Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hà Nội form 2025 có đáp án (Đề 41)
0 câu hỏi
Ông Nam có hai ao A và B, cả hai ao hiện tại đang không có cá. Ông Nam có dự định thả một lượng cá giống vào cả hai ao cá. Do môi trường của hai ao cá khác nhau, nên số lượng cá thu hoạch được cũng sẽ khác nhau. Cụ thể:
Nếu thả \(x\) kg cá giống vào ao A, thì sau 1 năm sẽ thu được khối lượng cá là
Nếu thả \(x\) kg cá giống vào ao B, thì sau 1 năm sẽ thu được khối lượng cá là
Biết rằng ông Nam có tổng cộng 15 kg cá giống để thả vào cả hai ao, và mỗi ao cá ông phải thả ít nhất 1 kg cá giống.
Trí nhớ con người không đơn thuần là một chiếc hộp lưu trữ thông tin mà thực chất là một hệ thống phức tạp với nhiều giai đoạn khác nhau. Atkinson và Shiffrin cho rằng trí nhớ bao gồm ba tầng: bộ nhớ cảm giác, bộ nhớ ngắn hạn và bộ nhớ dài hạn. Bộ nhớ cảm giác giúp lưu giữ thông tin từ môi trường xung quanh trong khoảng thời gian cực ngắn. Nếu thông tin này được chú ý, nó sẽ chuyển vào bộ nhớ ngắn hạn, nơi lưu trữ tạm thời nhưng với dung lượng rất hạn chế. Để thông tin có thể tồn tại lâu hơn và chuyển vào bộ nhớ dài hạn, con người cần chủ động sử dụng các chiến lược như nhẩm lại hay liên kết với những gì đã biết. Nếu không có sự chú ý hay lặp lại, thông tin sẽ nhanh chóng bị lãng quên. Ban đầu, các nhà nghiên cứu cho rằng bộ nhớ ngắn hạn chỉ đơn giản là nơi tạm giữ thông tin, nhưng Baddeley và Hitch đã chứng minh rằng nó phức tạp hơn nhiều. Họ đưa ra mô hình bộ nhớ làm việc, trong đó có một trung tâm điều hành giúp kiểm soát sự chú ý và quyết định thông tin nào quan trọng. Ngoài ra, bộ nhớ làm việc còn bao gồm một hệ thống xử lý âm thanh và ngôn ngữ, giúp ta có thể nhẩm lại số điện thoại hay một câu nói trong đầu, và một hệ thống lưu giữ hình ảnh, không gian, giúp ta nhớ đường đi hay vị trí của đồ vật. Về sau, Baddeley bổ sung thêm một thành phần gọi là bộ đệm tình tiết, có vai trò liên kết ký ức ngắn hạn với ký ức dài hạn, giúp con người có thể hình dung lại những sự kiện đã qua một cách có tổ chức hơn. Trí nhớ dài hạn cũng không phải là một khối thống nhất mà được chia thành ba loại chính theo nghiên cứu của Tulving. Trí nhớ ngữ nghĩa lưu trữ kiến thức chung, chẳng hạn như việc ta biết Paris là thủ đô của Pháp. Trí nhớ tình tiết giúp con người ghi nhớ những sự kiện cá nhân, chẳng hạn như lần đầu tiên đi du lịch nước ngoài hay buổi gặp gỡ quan trọng. Trong khi đó, trí nhớ thủ tục lại liên quan đến các kỹ năng mà ta có thể thực hiện một cách tự động, chẳng hạn như đi xe đạp hay đánh máy mà không cần suy nghĩ quá nhiều. Tuy nhiên, trí nhớ không phải lúc nào cũng bền vững. Ebbinghaus phát hiện rằng trí nhớ có xu hướng phai nhạt theo thời gian theo một quy luật gọi là đường cong quên. Nếu không được ôn tập, phần lớn thông tin sẽ bị mất sau vài ngày. Nhưng may mắn là có nhiều cách để giúp trí nhớ bền vững hơn, chẳng hạn như ôn tập có chủ đích theo chu kỳ hoặc liên kết thông tin mới với những gì đã biết từ trước. Ngoài ra, mức độ ghi nhớ cũng phụ thuộc vào cách ta tiếp nhận thông tin ngay từ đầu. Craik và Lockhart cho rằng trí nhớ bền vững hơn nếu thông tin được xử lý một cách sâu sắc, thay vì chỉ học thuộc lòng mà không thực sự hiểu. Khi con người chủ động tư duy, liên tưởng hoặc đặt câu hỏi về nội dung mới, ký ức sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và ít bị lãng quên.
(Athanasios Drigas, Eleni Mitsea, Charalabos Skianis, Siêu trí nhớ: Chiến lược siêu nhận thức để cải thiện hoạt động của bộ nhớ và vai trò của VR và thiết bị di động, Theo NLM, 2022)
Lời khẳng định của Phoi-ơ-bắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo, khi nói đến ba tôn giáo lớn trên thế giới đã tồn tại cho đến ngày nay: đạo Phật, đạo Cơ Đốc, đạo Hồi. Những tôn giáo cũ, nảy sinh một cách tự nhiên trong các bộ lạc và các dân tộc không hề có tính chất tuyên truyền và mất hết sức đề kháng một khi nền độc lập của các bộ lạc và của các dân tộc đó bị phá vỡ; ở người Giéc-manh thì chỉ một sự tiếp xúc đơn giản với đế chế thế giới La Mã đang tan rã và với đạo Cơ Đốc toàn thế giới mà đế chế La Mã vừa mới thừa nhận và phù hợp với tình trạng kinh tế, chính trị và tinh thần của nó, cũng đã đủ để đưa đến tình trạng đó. Chỉ có với các tôn giáo toàn thế giới xuất hiện một cách ít nhiều nhân tạo ấy và nhất là với đạo Cơ Đốc và đạo Hồi thì chúng ta mới nhận thấy rằng những phong trào lịch sử phổ biến nhất đều mang dấu ấn tôn giáo. Nhưng ngay cả trong lĩnh vực đạo Cơ Đốc, dấu ấn tôn giáo ấy, đối với các cuộc cách mạng có ý nghĩa thế giới, thật ra cũng chỉ giới hạn ở các giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp tư sản, suốt từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII. Và ta không thế giải thích điều đó bằng trái tim con người và nhu cầu tôn giáo của con người như Phoi-ơ-bắc tưởng, mà phải giải thích bằng toàn bộ lịch sử trước đây của thời Trung cổ, thời mà người ta không thấy có hình thức tư tưởng nào khác ngoài tôn giáo và thần học. Song đến thế kỷ XVIII, khi giai cấp tư sản đã khá mạnh để lập nên một hệ tư tưởng riêng của nó, phù hợp với quan điểm giai cấp của nó, thì lúc đó, nó làm cuộc cách mạng vĩ đại và triệt để của nó, cuộc Cách mạng Pháp, mà chỉ dựa hoàn toàn vào những tư tưởng pháp luật và chính trị, và chỉ quan tâm đến tôn giáo trong chừng mực tôn giáo cản đường nó. Nhưng nó không nghĩ đến việc thay tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới: ai nấy đều biết là Rô-be-xpi-e đã thất bại trong việc đó như thế nào.
(Friedrich Engels, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Nxb Chính trị Quốc gia, 1976)
(1) Như vậy, duy vật và duy tâm, hai phe đối lập nhau tới tận ngày nay, sẽ không thể loại trừ nhau nếu hai bên nhất quán và có thiện tâm, bởi vì nguyên lí bất toàn không cho phép mỗi bên có được một chân lí đầy đủ. Đó là lí do tại sao tôi nghĩ rằng chấp nhận sự bổ sung lẫn nhau của các cách tiếp cận khoa học và tâm linh là cực kì quan trọng.
(2) Tôi tin chắc rằng khoa học không phải là cửa sổ duy nhất cho phép chúng ta tiếp cận với thực tại. Sẽ là quá tự phụ, với một nhà khoa học, khi khẳng định điều ngược lại. Tâm linh, cũng như thơ ca và nghệ thuật, là một cách khác bổ sung cho khoa học để chiêm nghiệm thế giới. Không bao giờ khoa học có thể độc hành tới được tận cùng của con đường. Chúng ta cần phải dùng tới các dạng khác của nhận thức, như trực giác huyền bí hay tôn giáo (cái mà Phật giáo gọi là “giác ngộ”), nghệ thuật hay thơ ca để có thể tiếp cận với thực tại tối hậu. Bức Hoa súng của Monet hay các bài thơ của Rimbaud lẽ nào không soi sáng cho chúng ta về thực tại như là vật lí hạt hay lí thuyết Big Bang? […]
(3) Nhà vật lí đoạt giải Nobel người Mỹ Steven Weinberg nghĩ rằng tôn giáo là nguồn gốc của nhiều thứ xấu xa trên thế giới. Ông đã viết một cách rất khiêu khích: “Dù tôn giáo có hay không, người tốt sẽ luôn tốt và người xấu vẫn luôn xấu. Một trong những thành tựu lớn lao của khoa học là đã, nếu không ngăn chặn hoàn toàn người có tri thức trở thành tín đồ, thì ít nhất cũng cho phép họ không trở thành tín đồ”. Và ông ta đã kể ra các cuộc thánh chiến, tàn sát và chiến tranh tôn giáo khác. Nhưng ông ta đã quên mất những điều xấu xa mà “khoa học không ý thức”, như Rabelais đã nói tới, cũng có thể gây hại cho nhân loại và sinh quyển. Vả lại, tôn giáo mà Weinberg nói tới chỉ là một phiên bản méo mó của tâm linh: những kẻ tham gia vào các cuộc chiến tranh tôn giáo chắc chắn không có lòng trắc ẩn đối với người khác, mà đó lại là cơ sở của mọi truyền thống tâm linh.
(4) Các mối quan hệ giữa khoa học và tâm linh chắc chắn còn chưa hết gây ra tranh cãi. Về phần mình, ngay cả khi tâm linh giúp tôi sống và giao thiệp tốt hơn với những người xung quanh, và nếu như, khi sống tốt hơn, tôi sẽ làm tốt hơn công việc nghiên cứu, thì không một tiên nghiệm triết học nào ảnh hưởng trực tiếp tới nó. Chủ đề nghiên cứu chính của tôi là sự hình thành và phát triển của các thiên hà, đặc biệt là của các thiên hà lùn, và việc đánh cược hay không về một nguyên lí sáng tạo hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới các phát minh của tôi. Con đường tâm linh của tôi tác động trên tất cả các bình diện khác.
(Trịnh Xuân Thuận, Vũ trụ và hoa sen, NXB Tri thức, Hà Nội, 2015)
Nắm nhau tôi chôn góc phù sa sông Mã
Trăm thác nghìn ghềnh cuộn xoáy vào tơ
Làng cong xuống dáng tre già trước tuổi
Tiếng gọi đò khuya sạt cả đôi bờ.
Con hến, con trai một đời nằm lệch
Lấm láp đất bùn đứng thẳng cũng nghiêng
Mẹ gạt mồ hôi để ngoài câu hát
Giấc mơ tôi ngọt hơi thở láng giềng.
Hạt thóc củ khoai đặt đâu cũng thấp
Cả những khi rổ rá đội lên đầu
Chiếc liềm nhỏ không còn nơi cắt chấu
Gặt hái xong rồi rơm, rạ bó nhau.
(Nguyễn Minh Khiêm, Một góc phù sa, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr.18-19)
Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả bô lão trong làng lập đàn cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương, ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang màu trắng, bông phất phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỏ cây vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Đứng dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một màu đen của cây cháy. Đột ngột, kinh hoàng quá, không ai còn khóc được.
Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái. Mí hớn hở ăn, rồi say, nôn ra máu. Nó ốm, tóc rụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc mọi người chưa dậy, chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần màu đen của tro than. Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.
Chú tôi đến chơi, bảo là “để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ”. Chú thím cố mãi cũng chỉ toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị dâu mang bát đi rửa chú mới nói: “Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy, khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn”. “Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ. Đi từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối đi…”. “Chị không biết rồi…”. “Biết cái gì?”. “Người già mà ngủ say được thế sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá! Đứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín, mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu”.
[...] Ngày trước, chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất, chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...
Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi: “Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó”. “Mẹ thì nghĩ thế nào?”. “Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu”.
(Đỗ Bích Thúy, Sau những mùa trăng, In trong Giải nhất truyện ngắn (Sương Nguyệt Minh biên soạn), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.170-172)
Một ô tô khối lượng 1 tấn đang hoạt động với công suất 5 kW và chuyển động thẳng đều với vận tốc 54km/h thì lên dốc. Hỏi động cơ ô tô phải hoạt động với công suất bằng bao nhiêu để có thể lên dốc với tốc độ như cũ? Hệ số ma sát giữa bánh xe và mặt đường không đối, dốc nghiêng góc 2,3o so với mặt đường nằm ngang và g = 10m/s2.
Sự điện phân là quá trình oxi hóa – khử xảy ra tại bề mặt các điện cực khi có dòng điện một chiều di chuyển qua chất điện li nóng chảy hoặc dung dịch chất điện li nhằm thúc đẩy một phản ứng mà nếu không có dòng điện thì phản ứng không tự xảy ra.
Trong bình điện phân có
- Anode của thiết bị là nơi xảy ra bán phản ứng oxi hóa. Anode được nối với cực dương của nguồn điện một chiều.
- Cathode của thiết bị là nơi xảy ra bán phản ứng khử. Cathode được nối với cực âm của nguồn điện một chiều.
Thực hiện quá trình điện phân có sơ đồ được bố trí như dưới đây:

Sau một thời gian thực hiện quá trình điện phân cân lại khối lượng cathode của bình 2 tăng 3,24 gam. Biết trong hệ điện phân nối tiếp, số điện tử truyền dẫn là như nhau.
Thức ăn trong dạ dày của người được tiêu hóa cơ học nhờ sự co bóp của các cơ dạ dày và tiêu hóa hóa học nhờ dịch vị. Dịch vị gồm 2 thành phần chính bao gồm acid clohydric (HCl) và enzyme pepsin. Acid clohydric làm cho dịch vị có pH thấp đủ để hòa tan đinh sắt và tiêu diệt hầu hết vi khuẩn. Chức năng chính của acid này trong dịch vị là phá vỡ các liên kết ngoại bào có trong thức ăn thịt và thực vật và làm biến tính protein. Nhờ đó, enzyme pepsin có thể tiếp xúc với các liên kết peptide và phân cắt protein thành các polypeptide nhỏ hơn. Khác với nhiều enzyme khác, pepsin hoạt động tốt nhất trong môi trường có tính acid mạnh. Quá trình các chuỗi polypeptide ngắn được phân giải thành từng amino acid và hấp thụ vào cơ thể diễn ra ở ruột non.
Về đội ngũ quan lại: Vua chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại hiền tài, thiết lập lại chế định ngạch, bậc quan lại từ Trung ương đến địa phương. Vua bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Nhà vua rất chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quan lại để tiến cử vào các cơ quan hành chính nhà nước. Trong những năm trị vì, vua Minh Mạng xác định học vấn làm tiêu chuẩn để tuyển dụng quan lại cho bộ máy hành chính. Dưới triều ông cai trị, con đường khoa cử được thay thế con đường nhiệm tử. Cứ 3 năm một lần vua Minh Mạng lại mở một khoa thi để tuyển chọn nhân tài. Các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu ông mở kỳ thi Hương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mở kỳ thi Hội. Đồng thời khuyến cáo các quan cần cải tiến chế độ và nội dung thi cử quy củ, thực chất. Để đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, ông cho chấn chỉnh việc học, việc thi, đặt chức học quan ở các địa phương, chu cấp lương bổng, ruộng đất cho số học quan này để họ chăm lo sự học cho xã hội.
(Giá trị và ý nghĩa của 10 cuộc cải cách lớn trong lịch sử đối với cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Phùng Thị Phong Lan, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ)
Từ Moskva, khi đó Nguyễn Ái Quốc đã thấy đây là một “cánh chim báo tin vui”. Các thành viên tiêu biểu của Tâm tâm xã là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái… Đây là một nhóm thanh niên đầy nhiệt huyết, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc nhưng con đường cứu nước của họ chưa xác định được rõ ràng. Ngay sau khi đến Quảng Châu (11/11/1924), Nguyễn Ái Quốc đã chọn những hạt nhân đầu tiên cho cách mạng Việt Nam là những thành viên trung kiên của nhóm Tâm tâm xã trên sự tin tưởng vào bầu nhiệt huyết yêu nước của thế hệ trẻ.
Từ những hạt nhân đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), sáng lập báo Thanh niên - tờ báo đầu tiên của cách mạng Việt Nam (21/6/1925), và tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ. Nguyễn Ái Quốc vừa là người tổ chức lớp học, vừa biên soạn tài liệu giảng dạy, vừa là giáo viên trực tiếp truyền đạt những nội dung học tập. Trong những năm 1924-1927, Người còn đảm nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ của một chiến sĩ quốc tế do Quốc tế Cộng sản giao phó.
(https://special.nhandan.vn/nguyenaiquoc_thanhlapdang/index.html)

The modern, traffic-free shopping street was born in Europe in the 1960s, when both city populations and car ownership increased rapidly. Dirty exhaust from cars and the risks (631)_______ crossing the road were beginning to make shopping an unpleasant and dangerous experience. Many believed the time was right for (632)_______ car-free streets, and shopping areas seemed the best place to start. At first, there was resistance from shopkeepers. They argued that people would avoid streets (633)_______. When the first streets in Europe were closed to traffic, there were even noisy demonstrations, as many shopkeepers predicted they would lose customers. With the arrival of the traffic-free shopping street, many shops, especially those selling things like clothes, food and smaller luxury items, (634)_______. Unfortunately, shops selling furniture and larger electrical appliances actually saw their sales drop. (635)_______were forced to move elsewhere, away from the city centre.
Psychologists have debated for a long time about whether a child’s upbringing can give it the ability to do outstandingly well. Some think that it is impossible to develop genius and say that it is simply something a person is born with. Others, however, argue that the potential for great achievement can be developed. The truth lies somewhere between these two extremes.
It seems very obvious that being born with the right qualities from gifted parents will increase a child’s ability to do well. However, this ability will be fully realized only with the right upbringing and opportunities. As one psychologist says, “To have a fast car, you need both a good engine and fuel.” Scientists have recently assessed intelligence, achievement, and ability in 50 sets of identical twins that were separated shortly after birth and brought up by different parents. They found that achievement was based on intelligence and later influenced by the child’s environment.
One case involving very intelligent twins was quoted. One of the twins received a normal upbringing and performed well. The other twin, however, was brought up by extremely supportive parents and given every possible opportunity to develop its abilities. That twin, though starting out with the same degree of intelligence as the other, performed even better.
Gifted people can not be created by supportive parents, but they can be developed by them. One professor of music said that outstanding musicians usually started two or three years earlier than ordinary performers, often because their parents had recognized their ability. These musicians then needed at least ten years of hard work and training in order to reach the level they were capable of attaining.
Covering more than 70 percent of our planet, oceans are among the earth’s most valuable natural resources. They govern the weather, clean the air, help feed the world, and provide a living for millions. They also are home to most of the life on earth, from microscopic algae to the blue whale, the largest animal on the planet. Yet we’re bombarding them with pollution. By their very nature, the oceans are the end point for so much of the pollution we produce on land, however far from the coasts we may be. And from dangerous carbon emissions to choking plastic to leaking oil to constant noise, the types of ocean pollution humans generate are vast. As a result, collectively, our impact on the seas is degrading their health at an alarming rate. Here are some ocean pollution facts that everyone on our blue planet ought to know.
When we burn fossil fuels, we don’t pollute just the air but the oceans, too. Indeed, today’s seas absorb as much as a quarter of all man-made carbon emissions, which changes the pH of surface waters and leads to acidification. Oceans are now acidifying faster than they have in some 300 million years. It’s estimated that by the end of this century, if we keep pace with our current emissions practices, the surface waters of the ocean could be nearly 150 percent more acidic than they are now.
The majority of the garbage that enters the ocean each year is plastiC. That’s because unlike other trash, the single-use grocery bags, water bottles, drinking straws, and yogurt containers, among eight million metric tons of plastic items we toss, won’t biodegrade. Instead, they can persist in the environment for a millennium, polluting our beaches, entangling marine life, and getting ingested by fish and seabirds.
Where does all this debris originate? While some are dumped directly into the seas, an estimated 80 percent of marine litter makes its way there gradually from land-based sources via storm drains, sewers, and other routes. Oil from boats, airplanes, cars, trucks and even lawn mowers is also swimming in ocean waters. Chemical discharges from factories, raw sewage overflow from water treatment systems, and storm water and agricultural runoff add other forms of marine-poisoning pollutants to the toxic brew.
The ocean is far from a “silent world.” Sound waves travel farther and faster in the sea’s dark depths than they do in the air, and many marine mammals like whales and dolphins, in addition to fish and other sea creatures, rely on communication by sound to find food, mate, and navigate. But an increasing barrage of human-generated ocean noise pollution is altering the underwater acoustic landscape, harming—and even killing—marine species worldwide.
