên đường dây nhỏ, do đó trọng lượng và chi phí dây dẫn sẽ giảm xuống, đồng thời tổn hao năng lượng trên đường dây sẽ giảm. Vì thế, muốn truyền tải công suất lớn đi xa ít tổn hao và tiết kiệm kim loại đồng để làm dây dẫn, người ta phải dùng điện áp cao, thường là 35,110,220,500kV. Thực tế các máy phát điện chỉ phát ra điện áp trong khoảng 3-21kV, do đó phải có thiết bị tăng điện áp ở đầu đường dây. Mặt khác các hộ tiêu thụ thường yêu cầu điện áp thấp, từ 0,4-6kV, vì vậy cuối đường dây phải có thiết bị giảm điện áp xuống. Thiết bị dùng đề tăng điện áp ở đầu đường dây và giảm điện áp cuối đường dây gọi là máy biến áp.

Trả lời cho các câu 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67 dưới đây:
Đọc thông tin dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 68 đến Câu 73:
Solenoid - một thiết bị điện từ là một dụng cụ được tạo ra bởi một vòng dây dẫn điện quấn theo dạng hình trụ. Khi cho dòng điện chạy qua dây thì sẽ xuất hiện từ trường khá đều trong lòng ống. Cường độ từ trường sinh ra phụ thuộc vào cường độ dòng điện đi qua dây, số vòng dây trên một đơn vị đo chiều dài của ống dây và phụ thuộc vào kích thước của ống dây.
Các nhà khoa học đã thực hiện các thí nghiệm trên thiết bị điện từ như trong Hình 1.

Hình 1
Một dây dẫn mang dòng điện từ nguồn điện áp được cuộn thành một hình trụ rỗng tạo thành một cuộn dây điện có chiều dài XY. Một thanh nam châm hình trụ đặc được treo gần đầu cuộn dây điện từ như trong Hình 2.

Hình 2
Thí nghiệm 1: Khi bật nguồn điện áp, cuộn dây điện từ tác dụng một lực có thể đo được lên thanh nam châm treo lơ lửng. Thanh nam châm được gắn vào một chiếc cân treo kỹ thuật số để đo trọng lượng tính bằng newton (N). Khi tắt nguồn điện áp, thang đo đọc được 4,7 N. Trước khi bắt đầu mỗi thử nghiệm, thang đo được điều chỉnh để đọc 5,0000 N.
Bảng 1 | |
Điện áp (V) | Trọng lượng ( N ) |
7,25 | 5,0078 |
8,00 | 5,0095 |
8,75 | 5,0113 |
Thí nghiệm 2: Các nhà khoa học đã tháo thanh nam châm ra, đảo ngược chiều ( 2 cực) và gắn lại nó vào cân treo sao cho đầu đối diện giờ đối diện với cuộn dây điện từ. Các quy trình của Thí nghiệm 1 được lặp lại và kết quả được ghi vào Bảng 2
Bảng 2 | |
Điện áp (V) | Trọng lượng (N) |
7,25 | 4,9922 |
8,00 | 4,9905 |
8,75 | 4,9887 |
Thí nghiệm 3: Thanh nam châm được đưa trở lại vị trí thẳng hàng ban đầu trong Thí nghiệm 1. Chiều dài XY của cuộn dây điện từ thay đổi khi đặt điện áp 8,00V vào
mạch. Trọng lượng được ghi lại trong Bảng 3.
Bảng 3 | |
Chiều dài cuộn dây XY (cm) | Trọng lượng (N) |
9,50 | 5,0105 |
8,50 | 5,0131 |
7,50 | 5,0169 |
Trả lời cho các câu 68, 69, 70, 71, 72, 73 dưới đây:
Rutin
Rutin (danh pháp IUPAC: 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-5,7-dihydroxy-3-[(2S,3R,4S,5S,6R)-3,4,5-trihydroxy-6-[[(2R,3R,4R,5R,6S)-3,4,5-trihydroxy-6-methyloxan-2-yl]oxymethyl]oxan-2-yl]oxychromen-4-one) là một flavonoid thuộc nhóm flavon, lần đầu tiên được phân lập vào năm 1848 từ cây Cửu lý hương (Ruta graveolens) bởi Veyss. Công thức hóa học của rutin được xác định bởi Schnidt vào năm 1904. Cho đến năm 1962, rutin đã được tổng hợp toàn phần.
Rutin được tìm thấy trong nhiều cây dược liệu thuộc các họ thực vật với các hàm lượng khác nhau. Điển hình, rutin được tìm thấy với hàm lượng lớn trong các cây: tam giác mạch (Fagopyrum esculentum Moench) có hàm lượng rutin khoảng 4% trong hoa và 6,83% trong thân cây; cà chua (Lycopersicon esculentum Miller) có khoảng 2,4% trong lá; dâu tằm (Morus alba L.) trong lá có khoảng 6%. Đặc biệt, ở Việt Nam, rutin có hàm lượng cao lên đến 20% trong nụ hoa hòe (Sophora japonica L.).
Công thức cấu tạo của rutin là:
Rutin nguyên chất là chất bột kết tinh màu vàng hoặc màu lục. Dưới dạng tinh thể, rutin có hình kim nhỏ màu vàng hoặc vàng trắng. Chất này không mùi, nhưng khi bay hơi có mùi đặc trưng. Khi để ngoài ánh sáng, màu có thể sẫm lại. Tinh thể rutin kết tinh ngậm 3 phân tử nước và chuyển sang dạng khan khi sấy trong 12 giờ ở 110°C và 10 mmHg. Rutin khan có màu nâu và có tính hút ẩm. Nhiệt độ nóng chảy của rutin là 183–194°C.
Độ tan của rutin trong nước là 0,13 mg/mL, trong methanol là 55 mg/mL và trong ethanol là 5,5 mg/mL.
Rutin có nhiều tác dụng dược lý và đã được sử dụng trong y học. Thông thường, nó được dùng như một chất có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm và chống dị ứng. Ngoài ra, các nghiên cứu hiện nay còn cho thấy rutin có tác dụng trong điều trị nhiều bệnh mãn tính khác nhau như ung thư, tiểu đường, cao huyết áp và cholesterol cao.
Trả lời cho các câu 74, 75, 76, 77, 78, 79 dưới đây.
Chưng cất dầu mỏ
Dầu thô chứa hàng ngàn chất hóa học khác nhau. Để thu được các hợp chất thực sự có ích, dầu thô được tiến hành chưng cất phân đoạn trong các tháp chưng cất (hình 1). Dầu thô được đun nóng lên tới 400oC trong lò sau đó được bơm trực tiếp vào tháp. Khi hơi dầu bay lên cao, chúng nguội đi và cô đặc lại. Tại mỗi độ cao khác nhau trong tháp sẽ thu được một sản phẩm khác nhau.

Hình 1:Tháp chưng cất dầu thô
Mỗi phân đoạn sẽ cho ra sản phẩm là các hydrocarbon với nhiệt độ sôi tương đương nhau. Bảng 1 cho biết thông tin về một số sản phẩm có thể thu được từ các phân đoạn khác nhau từ tháp chưng cất. Hình 2 cho biết thành phần dầu thô tại 6 vị trí địa lý khác nhau.
Bảng 1. Sản phẩm từ các phân đoạn trong tháp


Hình 2. Thành phần dầu thô theo thể tích tại các vị trí địa lý khác nhau
Trả lời cho các câu 80,81,82,83,84,85,86,87 dưới đây:
Sử dụng đoạn thông tin dưới đây để trả lời 5 câu tiếp theo.
Khi cơ thể bị bệnh, thân nhiệt tăng trong hầu hết các trường hợp. Sự tăng nhiệt cao hơn bình thường ta gọi là sốt. Trong khi bị sốt, trao đổi chất có thể tăng thêm 50–100% hay cao hơn nữa tùy theo bệnh cụ thể. Cơ thể bị bệnh, sự phân huỷ prôtêin tăng thêm 14% để cung cấp thêm gần 30% tổng nhiệt của cơ thể trong thời gian này, các chất lipid, gluxit cũng tăng trao đổi, tuần hoàn, hô hấp và nhiều cơ quan tăng hoạt động. Ở người, khi nhiệt độ tăng lên tới 40–41°C thì xuất hiện các cơn mê sảng, khi nhiệt độ tăng lên trên 42–43°C có thể gây chết.
Trong một số trường hợp khi bệnh thân nhiệt giảm xuống, cho ta cảm giác rét. Lúc này trao đổi chất giảm, các trạng thái như run rẩy, nổi “da gà”, da tím tái xuất hiện, nếu kéo dài có thể gây tê cóng tay chân. Khi thân nhiệt giảm xuống thấp hơn 32–33°C đối với người thì có thể gây chết.
Trong trường hợp hạ nhiệt nhân tạo, có thể được xử lý hạ nhiệt toàn thân như trong trường hợp hạ nhiệt để phẫu thuật, lúc đó nhiệt độ toàn cơ thể giảm xuống, tim đập chậm, yếu, huyết áp hạ xuống, nhịp hô hấp chậm và sâu, hưng tính của thần kinh giảm sút. Với người có thể làm lạnh tới 24–26°C và trong một vài trường hợp có thể làm lạnh tới 11°C; sau khi ngừng làm lạnh 8–10 giờ tất cả các cơ quan đều trở lại hoạt động bình thường.
Hiện nay, người ta đã áp dụng phương pháp làm lạnh nhân tạo để bảo quản các tổ chức tách rời, đặc biệt là bảo quản tinh dịch động vật và người (bảo quản ở nhiệt độ –196°C trong môi trường nitơ lỏng), thời hạn bảo quản có thể kéo dài 15–20 năm.
(Theo ThS Trần Thị Minh, Giáo trình Sinh lý người và động vật, 2020).
Trả lời cho các câu 88, 89, 90, 91, 92 dưới đây.
Sử dụng đoạn thông tin dưới đây để trả lời 4 câu tiếp theo.
Theo Lamarck, loài tuyệt đối không biến đổi, loài gồm những cá thể giống hệt nhau và giống với cá thể sinh ra chúng, quan niệm này chỉ đúng với những loài chỉ sinh sản vô tính và không có xảy ra đột biến soma. Sinh vật luôn biến đổi từ dạng đơn giản nhất cho đến dạng phức tạp hoàn thiện nhất.
Về nguyên nhân tiến hóa, Lamarck cho rằng: có 2 nguyên nhân dẫn đến chuyển đổi loài là: (1) Bản thân mỗi loài sinh vật có xu hướng vươn tới sự hoàn thiện, mọi cơ thể sinh vật đều mang sẵn trong mình một khuynh hướng vươn tới sự hoàn thiện; (2) Những biến đổi trong đời sống của cá thể sinh vật gây nên bởi các yếu tố môi trường cũng như tập tính hoạt động để thích nghi với điều kiện sống mới đều có thể di truyền lại cho thế hệ sau.
Ông giải thích, loài người là động vật cao cấp nhất, phát sinh từ nhóm vượn 4 tay. Do những điều kiện nào đó nhóm vượn này mất khả năng leo trèo trên cây, chuyển xuống sống dưới mặt đất, đứng thẳng và đi bằng 2 chân sau. Do đi thẳng nên cơ thể có nhiều biến đổi, đặc biệt là các chi, trọng lực dồn vào hai chi sau, không còn tập trung chính vào chi trước nữa. Lối sống bầy đàn đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh ra tiếng nói giao tiếp và nảy sinh trí thức.
Lamarck thừa nhận sinh vật có tiến hóa chứ không do thượng đế sinh ra và bước đầu đã giải thích được sự tác động của ngoại cảnh đến quá trình tiến hóa, mặc dù chưa giải thích đúng được nguyên nhân của tính thích nghi của sinh vật với môi trường.
Đóng góp phải kể đến của Lamarck là đề ra ý tưởng tiến hóa của giới sinh vật và được đánh giá là người sáng lập ra học thuyết tiến hóa và lý thuyết kế thừa các đặc tính tập nhiễm thu được của động vật.
Theo Phan Hữu Tôn, Giáo trình Tiến hoá, NXB Đại học Nông Nghiệp Việt Nam, trang 9,10.
Trả lời cho các câu 93, 94, 95, 96 dưới đây:
