Đề thi Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 05)
0 câu hỏi
Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 41 đến 50
(1) Theo báo cáo của Hootsuite về thế giới số năm 2020, đến cuối năm 2020, lượng người dùng Internet trên toàn cầu đạt 4,66 tỷ trong đó 4,2 tỷ người đang sử dụng mạng xã hội ngoài ra có 5,22 tỷ người đang sử dụng điện thoại di động.
(2) Lượng người dùng điện thoại di động trên toàn cầu hiện nay tương đương dân số thế giới. Dựa trên số liệu của Liên Hợp Quốc, dân số toàn cầu tính đến tháng 1/2021 là 7,83 tỷ, tốc độ tăng 1%/năm. Điều đó đồng nghĩa trong năm 2020, dân số toàn cầu đã tăng hơn 80 triệu người. Từ tháng 1/2020, lượng người dùng điện thoại di động trên thế giới đã tăng (tương đương 93 triệu), trong khi tổng thiết bị kết nối di động (một người có thể sở hữu nhiều máy) tăng lên mức 8,02 tỷ thiết bị.
(3) Lượng người dùng Internet trên toàn cầu tăng (tương đương 316 triệu) so với cùng kỳ năm ngoái. Tỷ lệ sử dụng Internet hiện tại là , tuy nhiên con số thực tế có thể cao hơn do dịch Covid-19 khiến nhu cầu sử dụng Internet tăng mạnh.
(4) Có khoảng 4,2 tỷ người sử dụng các dịch vụ mạng xã hội trên toàn cầu, tăng hơn ( 490 triệu) chỉ trong 12 tháng, tương đương dân số toàn cầu. Năm 2020, trung bình có 1,3 triệu người mới sử dụng mạng xã hội mỗi ngày. 2 giờ 25 phút mỗi ngày là thời gian bỏ ra trung bình trên mạng xã hội. Dự đoán trong năm 2021, người dùng sẽ dành tổng cộng 3,7 nghìn tỷ giờ trên các ứng dụng này. Philippines là quốc gia sử dụng mạng xã hội nhiều nhất, trung bình 4 giờ 15 phút mỗi ngày, nhiều hơn 30 phút so với quốc gia xếp thứ 2 là Colombia. Trong khi đó, người Nhật dành 51 phút mỗi ngày trên mạng xã hội.
(5) Dữ liệu của App Annie cho thấy người dùng Android trên toàn cầu sử dụng smartphone hơn 4 giờ/ngày, tương đương 3,5 nghìn tỷ giờ trong 12 tháng qua. Đối với người dùng Internet, họ bỏ ra trung bình 3 giờ 39 phút mỗi ngày trên smartphone, nhiều hơn so với thời gian xem TV mỗi ngày ( 3 giờ 24 phút).
(6) Người dùng Internet dành trung bình gần 7 giờ mỗi ngày trên mọi thiết bị, tương đương hơn 48 giờ mỗi tuần. Giả sử thời gian ngủ trung bình là giờ, chúng ta đang dành thời gian thức cho các hoạt động trực tuyến. Dù smartphone chiếm thời gian sử dụng Internet, những thiết bị khác vẫn đóng vai trò quan trọng. Có người dùng Internet lên mạng bằng smartphone, nhưng trong số họ vẫn sử dụng laptop hoặc máy tính để bàn.
(7) Người dùng Philippines dành thời gian trên Internet lâu nhất, trung bình gần 11 giờ mỗi ngày. Brazil, Colombia và Nam Phi cũng dành trung bình hơn 10 giờ trực tuyến mỗi ngày. Người dùng Nhật Bản dành thời gian trực tuyến ít nhất, chưa đến 4,5 giờ mỗi ngày. Đáng chú ý khi thời gian dùng Internet tại Trung Quốc tương đối thấp, trung bình 5 giờ 22 phút mỗi ngày, ít hơn 1,5 giờ so với mức trung bình toàn cầu là 6 giờ 54 phút.
(8) Công cụ tìm kiếm vẫn là điều không thể thiếu. người phản hồi cho biết họ sử dụng công cụ tìm kiếm mỗi tháng, trong đó sử dụng tìm kiếm giọng nói. Gần người dùng Internet sử dụng các ứng dụng tìm kiếm hình ảnh như Pinterest Lens, Google Lens.
(9) Một xu hướng thú vị là tìm kiếm trên mạng xã hội. Khoảng người dùng Internet cho biết đã chuyển sang mạng xã hội khi cần tìm sản phẩm, dịch vụ. Ở độ tuổi 16-64, gần người dùng mua hàng trực tuyến mỗi tháng. Năm 2020, các sản phẩm thời trang và làm đẹp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu thương mại điện tử B2C (business-to-consumer) toàn cầu, đạt 665 tỷ USD.
(Theo Zing)
Trả lời cho các câu 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50 dưới đây:
Dựa vào thông tin đưới đây để trả lời các câu từ 51 đến 60
Trong một lần tham dự hội chợ nông nghiệp vào tháng 10/2019, Kỹ sư Lê Trung Hiếu (44 tuổi) ở TP HCM được người bạn ở Đà Lạt tặng một bó hoa hồng. Mang về nhà, anh lên mạng tìm hiểu cách giữ hoa tươi lâu như cho đường, đồng xu, thuốc kháng sinh, nước javen.... vào bình nước cắm hoa. Thắc mắc vì sao đồng xu lại giúp hoa tươi lâu hơn, anh tìm hiểu mới biết, khi đồng bị oxy hóa có thể tiêu diệt vi khuẩn làm hoa héo.
Là kỹ sư điện - điện tử, tốt nghiệp Đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM anh muốn tìm cách tạo ra ion đồng bằng cách dùng điện từ trường. Với máu mạo hiểm, anh xin thử nghiệm điều chế dung dịch ion đồng ở phòng thí nghiệm tại Khu công nghệ cao TP HCM.
Hơn 200 ống nghiệm được sử dụng, phối trộn ion đồng, nước và đường theo tỷ lệ khác nhau. Các thí nghiệm thất bại, hoa hồng, cúc héo và khô rất nhanh. Anh kiên trì thử nghiệm ở nồng độ khác nhau để cho kết quả khả quan hơn, hoa lâu héo hơn nhưng chỉ giữ lại màu sắc hoa tươi, còn lá, cánh hoa lại mềm, không cứng cáp.
Theo anh Hiếu, ion đồng có khả năng diệt khuẩn cực mạnh. Kích thước ion đồng nhỏ hơn 1 nanomet, rất nhỏ nên có thể xâm nhập vào gốc hoa, làm bất hoạt các vi khuẩn gây thối rữa. Đường glucose trong nước được cung cấp chất dinh dưỡng cho cành hoa, giúp tươi lâu. Sản phẩm hoàn toàn thân thiện với con người và môi trường và đang được Cục Sở hữu Trí tuệ xem xét cấp bằng sáng chế sau khi anh Hiếu nộp đơn đăng ký bảo hộ.
Anh chia sẻ, để tạo dung dịch, đường glucose được sử dụng ở nồng độ , ion đồng hàm lượng . lon đồng được tạo ra từ việc sử dung hai thanh đồng nặng 45 kg cho nước sạch chạy qua với lưu lượng 90 mỗi giờ. Khi cho dòng điện 100A chạy qua thanh đồng xảy ra quá trình điện phân khiến đồng bị ăn mòn và sinh ra ion của chính nó. lon đồng tồn tại trong nước, được thu lại ở nồng độ 15ppm và pha với đường glucose thành nước cắm hoa.
Kể lại quá trình thực hiện, anh cho biết đã có hàng trăm thí nghiệm, tiêu tốn hàng trăm bông hồng đến mức tiền túi cạn dần. Sau anh chọn thử nghiệm các loại hoa dại, hoa rẻ tiền để giảm bớt chi phí.
"Hoa tươi rồi nhưng thấy nó không khỏe, tôi nghĩ đến việc cung cấp chất dinh dưỡng cho hoa", anh Hiếu nói và cho biết, việc cung cấp dinh dưỡng phải dựa vào cơ chế quang hợp của hoa. Học hỏi từ các chuyên gia nông nghiệp, anh không sử dụng đường mía mà dùng đường glucose mua ở các hiệu thuốc vì đường này giống với cơ chế quang hợp, tổng hợp chất dinh dưỡng của cây để tiếp tục mày mò làm các thí nghiệm.
Sau 6 tháng, anh đưa ra được công thức tạo dung dịch ion đồng giúp giữ hoa tươi lâu. Kết hợp với các nhà khoa học ở Đại học Nguyễn Tất Thành, anh và nhóm nghiên cứu đưa đến kết luận, dung dịch ion đồng giúp hoa tươi gấp 2 đến 3 lần tùy loại hoa. Cụ thể với hoa hồng khi sử dụng sẽ kéo dài độ tươi từ 4 ngày lên 8 ngày, hoa cúc từ 7 ngày lên 14 đến 20 ngày, hoa lay ơn từ 4 ngày lên 15 ngày... Không những thế, việc sử dụng dung dịch ion đồng giúp chủ các shop hoa giảm bớt chi phí từ 20 đến , giảm nhân công trong việc thay nước, cắt gốc hoa hàng ngày.
"Giá thành sản phẩm chỉ 1.000 đồng mỗi gói 10 ml , có thể pha với 1 lít nước. Hộp 250 ml có thể pha với 25 lít nước giá từ 40.000 đồng đến 50.000 đồng, có thể cắm cho 50 bình hoa", anh Hiếu nói và cho biết, hiện trên thị trường có một số sản phẩm bảo quản hoa ngoại nhập, nhưng là dạng bột. Còn sản phẩm trong nước hiện rất ít và thời gian giữ hoa tươi thấp hơn.
Chị Nguyễn Thị Bé Ngoan, 34 tuổi, chủ một shop hoa tươi lớn ở xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn cho biết, việc giữ độ tươi lâu của hoa có ý nghĩa quyết định trong giá thành, lợi nhuận của người bán. Sau 6 tháng dùng thử nghiệm sản phẩm, hoa tươi lâu lơn, chị Ngoan giảm được 2 nhân công chuyên thay nước, cắt cành hoa, để họ làm việc khác. Khách hàng thấy sản phẩm hiệu quả quay lại mua nhiều hơn, giúp chị tăng doanh thu từ 70 triệu lên gần 100 triệu mỗi tháng.
Theo VnExpress
Trả lời cho các câu 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 dưới đây:
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ câu 61 đến câu 68:
Sét hay tia sét là hiện tượng phóng điện trong không khí giữa các đám mây và đất hay giữa các đám mây mang các điện tích khác dấu, đôi khi sét còn xuất hiện trong các trận phun trào núi lửa hay bão bụi.

Khi có cơn giông, các đám mây gần mặt đất thường tích điện âm và mặt đất tích điện dương. Giữa đám mây và mặt đất có hiệu điện thế lớn. Sét là tia lửa điện hình thành giữa đám mây mưa và mặt đất nên thường đánh vào các mô đất cao, ngọn cây,...
Khi phóng điện trong khí quyển tia sét có thể di chuyển với tốc độ . Sự phát tia lửa của sét làm áp suất không khí tăng đột ngột, gây ra tiếng nổ gọi là tiếng sấm (nếu phóng điện giữa hai đám mây), hoặc tiếng sét (nếu phóng điện giữa đám mây và mặt đất).
Trả lời cho các câu 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68 dưới đây:
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ câu 69 đến câu 74:
Xe tàu lượn siêu tốc thường được sử dụng làm mô hình biến đổi năng lượng. Đứng yên tại điểm xuất phát, ô tô có thế năng hấp dẫn. Khi nó di chuyển dọc theo đường ray, thế năng được chuyển thành động năng và sau đó trở lại thành thế năng khi ô tô tiến đến điểm kết thúc của tàu lượn siêu tốc.
Thế năng hấp dẫn của một vật có thể được tính bằng tích của khối lượng của vật, gia tốc trọng trường và độ cao của vật so với mặt đất:
Trong một hệ không ma sát, thế năng ở đầu và cuối của tàu lượn siêu tốc sẽ bằng nhau. Tuy nhiên, ma sát giữa tàu và đường ray gây ra sự tiêu hao năng lượng để biến một phần năng lượng thành nhiệt và âm thanh. Lượng năng lượng tiêu hao do ma sát có thể được tính bằng tích của lực ma sát tác dụng lên vật và quãng đường vật đi được:
Một nhóm sinh viên đã chế tạo một tàu lượn siêu tốc bằng viên bi với đường ray từ ống cách nhiệt bằng xốp và cố gắng xác định các điều kiện có thể tối đa hóa chiều cao của ngọn đồi của tàu lượn siêu tốc. Học sinh tiến hành hai thí nghiệm để nghiên cứu.
Thí nghiệm 1:
Hình 1 cho thấy cách thiết lập ban đầu cho tàu lượn siêu tốc bằng viên bi. A biểu thị chiều cao bắt đầu (chiều cao thả) và C biểu thị chiều cao kết thúc (chiều cao đỉnh) của viên bi. B là điểm thấp nhất nằm giữa A và C.

Hình 1
Học sinh bắt đầu với độ cao thả rơi và kéo căng ống tàu lượn siêu tốc ra theo chiều dài nằm ngang 1 m . Sau đó, họ thay đổi độ cao của đỉnh cho đến khi viên bi có thể lên đến đỉnh đồi thành công mà không cần phải vượt qua. Để nghiên cứu ảnh hưởng của thế năng hấp dẫn ban đầu của viên bi, các sinh viên đã tiến hành thêm ba thử nghiệm nữa với các độ cao thả khác nhau. Bảng 5.3 (bảng 1) trình bày kết quả của từng thử nghiệm.
Bảng 1 | ||
Lần | Độ cao thả vật (m) | Chiều cao đỉnh (m) |
1 | 0,6 | 0,52 |
2 | 0,3 | 0,25 |
3 | 0,9 | 0,78 |
4 | 1,2 | 1,06 |
Thí nghiệm 2:
Học sinh bắt đầu với độ cao thả rơi là và kéo ống tàu lượn siêu tốc ra theo chiều dài nằm ngang là . Sau đó, học sinh thay đổi độ cao của ngọn đồi cho đến khi viên bi có thể lên tới đỉnh đồi thành công mà không cần vượt qua. Để nghiên cứu ảnh hưởng do ma sát, các sinh viên đã tiến hành thêm hai thử nghiệm nữa bằng cách sử dụng các đoạn đường có chiều dài ngang khác nhau. Bảng 2 trình bày kết quả của từng thử nghiệm.
Bảng 2
Lần | Độ cao thả vật (m) | Chiều dài ngang (m) | Chiều cao đỉnh (m) |
1 | 1,2 | 1 | 1,06 |
2 | 1,2 | 0,5 | 1,15 |
3 | 1,2 | 1,5 | 0,97 |
Trả lời cho các câu 69, 70, 71, 72, 73, 74 dưới đây:
Thẩm thấu
Thẩm thấu là một hiện tượng tự nhiên, trong đó các phân tử dung môi (thường là nước) di chuyển từ nơi có nồng độ chất tan thấp (dung dịch loãng) sang nơi có nồng độ chất tan cao (dung dịch đặc) qua một màng bán thấm. Màng bán thấm là một loại màng chỉ cho phép một số phân tử đi qua, thường là các phân tử nhỏ như nước, nhưng ngăn cản các phân tử lớn hơn như các phân tử chất tan. Kết quả của quá trình thẩm thấu là trạng thái cân bằng về sự phân bố chất tan trong dung môi của cả hai bên màng.
Để tránh sự thẩm thấu diễn ra, một áp lực từ bên ngoài được tác dụng lên bên dung dịch có nồng độ chất tan cao hơn. Áp suất thẩm thấu tương đương với áp lực bên ngoài tối thiểu để ngăn không cho quá trình thẩm thấu xảy ra. Một dụng cụ thí nghiệm đo áp suất thẩm thấu được lắp đặt theo mô hình như trong Hình 1:

Hình 1: Mô hình thí nghiệm xác định áp suất thẩm thấu
Thí nghiệm 1:
Các dung dịch saccharose (thu được bằng cách hòa tan vào trong nước) với nồng độ khác nhau được đổ đầy vào bên đóng (bên được bịt kín bằng pitton). Người ta nhuộm xanh những dung dịch saccharose bằng chất nhuộm gắn kết với phân tử saccharose. Bên còn lại, người ta đổ đầy nước cất. Tại mỗi nhiệt độ khác nhau, người ta lại tiến hành xác định áp suất thẩm thấu bằng cách xác định áp lực thông qua piston ở bên đóng để ngăn không cho sự thẩm thấu xảy ra. Kết quả đo áp suất thẩm thấu được tổng hợp trong Bảng 1.
Bảng 1. Áp suất thẩm thấu các dung dịch saccharose trong nước
Nồng độ saccharose (M) | Nhiệt độ (K) | Áp suất thẩm thấu (atm) |
1,00 | 298 | 24,47 |
0,50 | 298 | 12,23 |
0,10 | 298 | 2,45 |
0,05 | 298 | 1,22 |
1,00 | 348 | 28,57 |
0,50 | 348 | 14,29 |
0,10 | 348 | 2,86 |
0,05 | 348 | 1,43 |
Thí nghiệm 2:
Các dung dịch saccharose với các dung môi hữu cơ được đem đi đo giống thí nghiệm 1 tại nhiệt độ 298 K . Kết quả được tổng hợp trong Bảng 2 .
Bảng 2. Áp suất thẩm thấu các dung dịch saccharose trong các dung môi hữu cơ
Dung môi | Nồng độ saccharose (M) | Áp suất thẩm thấu (atm) |
Ethanol | 0,50 | 12,23 |
Ethanol | 0,10 | 2,45 |
Acetone | 0,50 | 12,23 |
Acetone | 0,10 | 2,45 |
Diethyl ether | 0,50 | 12,23 |
Diethyl ether | 0,10 | 2,45 |
Methanol | 0,50 | 12,23 |
Trả lời cho các câu 75, 76, 77, 78, 79 dưới đây:
Chất lượng nước
Nhiều vùng nông thôn hiện nay vẫn sử dụng nguồn nước từ giếng khoan để sinh hoạt. Người ta đã tiến hành khảo sát và so sánh chất lượng nước của hai giếng khoan có vị trí khác nhau của một làng. Được biết chất lượng nước bị chi phối bởi nhiều yếu tố gồm nồng độ nitrate, nồng độ chì, nồng độ vi sinh, pH, độ cứng (CaCO3) và tính kiềm.
Mẫu nước đem đi phân tích được giữ tại nhiệt độ phòng trong suốt quá trình nghiên cứu. Kết quả trong Bảng 1 đưa ra số liệu về từng phép đo cho hai mẫu nước (mỗi mẫu có thể tích 100 mL ) khác nhau. Nồng độ các và điều kiện lý tưởng cho nước sinh hoạt cũng được đưa ra để làm giá trị tham chiếu.
Bảng 1: Chất lượng hai mẫu nước và chất lượng nước lý tưởng

Thang pH đo tính acid hoặc base của một dung dịch trên thang từ 0 đến 14. Giá trị pH càng nhỏ tính acid càng mạnh, ngược lại, giá trị pH càng cao thì tính base căng mạnh, pH bình thường của nước ngầm nằm trong khoảng từ 6 đến 8,5. Nước có pH thấp ( pH<6,5 ) có tính acid, có thể gọi là nước mềm, có tính ăn mòn, điều này có thể dẫn đến sự gia tăng nồng độ các ion kim loại nặng và làm hỏng hệ thống ống dẫn nước bằng kim loại, Nước có pH > 8,5 mang tính cứng không gây nguy hiểm cho sức khỏe nhưng có thể làm những dụng cụ nấu ăn đóng cặn và giảm vị ngon của đồ ăn.
Tính kiềm của nước là khả năng chống lại sự giảm pH. Sự chống lại này đến từ quá trình đệm (dung dịch đệm có thể ngăn sự thay đổi pH cho đến khi chất đệm được sử dụng hết). Tính kiềm trong nước tự nhiên phụ thuộc vào đất đá mà nước đã chảy qua. Nguồn chính tạo nên tính kiềm của nước đến từ các đá chứa những hợp chất carbonate (CO₃²⁻), bicarbonate (HCO₃⁻) và hydroxide (OH⁻). Những hợp chất này cũng góp phần tạo nên tính cứng của nước, khiến nguồn nước có thể không phù hợp để sử dụng cho mục đích ăn uống. Để minh họa ảnh hưởng của tính kiềm lên độ ổn định pH, acid được thêm vào hai mẫu nước 100 mL có pH ban đầu là 6,5. Dung dịch trong Hình 1A có tính kiềm là 200 mg/L còn dung dịch trong Hình 1B không có tính kiềm. pH của hai dung dịch được đo sau mỗi lần thêm acid và được biểu diễn trong hình.
Hình 1: Ảnh hưởng của tính kiềm lên pH của dung dịch khi thêm acid.
Trả lời cho các câu 80, 81, 82, 83 dưới đây:
Chuẩn độ acid – base là phương pháp xác định nồng độ bằng cách sử dụng một lượng chính xác chất chuẩn độ (một dung dịch acid hoặc base) cho từ từ vào một thể tích mẫu đã biết (acid hoặc base tương ứng). Quá trình này sử dụng chất chỉ thị acid – base (một chất đổi màu theo pH của dung dịch) được thêm vào mẫu hoặc đo độ dẫn điện của dung dịch mẫu. Độ dẫn điện (đo bằng đơn vị kilosiemens trên centimet, kS/cm) là đại lượng đại diện cho khả năng dẫn điện của dung dịch.
Hai thí nghiệm chuẩn độ được tiến hành ở nhiệt độ 25°C sử dụng dung dịch sodium hydroxide (NaOH) 0,10 M làm chất chuẩn độ và dung dịch HCl 0,001 M hoặc dung dịch acetic acid 0,001 M làm dung dịch mẫu. Dung dịch chỉ thị là nitrazine vàng. Nitrazine vàng có màu vàng trong môi trường pH nhỏ hơn 6,0 hoặc màu xanh khi pH lớn hơn 7,0.
Thí nghiệm 1
Thêm 1 giọt chỉ thị nitrazine vàng vào bình tam giác chứa 100 mL dung dịch HCl mẫu. Cho đầu máy đo độ dẫn điện vào lòng dung dịch. Dung dịch NaOH được nhỏ từ từ vào dung dịch. Sau mỗi lần nhỏ, lắc đều dung dịch mẫu, ghi lại màu và độ dẫn điện của dung dịch. Kết quả được tổng hợp trong Hình 1.

Thí nghiệm 2
Thí nghiệm 1 được lặp lại, chỉ thay dung dịch mẫu HCl bằng dung dịch acetic acid. Kết quả được tổng hợp trong Hình 2.

Trả lời cho các câu 84, 85, 86, 87 dưới đây:
Sử dụng đoạn thông tin dưới đây để trả lời 4 câu hỏi tiếp theo
Trong kỹ thuật di truyền, người ta có thể sử dụng các gene kháng thuốc kháng sinh trong plasmid của vi khuẩn làm gene đánh dấu, nhằm phân lập vi khuẩn nhận được DNA tái tổ hợp. Khi chuyển gene quy định các yếu tố đông máu ở người vào plasmid chứa 2 gene kháng hai loại thuốc kháng sinh là ampicilline và tetracycline.
Trong quy trình chuyển gene, plasmid và DNA của người được cắt bằng enzyme cắt giới hạn, sau đó nối lại bằng enzyme nối tạo ra DNA tái tổ hợp. Tiếp theo, chuyển hỗn hợp vào vi khuẩn nhận.

Người ta nuôi cấy tất cả các vi khuẩn này trong môi trường cơ bản không có chất kháng sinh (đĩa 1), các vi khuẩn sinh trưởng thành các khuẩn lạc (1 nhóm vi khuẩn phát triển từ 1 vi khuẩn ban đầu) được đánh số từ 1 đến 6. Sau đó người ta lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc của đĩa 1 nuôi cấy ở vị trí tương ứng lên đĩa 2 (có kháng sinh ampicilline) và đĩa 3 (có cả 2 chất kháng sinh ampicillin va tetracyline).

Sử dụng thông tin sau để trả lời 4 câu hỏi tiếp theo
Sau 50 năm vắng bóng, đến năm 1995, 1 quần thể sói đã được hồi phục ở Công viên Quốc gia Yellowstone, nước Mỹ. Trong một nghiên cứu kéo dài nhiều năm, người ta theo dõi số lượng sói và con mồi của nó - nai sừng tấm. Dữ liệu được mô tả trong Hình 1.
Trong khu rừng, cây dương có thể sống ở vùng đất cao khá bằng phẳng và ở vùng ven bờ suối có địa hình dốc và cây cối rậm rạp. Nai sừng tấm sử dụng cây dương làm thức ăn, người ta theo dõi tỉ lệ % cây dương bị ăn lá (Hình 2) và chiều cao cây ở 2 khu vực đất cao và ven suối (Hình 3).

Hình 1: Kích thước quần thể sói và quần thể nai sừng tấm ở Công viên Quốc gia Yellowstone

Hình 2: Phần trăm cây dương bị ăn lá ở vùng đất cao và ven suối
Trả lời cho các câu 92, 93, 94, 95 dưới đây:
