Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hà Nội form 2026 có đáp án (Đề số 6)
Đề thi

Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hà Nội form 2026 có đáp án (Đề số 6)

A
Admin
ĐHQG Hà NộiĐánh giá năng lực1 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi 66 đến 70:

Học tập tích cực xảy ra khi một người kiểm soát được kinh nghiệm học tập của mình. Vì hiểu thông tin là khía cạnh quan trọng của việc học, điều quan trọng là người học phải nhận ra những gì họ hiểu và những gì họ không hiểu. Bằng cách đó, họ có thể giám sát khả năng thành thạo các môn học của mình. Học tập tích cực khuyến khích người học có một cuộc đối thoại nội bộ trong đó họ diễn đạt bằng lời nói những gì họ hiểu biết. Điều này và các chiến lược nhận thức tổng hợp khác có thể được dạy cho trẻ theo thời gian. Các nghiên cứu trong siêu nhận thức đã chứng minh giá trị của việc học tập tích cực, cho rằng kết quả là việc học tập thường ở cấp độ mạnh hơn. Ngoài ra, người học có thêm động lực để học khi họ có quyền kiểm soát không chỉ cách họ học mà còn cả những gì họ học được. Học tập tích cực là đặc điểm chính của phương pháp học tập lấy người học làm trung tâm. Ngược lại, học tập thụ động và hướng dẫn trực tiếp là đặc điểm của phương pháp học tập lấy giáo viên làm trung tâm (hay giáo dục truyền thống).

Đoạn văn

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 71 đến 75:

Chóng mặt là sự rối loạn việc giữ thăng bằng cho cơ thể trong không gian. Cơ thể chúng ta được giữ thăng bằng nhờ các hệ thống: tai trong ghi nhận chuyển động lên xuống, qua lại của đầu; mắt phát hiện các chuyển động của cơ thể trong không gian; da lòng bàn chân ghi nhận áp lực tiếp xúc của cơ thể với mặt đất; các cơ, khớp xương ghi nhận chuyển động các chi và thân mình. Hệ thần kinh trung ương phối hợp tất cả các thông tin trên và cho chúng ta cảm giác về vị trí của mình trong không gian.

Triệu chứng chóng mặt xảy ra khi thần kinh trung ương nhận tín hiệu không đồng bộ của năm hệ thống trên. Thí dụ như bạn đang ở trên máy bay trong cơn bão, máy bay bị nhồi lên nhồi xuống trong khi mắt bạn nhìn quang cảnh trong máy bay nhưng không nhận ra có sự di chuyển nào, gây cảm giác chóng mặt. Hoặc bạn ngồi trong ô tô đang di chuyển và đọc sách, khi đó hệ thống tai trong nhận biết có sự di chuyển nhưng mắt lại nhìn thấy trang sách cố định và sau một lúc, bạn sẽ có cảm giác chóng mặt.

(Trích Mười vạn câu hỏi vì sao? – Đức Anh sưu tầm và tuyển chọn)

Đoạn văn

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 86 đến 90:

Tình thương là bước đầu cho việc phát triển trí thông minh. Trí thông minh đúng cách là bước đầu cho việc phát triển trí tuệ, và trí tuệ là yếu tố quan trọng nhất để thanh lọc những yếu tố ô trược để quay về với cội nguồn thiêng liêng. Nếu quan sát, ta có thể thấy những người thông minh thường là những người có tình thương bao la. Bây giờ chúng ta hãy xét đến loài vật gần gũi với loài người nhất. Thông thường loài chó thương chủ vô điều kiện và sẵn sàng làm mọi thứ theo lệnh của người chủ. Nhờ biết thương yêu nên loài chó học rất nhanh và chúng ta kết luận rằng loài vật dễ dạy nhất vì chúng khôn ngoan, thông minh nhất. Ngay trong lúc nguy hiểm hay khẩn cấp, nó quên hẳn bản năng sinh tồn và hi sinh thân mình để cứu chủ. Sự khác biệt chính giữa người và thú là óc lý luận cùng sự tự do ý chí. Nhờ óc lý luận con người có khả năng phân biệt phải trái, đúng sai, tốt xấu và họ có thể đưa ra quyết định cho hành động của mình. Trong khi đó, vì chưa phát triển óc lý luận này, thú vật chỉ biết tuân theo bản năng sinh tồn hay kinh nghiệm chung mà thôi.

(Trích Muôn kiếp nhân sinh, Nguyên Phong).

Đoạn văn

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời câu hỏi từ 91 đến 95:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa!
Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác, đứng nhìn lên
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay...
(Trích Bác ơi!- Tố Hữu)

Đoạn văn

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 96 đến 100:

Một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân. Việt có một mình ở đây thôi ư? Câu hỏi bật ra trong đầu Việt rồi dội lại trong từng chân lông kẽ tóc. Cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất, trong đêm thứ hai này, khi Việt cảm thấy không còn bò đi được nữa, khi những hình ảnh thân yêu thường kéo đến rất nhanh rồi cũng vụt tan biến rất nhanh chỉ vì một cành cây gãy, một giọt mưa rơi trên mặt, hoặc một tiếng động nhỏ của ban đêm. Việt muốn chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày, gặp lại anh Tánh, níu chặt lấy các anh mà khóc như thằng Út em vẫn níu chân chị Chiến, nhưng chân tay không nhấc lên được. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao trùm lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc...

(Trích Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi)

Đoạn văn

Một mol khí lí tưởng thực hiện chu trình 1-2-3-4 như hình vẽ, trong đó:

𝑉1 =32 𝑙𝑖𝑡 ; 𝑇1 =546 𝐾 ; 𝑇2 = 650𝐾 ; 𝑇3 = 1300 𝐾 .

Đoạn văn

Để làm xà phòng thủ công, người ta đun dầu thực vật hoặc mỡ động vật với dung dịch kiềm. Khi đó muối của kim loại kiềm với acid béo được tạo thành ở dạng keo. Các muối này được tách ra, sao đó trộn với các chất phụ gia, hương liệu, chất tạo màu,… rồi ép thành bánh xà phòng mà chúng ta vẫn đang sử dụng hàng ngày.

Đoạn văn

Để đánh giá tiềm năng khai thác quần thể cá trê ở 3 hồ nước ngọt có điều kiện tự nhiên tương đương nhau, người ta đã sử dụng cùng một cách đánh bắt, ở cùng một thời điểm rồi phân loại số cá bắt được theo nhóm tuổi (tính theo tỷ lệ %). Biết rằng, tuổi thành thục sinh sản của cá trê là 12 - 15 tháng và số lượng cá đánh bắt ở 3 hồ trong nghiên cứu đảm bảo tin cậy về thống kê.

Kết quả điều tra được trình bày ở bảng dưới đây.

Phân tích kết quả đánh bắt thấy rằng:

- Hồ 1 khai thác chủ yếu là cá nhỏ chứng tỏ hồ 1 bị khai thác quá mức, nếu tiếp tục giữ nguyên tình trạng này thì quần thể cá sẽ cạn kiệt, không còn cá trong quần thể nữa.

- Hồ 2 chủ yếu là cá sau sinh sản chứng tỏ hồ 2 có tình trạng nuôi cá và để quá mức (không được khai thác xứng với tiềm năng của hồ) nên tỉ lệ cá già quá cao làm kích thước của quần thể đã tiệm cận với sức chứa của quần thể dẫn đến xảy ra hiện tượng điều hòa ngược âm tính - giảm sức sinh sản, những cá thể khỏe mạnh ức chế sự sinh sản của những cá thể yếu hơn

- Hồ 3 có nhóm tuổi sinh sản chiếm khoảng 71%, chủ yếu cá tập trung ở tuổi sinh sản nên đây là hồ có tiềm năng cao nhất, có sức phát triển cao nhất. Chứng tỏ con người khai thác tối ưu nhất.

Đoạn văn

“Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe doạ hoà bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá hoại hoà bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng biện pháp hoà bình theo đúng nguyên tắc của công lí và pháp luật quốc tế”.

(Trích: Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 24-10-1945)

Đoạn văn

“Ngày nay, trước cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập

dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, trước sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng

khoa học và công nghệ hiện đại và quá trình quốc tế hoá mạnh mẽ nền kinh tế thế

giới, càng cần phải kết hợp chặt chẽ yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để đưa đất nước tiến lên”.

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên

chủ nghĩa xã hội (năm 1991), trích trong: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kì Đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.407)

Đoạn văn

Đoạn văn

Read the following passage and mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct word or phrase that best fits each of the numbered blanks from 31 to 35.
The rise of Mass Media
The evolution of mass media in the 20th century reflects the continuous advancements made in technology, while also go (31)
 with information about consumers as well. People's aspirations, wishes and lifestyles were increasingly influenced by what they saw on television or heard on the radio. While actively (32)  out consumers' thoughts and actions, media in turn started responding for people's evolving social issues and beliefs in an attempt to cater ever better to their needs.

Cinema was at the roots of the stellar rise of (33)  which were followed by radio in the 1920s and the arrival of regular television broadcasts in the late 1930s. Within just a few decades, technology made cultural experiences more accessible and information more readily available to all.

While cinema catered to those preferring to step out for entertainment, radio, television as well as music and video (34)  moved the media experience into the home. The proliferation of such new outlets lowered the costs of cultural participation, as enjoying cable TV, playing CDs or renting a movie soon (35)  .
(Adapted from https://www.europeana.edu)

Đoạn văn

Chronic illnesses are long-lasting conditions that require ongoing medical attention and can significantly impact a person's daily life. These conditions can range from physical ailments like diabetes and heart disease to mental health disorders such as depression and anxiety. Living with a chronic illness can declare numerous challenges. They are including managing symptoms, adhering to treatment plans, and coping with the emotional and social consequences of the condition.

One of the most significant challenges for individuals with chronic illnesses is the constant need to manage their symptoms. This may involve taking medications, monitoring their health, and making lifestyle changes such as modifying their diet or increasing physical activity. These demands can be physically and emotionally draining, leading to fatigue, stress, and a decreased quality of life.

Furthermore, adhering to treatment plans can be difficult and often requires significant self-discipline and motivation. This may involve attending regular medical appointments, following prescribed medication regimens, and making necessary lifestyle adjustments. Many individuals with chronic illnesses face barriers to adhering to their treatment plans, such as financial constraints, limited access to healthcare, and lack of social support.

The emotional and social consequences of chronic illness can also have a profound impact on an individual's well-being. Living with a chronic illness can lead to feelings of isolation, anxiety, and depression. Social relationships may be affected as individuals may need to limit their activities or withdraw from social situations due to their health condition.

Despite the challenges, individuals with chronic illnesses can effectively manage their conditions and live fulfilling lives. This often involves developing strong coping mechanisms, seeking support from family and friends, and connecting with other individuals who understand their experiences. Support groups, counselling, and online communities can provide valuable resources and support for individuals living with chronic illnesses.

                                                                         (Adapted from English 11 – Bright)

Đoạn văn

An education pioneer born into rural poverty in Nepal has opened 30 schools in a bid to boost prospects for his country's children.

The World Bank ranks Nepal as the globe's 31st poorest country, with almost 10 million people living on daily incomes between £1.48 and £2.50. Many rural villages remain unreached by government schooling and adult literacy stood at just 60 per cent in 2011.

Surya Karki and his charity United World Schools Nepal (UWS) are tackling high illiteracy and poverty rates by funding and improving education.

The first school opened in 2015 – since then 92 per cent of children have completed primary education, which finishes at age eight, and continued into secondary education with UWS schools. In comparison to 39 per cent of students continuing education who attended government schools.

Mr Karki was born into poverty in rural Nepal. Speaking to the Telegraph he said: “School is the only solution to the poverty cycle that we live in. I was raised by a single mother in a male-dominated society.

“The school that I went to was approximately two hours walk away. My house was on top of a hill and my mother had to drag me across rivers. We used to walk 10 miles a day. The schooling was really bad.”

Of the students who would go to school, he said: “They would end up in the same place, as cheap migrant workers in Qatar, Saudi, or Dubai. There was no value in education – no success stories.”

Karki’s mother was a firm believer in education, and at age eight Karki secured a scholarship to study in the capital, Kathmandu. From there he won scholarships and completed Masters degrees in China and the United States. He returned to Nepal in 2015 and decided to stay and develop the education system. Karki said. “Inequalities in a country can only be decreased if there is access to knowledge.

The devastating earthquake in 2015 damaged 9,300 schools, displacing hundreds of thousands of families and pushing 700,000 people into poverty. As of January 2018, only 2,891 schools had been rebuilt. Karki said: “We came at a crucial time, where we could redo or undo what had been done badly. Education was really bad in terms of infrastructure, quality of teachers, training. It was an opportunity for us to really make things better.”

UWS Nepal has so far built 30 schools and has seven more in construction. The schools run between 10 am and 3:30 pm, and have an 86 per cent average attendance rate, which Karki says is almost double the attendance rates for government schools in the vicinity. Sexual health classes are taught to the children in the later years.