
16 câu hỏi
Đáp án đúng là B
Các trường hợp thẻ chọn ra ghi số nguyên tố là 7; 11; 13.
Vậy xác suất để thẻ chọn ra ghi số là số nguyên tố là: \(\frac{3}{8} = 0,375\).
Đáp án đúng là D
Số lần Vinh lấy được thẻ màu đỏ là: 75 – 24 = 51 (lần).
Xác suất thực nghiệm của sự kiện lấy được thẻ màu đỏ là \(\frac{{51}}{{75}} = 0,68\).
Đáp án đúng là C
Số học sinh không thường xuyên đi xe buýt đến trường là:
100% – 46% = 54% (tổng số học sinh)
Xác suất học sinh được gặp không thường xuyên đi xe buýt đến trường là 54% = 0,54.
Đáp án đúng là A
Biến cố tích số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc bằng 21 xảy ra khi số chấm xuất hiện trên xúc xắc là 3 và 7 hoặc 1 và 21.
Các mặt xúc xắc chỉ có tối đa 6 chấm nên không thể xảy ra trường hợp nào trong 2 trường hợp trên.
Do đó, xác suất của biến cố tích số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc bằng 21 là 0.
Đáp án đúng là A
Xác suất của biến cố xuất hiện mặt 6 chấm là \(\frac{1}{6}\).
Do số lần gieo lớn nên xác suất thử nghiệm và xác suất lý thuyết của phép thử xấp xỉ bằng nhau và bằng \(\frac{1}{6}\).
Số lần xuất hiện mặt 6 chấm xấp xỉ bằng \(\frac{1}{6} \cdot 540 = 90\) (lần).
Vậy số lần xuất hiện mặt 6 chấm trong 540 lần gieo có khả năng lớn nhất thuộc vào tập hợp {80; 81; ...; 100}.
Tổng số cây bút trong hộp là: 4 + 3 + 2 = 9 (cây bút).
• Trong hộp có 4 cây bút xanh nên xác suất xảy ra biến cố A là \(P\left( A \right) = \frac{4}{9}\).
• Số cây bút không phải màu đen là: 4 + 2 = 6 (cây bút)
Khi đó, xác suất xảy ra biến cố B là: \(P\left( B \right) = \frac{6}{9} = \frac{2}{3}\).
• Trong hộp không có cây bút tím nào nên xác suất xảy ra biến cố C là \(P\left( C \right) = 0\).
• Trong nhóm có 2 bạn Vinh và Vũ có tên bắt đầu bằng chữ V nên xác suất xảy ra biến cố A là \(P\left( A \right) = \frac{2}{6} = \frac{1}{3}\).
• Trong nhóm có 3 bạn Thái, Thảo và Vinh có tên gồm 4 chữ cái nên xác suất xảy ra biến cố B là \(P\left( A \right) = \frac{3}{6} = \frac{1}{2}\).
• Trong nhóm có 3 bạn Thái, Thảo và Thuận có tên chứa 2 nguyên âm nên xác suất xảy ra biến cố C là \(P\left( C \right) = \frac{3}{6} = \frac{1}{2}\).
• Có 4 lá thăm ghi số lẻ là 7; 19; 23; 25 nên xác suất xảy ra của biến cố A là \(P\left( A \right) = \frac{4}{5} = 0,8\).
• Có 2 lá thăm ghi số nhỏ hơn 10 là 4 và 7 nên xác suất xảy ra của biến cố B là \(P\left( B \right) = \frac{2}{5} = 0,4\).
• Có 3 lá thăm ghi số nguyên tố là 7; 19; 23 nên xác suất xảy ra của biến cố C là \(P\left( C \right) = \frac{3}{5} = 0,6\).
Vậy thứ tự các biến cố có xác suất xảy ra tăng dần là B, C, A.
• Có 4 lá bài K trong bộ bài nên xác suất xảy ra biến cố A là \(P\left( A \right) = \frac{4}{{52}} = \frac{1}{{13}}\).
• Có 13 lá bài chất rô trong bộ bài nên xác suất xảy ra biến cố B là \(P\left( B \right) = \frac{{13}}{{52}} = \frac{1}{4}\).
Số viêm bi có trong hộp là: 1 + 1 + 1 = 3 (viên bi).
Có 3 kết quả xảy ra với phép thử là: bi xanh và bi đỏ, bi đỏ và bi vàng, bi vàng và bi xanh.
Số viêm bi có trong hộp là: 1 + 1 + 1 = 3 (viên bi).
Trong hộp không có 2 viên bi cùng màu nên xác suất xảy ra biến cố A là P(A) = 0.
Có 2 trường hợp có bi xanh trong 2 viên bi lấy ra nên xác suất của biến cố B là \(P\left( B \right) = \frac{2}{3}\).
Có 1 trường hợp không có bi vàng trong 2 viên bi lấy ra nên xác suất xảy ra biến cố C là \(P\left( C \right) = \frac{1}{3}\).
Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của một trường tiểu học là 83% nên xác suất của biến cố “Học sinh đó hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập” là 83% = 0,83.
Tổng số lần Hùng xoay tấm bìa là:
34 + 38 + 25 + 27 + 36 = 160 (lần).
• Có 25 lần mũi tên chỉ vào ô ghi số 3 nên xác suất thực nghiệm của biến cố A là: \(P\left( A \right) = \frac{{25}}{{160}} = \frac{5}{{32}}\).
• Số lần mũi tên chỉ vào ô ghi số chẵn là: 38 + 27 = 65 (lần)
Khi đó, xác suất thực nghiệm của biến cố B là: \(P\left( B \right) = \frac{{65}}{{160}} = \frac{{13}}{{32}}\).
• Số lần mũi tên chỉ vào ô ghi số lớn hơn 3 là: 27 + 36 = 63 (lần)
Khi đó, xác suất thực nghiệm của biến cố C là \(P\left( C \right) = \frac{{63}}{{160}}\).
Vậy xác suất của biến cố A là \(\frac{5}{{32}}\), xác suất của biến cố B là \(\frac{{13}}{{32}}\) và xác suất của biến cố C là \(\frac{{63}}{{160}}\).
Vì số lần xoay lớn nên xác suất thực nghiệm và xác suất lý thuyết của biến cố A xấp xỉ bằng nhau và bằng \(\frac{5}{{32}}\).
Vậy nếu Hùng xoay tấm bìa 300 lần thì số lần mũi tên chỉ vào ô ghi số 3 sẽ xấp xỉ \(\frac{5}{{32}}.300 = 46,875 \approx 47\) (lần).
Vậy nếu Hùng xoay tấm bìa 300 lần thì có khoảng 47 lần mũi tên chỉ vào ô ghi số 3.
Gọi n (thẻ) là số tấm thẻ màu xanh. Số thẻ trong túi là: n + 6 (thẻ).
Xác suất thực nghiệm của biến cố “Lấy được thẻ màu xanh trong 250 lần thử ở trên” là \(\frac{{83}}{{250}} = 0,332\).
Xác suất lý thuyết của biến cố “Lấy được thẻ màu xanh trong 250 lần thử ở trên” là \(\frac{n}{{n + 6}}\).
Vì số lần thử nghiệm lớn nên xác suất thực nghiệm và xác suất lý thuyết của biến cố “Lấy được thẻ màu xanh trong 250 lần thử ở trên” xấp xỉ bằng nhau và bằng 0,332. Do đó
\(\frac{n}{{n + 6}} \approx 0,332\)
n = 0,332(n + 6)
n – 0,332n = 1,992
0,668n = 1,992
n ≈ 3
Vậy trong túi có khoảng 3 tấm thẻ màu xanh.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.





![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)
![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)















