Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức có đáp án

A
Admin
VănLớp 1137 lượt thi
38 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Con yêu mẹ

– Con yêu mẹ bằng ông trời

Rộng lắm không bao giờ hết

– Thế thì làm sao con biết

Là trời ở những đâu đâu

Trời rất rộng lại rất cao

Mẹ mong, bao giờ con tới!

– Con yêu mẹ bằng Hà Nội

Để nhớ mẹ con tìm đi

Từ phố này đến phố kia

Con sẽ gặp ngay được mẹ

– Hà Nội còn là rộng quá

Các đường như nhện giăng tơ

Nào những phố này phố kia

Gặp mẹ làm sao gặp hết!

– Con yêu mẹ bằng trường học

Suốt ngày con ở đấy thôi

Lúc con học, lúc con chơi

Là con cũng đều có mẹ

– Nhưng tối con về nhà ngủ

Thế là con lại xa trường

Còn mẹ ở lại một mình

Thì mẹ nhớ con lắm đấy

Tính mẹ cứ là hay nhớ

Lúc nào cũng muốn bên con

Nếu có cái gì gần hơn

Con yêu mẹ bằng cái đó

– À mẹ ơi có con dế

Luôn trong bao diêm con đây

Mở ra là con thấy ngay

Con yêu mẹ bằng con dế

(Bầu trời trong quả trứng, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 1982)

1. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản “Con yêu mẹ” thuộc thể thơ nào?

Xem đáp án

Văn bản “Con yêu mẹ” thuộc thể thơ 6 chữ.

2. Tự luận
• 1 điểm

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Xem đáp án

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là nhân vật con.

3. Tự luận
• 1 điểm
Tình yêu của đứa con dành cho mẹ được tác giả so sánh với hình ảnh nào?
Xem đáp án

Tình yêu của đứa con dành cho mẹ được tác giả so sánh với: Ông trời, Hà Nội, Trường học, con dế.

4. Tự luận
• 1 điểm

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong hai câu thơ?

“ Con yêu mẹ bằng Hà Nội Để nhớ mẹ con tìm đi”

Xem đáp án

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh: Làm cho câu thơ gợi hình gợi cảm Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam, cách so sánh ấy cho thấy hình ảnh của người mẹ luôn ở trong tim của con.

5. Tự luận
• 1 điểm

Người con trong bài thơ là người như thế nào?

Xem đáp án

Người con trong bài thơ là một người con hiếu thảo, yêu thương, biết suy nghĩ cho mẹ, vì con là người yêu mẹ nhất trần đời.

6. Tự luận
• 1 điểm
Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là gì?
Xem đáp án

Cảm xúc chủ đạo của bài thơ: Tình cảm yêu thương và biết ơn của một người con dành cho mẹ.

7. Tự luận
• 1 điểm

Nêu thông điệp sau khi đọc văn bản.

Xem đáp án

Thông điệp sau khi đọc văn bản:

- Tình yêu của con đối với mẹ là mãnh liệt và bền bỉ.

- Tình mẫu tử thiêng liêng.

- Trân trọng tình cảm gia đình và tình yêu trong cuộc sống hàng ngày...

8. Tự luận
• 1 điểm

Đọc xong văn bản “Con yêu mẹ” của Xuân Quỳnh, em sẽ làm gì để thể hiện tình cảm của mình với cha mẹ?

Xem đáp án

Những hành động em sẽ làm để thể hiện tình cảm của mình với cha mẹ:

- Yêu quý, trân trọng cha mẹ nhiều hơn.

- Giúp đỡ cha mẹ những công việc vừa sức.

- Ngoan ngoãn, hiếu thảo với cha mẹ.

- Cố gắng học giỏi cho cha mẹ yên lòng.

Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

( Nguyễn Thi)

(Lược phần đầu: Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân, xuất thân từ một gia đình nông dân có mối thù sâu nặng với Mĩ – nguy: ông nội và bố Việt đều bị giặc giết hại; mẹ Việt vừa phải vất vả nuôi con vừa phải đương đầu với những đe doạ, hạch sách của bọn giặc, cuối cùng cũng chết vì bom đạn. Truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình và những đau thương mất mát nặng nề do tội ác của Mĩ – nguy gây ra đối với gia đình Việt đều được chủ Nam ghi chép vào một cuốn sổ của gia đình.

Việt và Chiến hàng hát tòng quân đi giết giặc. Trong trận chiến đấu ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt đã hạ được một xe bọc thép của địch nhưng bị thương nặng và lạc đồng đội. Việt ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, dòng hồi ức lại đua anh trở về với những kĩ niệm thân thiết đã qua: kỉ niệm về má, chị Chiến, chú Năm, về đồng đội và anh Tánh,...)

Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuống lên cho Việt ăn... Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn. Một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân. Việt có một mình ở đây thôi ư? Câu hỏi bật ra trong đầu Việt rồi dội lại trong từng chân lông kẻ tóc. Cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất, trong đêm thứ hai này, khi Việt cảm thấy không còn bò đi được nữa, khi những hình ảnh thân yêu thường kéo đến rất nhanh rồi cũng vụt tan biến đi rất nhanh chỉ vì một cành cây gãy, một giọt mưa rơi trên mặt, hoặc một tiếng động nhỏ của ban đêm. Việt muốn chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày, gặp lại anh Tánh, níu chặt lấy các anh mà khóc như thằng Út em vẫn níu chân chị Chiến, nhưng chân tay không nhấc lên được. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mua ngoài vàm sông", cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc...

Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai... Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lăng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm... chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ. Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra... Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên... Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ...

Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong..

(Truyện và kí, NXB Văn học Giải phóng, 1978)

9. Tự luận
• 1 điểm

Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Xem đáp án

- Đoạn trích được kể theo Ngôi thứ ba

- Tác dụng:

+ Cách kể này giúp người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt những gì diễn ra với nhân vật.

+ Giúp câu chuyện trở nên khách quan

10. Tự luận
• 1 điểm

Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của ai? Nêu một số câu văn cho thấy được cảm xúc xuất phát từ điểm nhìn đó.

Xem đáp án

- Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật Việt.

- Những câu văn cho thấy được cảm xúc xuất phát từ điểm nhìn đó: Ước gì bây giờ lại được gặp má; Việt có một mình ở đây thôi ư?.

11. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy nêu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu “Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi.”

Xem đáp án

Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt.

- Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi một mình bị thương nặng giữa chiến trường.

- Gợi tinh thần quật cường của đồng bào miền Nam trong những ngày khánh chiến chống Mỹ.

12. Tự luận
• 1 điểm
Hãy xác định 03 câu văn là lời của nhân vật Việt, tìm hiểu tâm trạng của việt bộc lộ trong những câu văn đó.
Xem đáp án

Lời nói của nhân vật:

- “Rõ ràng đây không phải là tiếng pháo lễnh lãng của giặc.”

- “Đúng súng của quân ta rồi!”.

- “Anh Tánh chắc chắn ở đó, đơn vị của mình cũng ở đó.”

- “Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi!”

- “Đó, lại tiếng hụp hùm…chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy.”

- “Tiếng súng nghe thấy mà thân thiết và vui lạ.”

“Những khuôn mặt anh em đồng đội mình lại hiện ra…”

“Cái cằm nhọn hoắt nhìn ra của anh Tánh, nụ cười và cùng với cái nheo mắt của anh Công mỗi lần mà anh động viên Việt tiến lên… Các anh chờ Việt một chút.”

- Tâm trạng nhân vật Việt phấp phỏng, hồi hộp cùng với mong chờ, niềm vui sướng và hân hoan khi Việt phát hiện ra âm thanh tiếng súng quen thuộc của những người anh em và đồng đội mình.

13. Tự luận
• 1 điểm
Qua văn bản, em hãy nêu phẩm chất của nhân vật Việt?
Xem đáp án

Qua văn bản, em thấy phẩm chất của nhân vật Việt:

- Việt là một người lính gan dạ, dũng cảm và không sợ hãi, khuất phục trước nghịch cảnh: khi mất đơn vị, bị thương rất nặng nhưng Việt vẫn bình tĩnh, lạc quan và luôn trong tư thế chiến đấu với kẻ địch để bảo vệ Tổ quốc.

14. Tự luận
• 1 điểm

Bằng việc tìm hiểu về cảm xúc của nhân vật Việt trước khó khăn, kết hợp với hiểu biết xã hội của em, em hãy trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Bản lĩnh một người được thể hiện rõ nhất ở thái độ của họ khi đối mặt với khó khăn

Xem đáp án

a. Giải thích bản lĩnh: Là khả năng đương đầu với khó khăn, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. Bản lĩnh còn là lòng dũng cảm, kiên trì, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm

b. Biểu hiện của người có bản lĩnh:

- Là người quyết đoán, không vì người khác nói ra nói vào mà lung lay ý chí quyết tâm của mình.

- Người có bản lĩnh khi gặp khó khăn thường không than khóc oán trách số phận hay đổ lỗi cho người này, người kia mà là người tự dám nhận lỗi về mình tự mình khắc phục khó khăn để bước tiếp.

- Khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn, người có bản lĩnh luôn hướng về suy nghĩ lạc quan, tích cực, cố gắng để hoàn thành mục tiêu của mình.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu phía dưới:

Một cơn giận

(Trích)

- Thạch Lam (1) –

(Tóm tắt phần trước: Thanh cùng những người bạn trò chuyện về những cơn giận và hậu quả của nó. Thanh cũng kể câu chuyện làm cho anh ân hận mãi. Vì sự bực tức không rõ nguyên nhân từ trước, cộng thêm việc mặc cả không thành và những lời nói khó chịu của người phu xe, cơn giận của Thanh lên đến đỉnh điểm. Trên đường đi, gặp cảnh sát, vì muốn trả thù, Thanh đã nói những điều bất lợi cho người phu xe, khiến anh ta phải chịu nộp phạt và bị thu xe. Sau hôm đó, cơn giận của anh cũng đã hết nhưng trong lòng lại dâng lên nỗi day dứt, kéo dài đến mấy ngày sau. Chính vì thế Thanh đã đi tìm đến nhà của người kéo xe đó.)

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà.[…]

Người phu xe Dư ở trong ấy. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà sẽ hỏi:

- Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

- Bác Dư có nhà không?

- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.

Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?

Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói.

- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không được nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.

Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

- Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

- Thế bây giờ bác ta đâu?

Bà cụ trả lời:

- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ; nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chớ không cũng chẳng việc gì.

Tôi yên lặng.

Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

- Tội nghiệp cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không.

Tôi đứng lại gần xem.

- Cháu nó sài (2) đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rớm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực. […]

- Cái kỉ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến tận bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách rất dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, tôi lại thấy đau đớn trong lòng như có một vết thương chưa khỏi.

(Trích Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2020, tr.59 - 62)

Chú thích:

(1) Thạch Lam, tên thật là Nguyễn Tường Lân - thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Tác phẩm của ông thể hiện niềm cảm thương kín đáo mà sâu sắc đối với cuộc sống của những người dân nghèo nơi phố huyện ở ngoại ô Hà Nội hay của những trí thức bình dân.

(2) sài: tên gọi chung các bệnh nội khoa lâu khỏi ở trẻ em.

15. Tự luận
• 1 điểm
Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản phần in nghiêng.
Xem đáp án
Ngôi kể được sử dụng trong văn bản phần in nghiêng: Ngôi thứ nhất.
16. Tự luận
• 1 điểm

Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả hoàn cảnh sống của người phu xe trong các câu văn sau: Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà.

Xem đáp án

Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả hoàn cảnh sống của người phu xe: nghèo nàn, khổ sở; một dãy nhà lụp xụp, thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà.

17. Tự luận
• 1 điểm

Xác định điểm nhìn trần thuật được sử dụng đoạn in đậm.

Xem đáp án

Điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong những câu văn sau: Điểm nhìn bên trong/ điểm nhìn nhân vật.

18. Tự luận
• 1 điểm

Tóm tắt ngắn gọn nội dung của văn bản phần in nghiêng (khoảng 2 - 3 câu).

Xem đáp án

Đoạn trích kể về việc nhân vật Thanh tìm đến nhà của người phu xe Dư. Tại đây, qua lời kể của hai người đàn bà, Thanh hiểu về hoàn cảnh đáng thương của người phu xe, anh hối hận, đau đớn khi biết cơn giận vô cớ của mình vài ngày trước đã khiến gia đình người phu xe lâm vào tình cảnh khốn cùng, bi thảm.

19. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét đặc điểm về từ ngữ của ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong những câu sau:

- Bác Dư có nhà không?

- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Xem đáp án

Đặc điểm về từ ngữ của ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong các câu văn: Ngôn ngữ tự nhiên, đời thường, thể hiện vai vế xã hội: bẩm, chú nó, nọ.

20. Tự luận
• 1 điểm

Theo anh/chị, hành động: lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực của Thanh thể hiện tâm trạng gì?

Xem đáp án

Hành động của nhân vật Thanh: lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực thể hiện tâm trạng:

- Ăn năn, day dứt, ân hận

- Mong muốn chuộc lỗi, bù đắp của nhân vật,...

21. Tự luận
• 1 điểm

Từ văn bản trên, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của bản thân về hậu quả của sự giận dữ (khoảng 5 - 7 dòng).

Xem đáp án

Giận dữ là trạng thái cảm xúc tiêu cực, gây mất bình tĩnh, không kiểm soát được lời nói và hành vi của con người, thường tạo nên hậu quả nặng nề; phê phán những người không có ý thức kiểm soát cơn giận dữ dẫn đến thái độ cục cằn, thô lỗ…

Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

TẠM BIỆT HUẾ

(Thu Bồn)

Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ,

Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu.

Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng,

Mặt trời vàng và mắt em nâu …

 

Xin chào Huế một lần anh đến,

Để ngàn lần anh mãi nhớ trong mơ.

Em rất thực nắng thì mờ ảo,

Xin đừng lầm em với cố đô.

 

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy,

Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền.

Nón rất Huế nhưng đời không phải thế,

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng.

 

Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu?

Con sông dùng dằng, con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu!

 

Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt,

Hải Vân ơi xin Người đừng tắt ngọn sao khuya.

Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng,

Anh trở về hóa đá phía bên kia.

(Huế, 1980)

22. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nhân vật trữ tình trong bài thơ có thể là:

Thành phố Huế

Con người Huế

Nhân vật “anh” (Có thể là tác giả)

Nhân vật “em” (Có thể là người con gái trong mộng của tác giả)

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

23. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Đối tượng trung tâm được tác giả thể hiện cảm xúc trong bài thơ là:

Thành phố Huế với các hình tượng tiêu biểu của thành phố

Thành phố Huế

Người tác giả yêu thương

Kỉ niệm của tác giả với thành phố Huế

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

24. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Những hình ảnh về Huế và đặc trưng của Huế được tác giả thể hiện trong bài thơ là:

Ngôi đền cổ, điện Hòn Chén, lăng tẩm, kinh thành Huế, Tràng Tiền, dòng sông (Hương), nón, Hải Vân

Ngôi đền cổ, điện Hòn Chén, lăng tẩm, cố đô, áo (dài) trắng, Tràng Tiền, dòng sông (Hương), nón, Hải Vân

Ngôi đền cổ, chén ngọc, lăng tẩm, cố đô, Tràng Tiền, dòng sông (Hương), nón, Hải Vân

Ngôi đền cổ, chén ngọc, lăng tẩm, kinh đô, cầu Tràng Tiền, sông Hương

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

25. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ trên thuộc thể thơ:

Lục bát

Tự do

Thất ngôn bát cú Đường luật

Thơ Mới

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Biện pháp tu từ trong câu thơ sau là gì?

Con sông dùng dằng con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Biện pháp tu từ nhân hóa

Biện pháp tu từ điệp từ

Biện pháp tu từ hoán dụ

Biện pháp tu từ so sánh

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

27. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Cảm xúc chủ đạo của bài thơ trên là:

Tình cảm triền miên trong lưu luyến của người sắp xa Huế.

Sự nuối tiếc nhớ nhung khi phải xa Huế

Niềm yêu thương Huế đậm đà, sâu sắc

Sự nuối tiếc những kỉ niệm với người thương tại Huế

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

28. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Yếu tố tượng trưng trong bài thơ được thể hiện ở hình ảnh nào sau đây:

Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền.

Anh trở về hóa đá phía bên kia

Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Nón rất Huế nhưng đời không phải thế,

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

29. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng câu hỏi tu từ trong câu thơ: “Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu?”

Xem đáp án

Tác dụng:

- Về mặt nghệ thuật: Biện pháp này nhằm tăng sức gợi cảm cho câu thơ.

- Về mặt nội dung: Giúp nhà thơ thể hiện nỗi băn khoăn, trăn trở, day dứt khi sắp phải rời xa Huế, đồng thời nó là cái cớ, là lí do để nhà thơ nhấn mạnh cho hai câu thơ tiếp theo của mình, đẩy cảm xúc dâng lên cao trào

30. Tự luận
• 1 điểm

Lựa chọn và phân tích một yếu tố tượng trưng trong bài thơ mà em ấn tượng

Xem đáp án

Uếu tố tượng trưng được thể hiện trong câu thơ: Anh trở về hóa đá phía bên kia:

- Hình ảnh “anh” – nhân vật trữ tình không phải là “hóa đá” – mà cả câu thơ lấy từ tích cổ, thể hiện niềm mong ngóng đợi chờ, cũng có phần đau đớn khi phải rời xa tạm biệt thành phố Huế

31. Tự luận
• 1 điểm

Hình ảnh

“Con sông dùng dằng, con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu!” trong văn bản Tạm biệt Huế có gì khác so với hình ảnh dòng sông Hương trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử sau đây:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.”

Xem đáp án

Hai hình ảnh sông Hương cũng đều chỉ dòng nước của sông Hương nhưng ở câu thơ của Hàn Mặc Tử thì dòng sông Hương mang một nỗi buồn sâu thẳm, không nói nên lời (buồn thiu). Dòng nước buồn thiu đó chính là con sóng lòng buồn thiu của thi nhân đang dâng lên không sao giấu được, đó là dòng tâm trạng cô đơn, buồn, xót xa.

Còn hai câu thơ trong bài Tạm biệt Huế, cũng vẫn là dòng nước sông Hương nhưng ở đây ám chỉ sự bịn rịn, lưu luyến không muốn rời xa (dùng dằng). Sông Hương là vậy, chỉ của riêng Huế thôi, không muốn rời xa người tình của mình nên nàng Hương giang ấy đã chảy thật chậm, êm trôi, và khi phải từ biệt thành phố yêu quý của mình thì nó ''dùng dằng'', đó chính là tình cảm sâu nặng của sông Hương dành cho Huế và cũng qua đó bộc lộ nỗi niềm của nhà thơ Thu Bồn, cũng như sông Hương thôi, nhà thơ cũng dành cho Huế một tình yêu sâu nặng và cũng bịn rịn, lưu luyến khi sắp chia xa nơi này.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Có rất nhiều người đinh ninh rằng hiện tại của mình đã được số mệnh định sẵn, nhưng thực ra không phải như vậy. Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn…Chúng ta vẫn quen đổ lỗi cho những người khác. Có những lúc tôi cũng cho là mình kém may mắn, nhưng rồi tôi hiểu ra rằng không ai có thể kiểm soát được những biến cố xảy đến, nhưng mỗi người luôn có quyền chọn lựa cách đối phó với chúng.

Những người suy sụp tinh thần hay thất bại, thường đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản… để biện minh cho việc bỏ qua những cơ hội thuận lợi trong cuộc sống. Nhưng sự thực chỉ là do họ không biết sử dụng quyền được lựa chọn của mình. Chính vì thế, họ chỉ là đang tồn tại chứ không phải đang sống thực sự. Điều đó cũng giống như việc bạn muốn mở khóa để thoát khỏi nơi giam cầm, nhưng lại không biết rằng chiếc chìa khóa đang ở ngay trong chính bản thân mình, trong cách suy nghĩ của mình. Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi. Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó. Chính điều chúng ta chọn để nghĩ và chọn để làm mới là quan trọng hơn cả.

(Theohttps://sachvui.com/doc-sach/nhung-bai-hoc-cuoc-song/chuong-4.html)

32. Tự luận
• 1 điểm

Khả năng kì diệu của con người được nói đến là gì?

Xem đáp án

Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống,một cách nhìn.

33. Tự luận
• 1 điểm

Những người nào được xem là những người đang tồn tại chứ không phải sống thực sự?

Xem đáp án

- Những người suy sụp tinh thần hay thất bại, thường đưa ra những lý do để biện minh…

- Không biết sử dụng quyền được lựa chọn của mình.

34. Tự luận
• 1 điểm

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến của tác giả “Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó”

Xem đáp án

Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó:

- Bản chất của sự việc xảy đến rất đa dạng, bất ngờ, không thể lường trước được.

- Con người cần chọn cách ứng phó phù hợp với hoàn cảnh để vượt qua, mới là điều quan trọng.

35. Tự luận
• 1 điểm

Anh/chị đồng tình với quan điểm “Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi” không? Vì sao?

Xem đáp án

Em đồng tình với quan điểm cuộc sống là do chính chúng ta quyết định, lựa chọn chứ không phải do may rủi vì em tin rằng, thái độ và cách nhìn nhận của mỗi người là cách chúng ta tạo nên sức mạnh tinh thần tạo nên cuộc đời của chính mình chứ những điều may rủi hay số phận chỉ là cách để mỗi người trốn tránh hiện thực.

36. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (những đặc điểm về cách kể chuyện của tác giả mà em yêu thích.

Xem đáp án

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm chân thực nhất, ấn tượng nhất mà em từng đọc. Truyện không chỉ thu hút người đọc bởi tính phản ánh chân thực hiện thực của xã hội mà nó còn hấp dẫn ở lối tự sự đầy sáng tạo, hấp dẫn của tác giả khi miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Chí Phèo. 

Cách kể chuyện ở đây không chỉ đơn thuần là cách kể về diễn biến của câu chuyện về những sự kiện, sự việc diễn ra trong đó. Ở đây, Nam Cao đã vận dụng cách kể chuyện độc đáo không chỉ trong các sự kiện mà còn trong cả diễn biến tâm lí của nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm lí của nhân vật Chí Phèo - từ sự biến đổi sau khi đi tù về cho đến quá trình hoàn lương trở thành người lương thiện. 

Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã sử dụng cách kể chuyện độc đáo của mình để miêu tả một Chí Phèo say rượu, vừa đi vừa chửi. Điểm độc đáo ở đây là trong lời chửi, không chỉ là lời miêu tả của tác giả mà trong đó, có cả lời của chính nhân vật - những lời độc thoại nội tâm. Cách sử dụng những lời độc thoại nội tâm như vậy giúp người đọc có thể dễ dàng lắm bắt được diễn biến tâm lý nhân vật và thể hiện sự khai thác sự kiện trên cái nhìn đa chiều của tác giả. Tiếp đến, ông kể về Chí Phèo, là một đứa trẻ mồ côi lương thiện, bị bá kiến cho đi tù và ra tù, hắn trở thành con quỷ của làng Vũ Đại. Hắn trở thành một kẻ chuyên làm nghề rạch mặt, ăn vạ, ngày ngày say khướt và trở thành tay sai của bá kiến. 

Đỉnh cao của nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Nam Cao phải kể đến ở chỗ khi ông phân tích quá trình hoàn lương của Chí Phèo. Hắn gặp Thị Nở - người đàn bà xấu xí cho hắn biết cảm giác thế nào là tình yêu, là niềm hạnh phúc. Tỉnh dậy sau đến gặp thị Nở, nhận thức của Chí Phèo dần thay đổi. Hắn đã hết say và lắng nghe thấy những thanh âm trong trẻo của cuộc sống mà trước đây hắn chưa từng nghe thấy. Hắn thấy vui rồi lại buồn, rồi lại nghĩ về tương lai, mơ ước về cuộc sống hạnh phúc, giản dị và bình yên. Chí Phèo đang cảm thấy hạnh phúc, chìm đắm trong tình yêu và sự quan tâm của thị Nở. Sau khi nghe lời khuyên của bà cô, thị quay ra đòi chia tay hắn, Chí Phèo muốn níu kéo niềm hạnh phúc nhỏ nhoi này nhưng hắn nhận ra, hắn chẳng có gì để níu kéo. Hắn muốn tìm lại kẻ đầu sỏ, kẻ khiến hắn trở lên như vậy - bá kiến. Đến đây, Nam Cao đã lột tả hết tài năng miêu tả diễn biến tâm lý của mình, ông khoan dung với số phận của hắn, tin tưởng vào sự lương thiện của con người khi miêu tả niềm vui, sự hạnh phúc nhen nhóm của Chí Phèo. 

Bởi vậy, sức hấp dẫn của Chí Phèo không chỉ nằm ở cốt truyện giản dị, thật tâm về người nông dân, nông thôn Việt Nam trong những năm chiến tranh, mà nó còn nằm ở sự độc đáo trong cách kể chuyện, miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật một cách chỉn chu, đa dạng trên nhiều phương diện khác nhau để soi chiếu được rõ nhất tâm lí của mỗi nhân vật. 

Vì vậy, truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao xứng đáng là một trong những tác phẩm hay nhất, kinh điển nhất về nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của một nhà văn luôn phản ánh cuộc sống đời thực của những người bất hạnh trong xã hội. Nhưng qua đó, ông cũng khẳng định sự lương thiện luôn ẩn chứa trong họ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

37. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ mà em yêu thích.

Xem đáp án

Khi nhắc đến Puskin, nhà văn N.Gogol đã ưu ái gọi ông là “Nhà thơ dân tộc”. Đọc những sáng tác của Puskin, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ, cảnh sắc thiên nhiên Nga mà trên hết còn cảm nhận được “tinh thần Nga”, “con người Nga trong sự phát triển của nó”. Bài thơ “Con đường mùa đông” là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của Puskin, thể hiện rõ tài năng của “Mặt trời thi ca Nga”.

Puskin (1799 – 1837) sinh ra và lớn lên tại thành phố Moscow trong một gia đình có dòng dõi quý tộc. Tài năng văn học của ông đã bộc lộ từ khi ông còn là một thiếu niên. Sống trong thế kỉ 19 – “Thế kỉ vàng” của văn học Nga nhưng cũng là thế kỉ bạo tàn của lịch sử bởi các cuộc chiến tranh diễn ra liên tiếp, Puskin đã dùng ngòi bút của mình để thực hiện những lý tưởng cao cả, chống lại sự bạo ngược của Nga Hoàng và bênh vực nhân dân Nga. Vào tháng 10 năm 1826, sau khi Puskin được bãi lệnh đi đày, ông đã trở về Pê – téc – bua rồi hay tin Khởi nghĩa tháng Chạp thất bại. Bài thơ “Con đường mùa đông” đã ra đời trong hoàn cảnh đó, cho thấy tâm trạng đau buồn, cô đơn vì thời thế của nhà thơ. Cả bài thơ có bảy khổ thơ với kết cấu vòng tròn đặc biệt, cho thấy “Nỗi buồn sáng trong” và khát vọng tự do mãnh liệt.

Ba khổ thơ đầu là nỗi buồn được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng nhuốm màu cô đơn. Hình ảnh cánh đồng, khu rừng được bao phủ trong bạt ngàn tuyết trắng của xứ sở bạch dương hiện lên thật huyền ảo:

Xuyên qua sương mù gợn sóng
Mặt trăng nhô ra
Trăng buồn bã dội ánh sáng
Lên cánh đồng u buồn

Thời gian là đêm khuya mùa đông tĩnh mịch, không gian là cánh đồng bao la trải dài đến vô tận. Làn sương mờ dày đặc bao trùm lên tất cả. Động từ “gợn” cho thấy sự chuyển động nhẹ nhàng của màn sương. Động từ “Xuyên” được đảo lên đầu câu kết hợp với động từ “nhô” ở câu thơ thứ hai diễn tả sự xuất hiện khá bất ngờ của vầng trăng. Trăng vàng xé tan lớp sương đêm nhưng lại “dội” xuống những ánh vàng tẻ nhạt. Từ láy “buồn bã” gợi liên tưởng đến những tia sáng hiu hắt, yếu ớt. Nguồn sáng bàng bạc ấy đọng lại trên cánh đồng u buồn. Khung cảnh nên thơ, trữ tình nhưng phảng phất nét ảm đạm. Bức tranh thiên nhiên Nga được tác giả cảm nhận bằng rất nhiều giác quan và bằng cả tâm hồn tinh tế. Esenin – nhà thơ của làng quê Nga cũng đã đem những vạt rừng, ánh trăng Nga vào trong sáng tác:

Ánh sáng trăng to lớn
Soi thẳng mái nhà ta
Những cây bạch dương đứng
Như những cây nến to

Vầng trăng của Esenin mang đến nguồn sáng lớn lao “Soi thẳng mái nhà”, những cây bạch dương cũng tráng lệ và lung linh tựa “những cây nến to”. Nếu thiên nhiên của Esenin rực rỡ sắc màu thì thiên nhiên của Puskin lại hết sức tinh khôi, tự nhiên và chân thực.

Nói như Ostrovsky thì những câu thơ của Puskin “giản dị” và “trơn tru” quá nhưng “không biết rằng ông đã bỏ biết bao công sức cho câu thơ được giản dị và trơn tru”. Điều này được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Con đường mùa đông”. Chỉ là những thanh âm quen thuộc như tiếng bánh xe, tiếng lục lạc và tiếng hát của con người nhưng bỗng có sức cuốn hút lạ thường

Trên đường mùa đông, buồn tẻ
Xe tam mã vun vút lao đi
Lục lạc đơn điệu
Mệt mỏi rung lên.
Bài ca của người xà ích
Có gì phảng phất thân yêu
Như niềm vui mừng khôn xiết
Như nỗi buồn nặng đìu hiu.

Giữa khung cảnh im lìm đủ làm tê tái cõi lòng con người, chiếc xe tam mã đang lăn bánh không ngừng nghỉ. “Vun vút” không chỉ diễn tả tốc độ rất nhanh của cỗ xe mà còn là sự trôi chảy không ngừng, lạnh lùng của thời gian. Tiếng lục lạc rung lên đơn điệu, tẻ ngắt, chứa đầy sự mệt mỏi. Nhà thơ đã lấy động để tả tĩnh, lấy âm thanh để cực tả cái yên ắng. Bài ca của người xà ích vang lên đầy “phảng phất thân yêu” như một sự cứu cánh cho tâm hồn. Ta nghe trong bài hát ấy lao xao những niềm vui khôn tả và cả những nỗi buồn nặng trĩu. Mỗi âm thanh xuất hiện vừa nhấn mạnh nỗi buồn, vừa cho thấy hướng vận động của nhân vật trữ tình để vượt qua những khó khăn trên con đường của chính mình. Nỗi lòng của Puskin hòa quyện giữa nỗi buồn thời thế với sự cô đơn của thân phận. Trong những ngày bị giam ở ngục tù, ông đã gửi gắm nỗi niềm ấy vào hình ảnh chú đại bàng:

Tôi ngồi sau chấn song ngục lạnh
Chú đại bàng non trẻ trong lồng
Bên cửa sổ anh bạn buồn chớp cánh
Rỉa miếng mồi thịt máu đỏ loang

Khi đã thoát khỏi cảnh ngục tù, tưởng như cánh cửa tự do đã mở ra với Puskin. Nhưng là một con người nặng lòng với đất nước, thời đại, Puskin vô cùng đau buồn khi khỏi nghĩa tháng Chạp thất bại. Người thanh niên trẻ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ trước tình cảnh đất nước. Khổ thơ thứ tư được coi là khổ bản lề, chuyển tiếp giữa hai phần đối xứng của bài thơ, cho thấy sự thấm thía của con người trước cái trôi chảy của thời gian:

Không một mái lều, ánh lửa
Tuyết trắng và rừng bao la...
Chỉ những cột dài cây số
Bên đường sừng sững chào ta

Từ phủ định “Không” đặt ở đầu câu thơ lại một lần nữa nhấn mạnh vào sự đìu hiu, hoang vu. Màn đêm hun hút không biết đâu là điểm dừng, chẳng có lấy một dấu hiệu của sự sống con người. Thiên nhiên Nga hiện lên qua hình ảnh tuyết trắng và những cánh rừng sâu bạt ngàn. Không gian càng ngày càng được mở rộng. Tất cả mang đến một ấn tượng về một đất nước rộng lớn và hùng vĩ. Hình ảnh “những cột dài cây số” là biểu tượng cho những cột mốc trong cuộc đời. Chúng ngược chiều với sự vận động tiến lên của con người, đánh dấu những điều mà ta đã trải qua. Những cột cây số lạnh lùng đến tàn nhẫn càng khiến nhân vật trữ tình trở nên lẻ loi.

Từ không gian nỗi buồn trong tâm tưởng, nhà thơ đã thoát ra để tìm thấy điểm tựa tinh thần trong ba khổ thơ cuối:

Ôi buồn đau, ôi cô lẻ...
Trở về với em ngày mai
Nhi-na, bên lò lửa đỏ
Ngắm em, ngắm mãi không thôi
Kim đồng hồ kêu tích tắc
Và xua lũ người tẻ ngắt
Để ta bên nhau trong đêm.

Từ “buồn” được lặp lại nhiều lần trong bài thơ như một điệp khúc của bản nhạc du dương. Nỗi buồn mênh mang và sâu thăm thẳm ấy tràn khắp không gian và trào lên không ngừng trong lồng ngực nhân vật trữ tình. Chàng trai phải thốt lên: “Ôi buồn đau, ôi cô lẻ...”. Thán từ “Ôi” kết hợp cùng những từ “buồn đau”, “cô lẻ” thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt. Tuy nhiên, cái đẹp của thơ Puskin nằm ở chỗ dẫu con người buồn thương nhưng không bao giờ bi lụy. Những vần thơ đột ngột bừng sáng khi nhắc đến “ngày mai” và hình ảnh “Nhi – na”. Thực tại hôm nay dẫu cô đơn và khắc khổ nhưng nhân vật trữ tình vẫn dạt dào khát khao hạnh phúc, niềm tin hướng đến tương lai. Nhi – na có thể là bất cứ cô gái Nga thân thương nào, không nhất thiết là một con người cụ thể. Hình ảnh “lò lửa đỏ” gợi liên tưởng đến một mái ấm bình dị, đơn sơ. Câu thơ cuối của khổ thơ thứ năm được ngắt nhịp 2/4 với hai từ “Ngắm” được lặp lại cho thấy niềm hạnh phúc xốn xang dâng lên trong tâm hồn. Kim đồng hồ vẫn kêu, dòng thời gian vẫn không ngừng trôi chảy nhưng con người không sợ hãi trước bước đi của thời gian mà kiên cường bước tới, để yêu thương và đoàn tụ. Câu thơ “Để ta bên nhau trong đêm” cho thấy khát khao về hòa bình, hạnh phúc đã trở thành động lực để nhân vật trữ tình bước tiếp, vượt qua những gian truân.

Sầu lắm, Nhi-na: đường xa vắng
Ngủ quên bác xà ích lặng im
Nhạc ngựa đều đều buông xa thẳm
Sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng

Nhân vật trữ tình như đang tâm sự với cô gái Nhi – na về nỗi lòng của mình: “đường xa vắng. Hình ảnh chiếc xe ngựa cùng bác xà ích lặp lại, tạo nên kết cấu vòng tròn tương ứng cho bài thơ. Bác xà ích đã lặng im, tiếng nhạc ngựa trở nên đều đều, vầng trăng khuất sau màn sương. Nỗi buồn đã được lắng lại, hóa thành niềm yêu cuộc sống và niềm tin vào tương lai tươi sáng. Puskin đã diễn tả những cung bậc cảm xúc cùng những khát khao cao đẹp nhất của con người bằng một hình thức giản dị. Thiên nhiên dù là thảo nguyên hay bão tuyết, tất cả đều nhuốm màu tâm trạng. Nỗi buồn trong thơ ông là thực sự là “Nỗi buồn trong sáng”, rất hiện thực mà rất đỗi nên thơ.

“Con đường mùa đông” là một sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời của Puskin. Nhà thơ đã khắc họa vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và tâm hồn con người Nga một cách trọn vẹn, đúng như Bêlinxki đã nhận xét: “Hơi thơ của Puskin vô cùng trong trong sáng, nó tràn ngập hiện thực. Nó không rắc phấn trắng, phấn hồng lên cuộc sống mà mô tả hiện thực như nó vốn có. Thơ của Puskin luôn có bầu trời và bầu trời đó luôn hòa quyện với mặt đất”.

38. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết bài văn nghị luận về vấn đề xã hội liên quan đến con người và cuộc sống xung quanh em.

Xem đáp án

Trong đề án “Tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông đến năm 2010” được Chính phủ phê duyệt, đã xác định mục tiêu “Xây dựng các quy tắc đi lại văn minh và đưa các tiêu chí về an toàn giao thông vào tiêu chuẩn gia đình văn hóa”. Hà Nội và một số địa phương đã bắt đầu đề cập việc xây dựng văn hóa giao thông như một giải pháp vừa cấp thiết vừa có ý nghĩa cơ bản, bảo đảm sự bền vững đôi với lĩnh vực trật tự an toàn giao thông. Song nội dung văn hóa giao thông có phạm vi rất rộng, vấn đề đặt ra là nên bắt đầu từ những tiêu chí cụ thể nào?

Ai cũng biết, ít có lĩnh vực nào mà sự tiếp xúc giữa con người với nhau lại diễn ra trong dạng động, trên quy mô lớn, phạm vi rộng và liên tục như hoạt động giao thông. Đã có rất nhiều quy định bắt buộc hoặc chỉ dẫn người tham gia giao thông về hành vi, thái độ ứng xử bảo đảm an toàn giao thông và trật tự xã hội.

Trong đó, nhiều tiêu chí văn hóa giao thông đã được “luật hóa” thông qua các quy định bằng văn bản, hệ thống biển báo và tín hiệu giao thông. Điều đó có nghĩa là ý thức tự giác chấp hành đúng các quy tắc giao thông đã cơ bản thể hiện văn hóa trong giao thông...

Tuy nhiên, các quy tắc không thể bao quát hết những vấn đề cuộc sống đang đặt ra. Hơn nữa, trong từng giai đoạn, cần nhấn mạnh một số tiêu chí phù hợp bối cảnh thực tiễn.

Theo chúng tôi, trước mắt về “xây", nén tập trung vào các nội dung: nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, người lái ô tô, trước hết là đội ngũ lái xe khác; định hình thói quen ngồi lên mô tô, xe máy là đội mũ bảo hiểm; tự kiềm chế không sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện...

Về “chống”, trước hết cần chống hành vi đối phó. Bởi vì, hành vi “đối phó” (chỉ cho xe chạy đúng tốc độ khi biết có cảnh sát giao thông ớ phía trước, đút tiền cho người thi hành công vụ đề tranh bị phạt, ngồi trên mô-tô, xe máy buổi tối không đội mũ bảo hiểm hoặc chỉ đội mũ bảo hiểm khi đến gần chốt kiếm tra) rất dễ “lây lan”, làm giảm hiệu lực của một số quy định đúng và gây ảnh hướng không tốt đối với những người tham gia giao thông khác.

Khắc phục hành vi “đối phó" cũng rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng môi trường giao thông văn hóa, trong đó có nội dung “người vi phạm tự mình biết hổ thẹn và bị người chung quanh phê phán” dù chỉ bằng ánh mắt hoặc cái lắc đầu bày tỏ thái độ không đồng tình ...