Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hà Nội form 2025 có đáp án (Đề 37)
Đề thi

Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hà Nội form 2025 có đáp án (Đề 37)

A
Admin
ĐHQG Hà NộiĐánh giá năng lực1 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

Cho hình chóp \(S.ABCD\) đáy là hình thoi, có góc \(\widehat {ABC} = {60^ \circ }\), cạnh đáy bằng \(a\). Hai mặt phẳng \(\left( {SAB} \right)\)\(\left( {SAD} \right)\) cùng vuông góc với mặt phẳng đáy.\(SA = a\sqrt 2 \)

Đoạn văn

     Nghiên cứu tâm lý học cho thấy làm nhiều việc cùng một lúc đa nhiệm trong thời gian dài vừa khiến IQ giảm sút, căng thẳng leo thang. Bạn sẽ mất nhiều thì giờ và năng lượng để “chuyển đổi ngữ cảnh”. Nhà khoa học Gerald Weinberg từng chỉ ra việc tham gia cùng lúc nhiều dự án chỉ khiến ta lãng phí thời gian vào những việc vô bổ, trong khi thời gian thực sự để làm việc và tạo ra giá trị thì chẳng đáng là bao. Nếu một người cùng lúc chạy 3 dự án, thì thời gian chuyển đổi ngữ cảnh tiêu tốn lên đến 20%; nhưng nếu một người cùng lúc “cân” tới 5 dự án, thì thời gian để làm việc thực sự cho mỗi dự án chỉ còn 5%, còn thời gian để dành chuyển đổi ngữ cảnh lên đến 75%.

     Trong sách Organized Mind, giáo sư khoa học thần kinh tại MIT Daniel Levitin có dẫn một số nghiên cứu cho thấy tác hại ghê gớm của đa nhiệm. Theo đó, mới chỉ có “cơ hội đa nhiệm” thôi mà đã gây ra hậu quả. Nhà khoa học Glenn Wilson tại Đại học London khám phá ra rằng “một người trong tình trạng cố tập trung làm việc mà lại có email vẫn chưa mở có thể bị giảm 10 điểm IQ”. Còn nghiên cứu của Russ Poldrack tại đại học Stanford thì chỉ ra “việc tiếp nhận thông tin mới khi đang đa nhiệm sẽ khiến thông tin đó được ghi vào không đúng chỗ trong não bộ. Nếu vừa học bài vừa xem tivi, những thông tin học sinh tiếp nhận được sẽ lưu vào trong thể vân,  một vùng chuyên biệt để lưu trữ kĩ năng và quy trình thực hiện chứ không phải ý tưởng và thông tin”.

(Dương Trọng Tấn, Được việc: Bí kíp làm nhân viên bình thường, NXB Thế giới, Hà Nội, 2020)

Đoạn văn

     Các nhà dân tộc đã khẳng định rằng, người Tày và người Nùng là những cư dân có chung một nguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt xưa kia. Theo các tài liệu của Trung Hoa, người Choang đang sinh sống tại Quảng Tây và Vân Nam được chia thành nhiều chi hệ, có nhiều tên tự gọi và tên gọi khác nhau như Pu Nong (Bố Nồng), Pù Nong (Bộc Nồng), Pù Lung (Bộc Long), Long Rén (Long Nhân), Thu Rén (Thổ Nhân), Jin Dai Y (Cân Tải Y), v.v... Pu hay  là hai cách ký tự của một từ gốc có cách đọc luyến láy khác nhau, đều có nghĩa là người hay tộc. Rén là người trong tiếng Hán, còn Jin Dai Y là ký âm của chữ Cần Tày trong tiếng Tày - Thái. Ngoài ra, họ còn có các tên gọi khác nữa như Dai de (Tài Đức), Bai sha rén (người Sa trắng), Hei sha nén (người Sa đen), Zhung Jia (Chủng Gia), Chi Liao (Ngật Liêu), Tu liao (Thổ Liêu), v.v... Điều đó cũng có nghĩa là ngay ở Trung Hoa, tên tự gọi của dân tộc Choang cũng khá phức tạp, thể hiện những ý thức khác nhau trong việc xác định tộc danh. Sau khi Trung Hoa được giải phóng (1949), tên gọi thống nhất được xác định ban đầu là Đồng tộc; đến năm 1965, từ Đồng tộc lại được đổi thành Tráng tộc, với nghĩa là người mạnh khoẻ; khi chuyển nghĩa, các nhà dân tộc học Việt Nam thường dịch theo âm Hán Việt là dân tộc Choang. Thực tế, thành phần cơ bản của dân tộc Choang ở Trung Hoa hiện nay gồm rất nhiều tộc người, trong đó có các nhóm Nùng, Tày.... Người Tày và người Nùng hiện nay vẫn gọi nhau một cách thân mật là Cần Slửa Khao (người áo trắng, tức người Tày) và Cần Slửa Đăm (người áo đen, tức người Nùng). Chắc chắn, các dân tộc Tày và Nùng thời cổ xưa, không có sự phân biệt thành hai tộc người riêng biệt.

(Trần Bình, Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, 2014)

Đoạn văn

Tâm trí con người là biểu hiện của nhiều tầng thứ rung động theo các lớp tăng dần từ trong ra ngoài. Ở tầng rung động chậm nhất, tâm trí biểu hiện qua dòng điện sinh học chạy trong các dây thần kinh và não bộ. Khi có tác động từ môi trường tới các cơ quan thụ cảm như mắt, mũi, tai, miệng, da, sẽ tạo ra dòng điện sinh học chạy dọc các dây thần kinh, rồi truyền đến cho não bộ xử lý. Điều này tạo ra các giác quan như nghe, nhìn, sờ, ngửi, nếm, giúp bạn nhận biết thế giới xung quanh. Dòng điện chạy trong não bộ, giúp bạn có thể tính toán, ghi nhớ, tưởng tượng, suy nghĩ. Nếu coi bộ não là một vi xử lý CPU như của máy tính, với máy tính chính là cỗ máy sinh học - cơ thể người, thì tâm trí chính là hệ điều hành của cỗ máy sinh học đó. Điều thú vị là cả máy tính và con người đều có cùng nguyên lý hoạt động. Đó là cơ chế nhị nguyên 0 - 1, bật - tắt của dòng điện, vì vậy hoạt động tâm trí của con người cũng... máy móc tương tự các phần mềm máy tính. Bạn có thể thấy sự tương đồng của hệ thống máy tính và cơ thể người như nguồn điện chính là các cơ quan tiêu hóa, hô hấp. Những thiết bị vào, ra chính là các bộ phận cảm nhận như tai, mắt, mũi, miệng, da. Các cơ quan này giúp cơ thể có khả năng nhận được thông tin từ môi trường, sau đó truyền tới bộ xử lý trung tâm - não bộ để có thể xử lý, chuyển hóa thông tin đó. Từ đó, chúng ta có thể nhận thức được hình ảnh, âm thanh, cảm giác, mùi vị, xúc giác... Tất cả những điều đó tạo thành một bức tranh tổng thể, lưu trữ trong các bộ nhớ của tâm trí gọi là ký ức.

(Ngô Sa Thạch, Cấu tạo của tâm trí, In trong Luật tâm thức, NXB Dân trí, Hà Nội, 2023)

Đoạn văn

Trước tấm bia chung “chưa có tên”

Mẹ

để con dìu mẹ đi

đấy là cây bồ đề trạc tuổi con

giờ nó đã thành ông thành bà

với xanh về trăm ngả

đấy là luống hoa cánh bướm

đung đưa run rẩy thơm tho

thả đỏ xanh tím vàng lên gió

đấy là lối về cuội nhỏ

buồn vui thinh lặng xe tròn

bao mùa cỏ non

 

Đấy là phiến đá thật thà

còn đây những viên gạch mồ côi

bên kia là bạn con

bên này bạn con

và ngay đây

là đứa em gái hàng xóm nhà mình

con nằm ở giữa

 

Mẹ ơi, mẹ ngồi xuống đây

và hãy gọi thành tiếng - tên con - cái tên ngày bé

chỉ cần một lần thôi mẹ

trên nấm đất này […]

 

Chúng con giờ chung một tên

chúng con giờ cùng một tuổi

là lá bồ đề

là hoa cánh bướm

là khói lay nhòe phía mẹ chiều hôm!

(Hồ Minh Tâm, Dìu mẹ đi thăm mộ mình, dẫn theo vannghequandoi.comngày 18/07/2021)

Đoạn văn

     Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cụ cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa. Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc dễ dàng, nhưng đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với cả đến cái đẹp không bao giờ biết lên tiếng nói. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảng vườn, khuân hoa cỏ các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho thêm tội.

     Đến hồi gần đây, biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ Kép mới gây lấy một vườn lan nho nhỏ. Giống lan gì cũng có một chậu. Tiểu kiều, Đại kiều, Nhất điểm, Loạn điểm, Yên tử v.v... Chỉ trừ có giống lan Bạch ngọc là không thấy trồng ở vườn. Không phải vì lan Bạch ngọc đắt giá mỗi giò mười đồng bạc, mà cụ Kép không trồng giống hoa này. Trong một buổi uống trà đêm, cụ Kép nói với một người bạn đến hỏi cụ về cách thức trồng cây vườn hoa:

- Tôi tự biết không chăm được lan Bạch ngọc. Công phu lắm, ông ạ. Gió mạnh là gẫy, nắng già một chút là héo, mưa nặng hột là nẫu cánh. Bạch ngọc thì đẹp lắm. Nhưng những giống nhẹ nhàng ấy thì yểu lắm. Chăm như chăm con mọn ấy. Chiều chuộng quá như con cầu tự. Lầm lỡ một chút là chúng đi ngay. Những vật quý ấy không ở lâu bền với người ta. Lan Bạch ngọc hay ưa hơi đàn bà. Trồng nó ở vườn các tiểu thư thì phải hơn.

(Nguyễn Tuân, Hương cuội, In trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 31, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2006)

Đoạn văn

Khoảng năm 1805, thầy thuốc và nhà vật lý người Anh Thomas Young đã thực hiện thí nghiệm về sự lan truyền của ánh sáng. Anh cắt một lỗ nhỏ trên một cửa sổ và bao phủ nó bởi một tấm bìa dày có một lỗ nhỏ ở đó và sử dụng một cái gương để làm lệch hướng chùm tia ánh sáng mảnh xuyên qua đó. Sau đó, anh dùng một thẻ nhỏ dày khoảng 1/13 inch, trên có hai khe nhỏ và đặt nó ở giữa chùm tia để chia chùm tia sáng thành hai luồng ánh sáng. Kết quả thu được trên tường là những vân giao thoa.

Hiện tượng quan sát được chỉ có thể được giải thích nếu hai chùm tia sáng đó lan truyền như các sóng. Các dải sáng trên tường là nơi hai đỉnh sóng giao nhau, các dải tối là nơi một đỉnh sóng giao thoa với một bụng sóng. Thí nghiệm của Young đã khẳng định sự lan truyền của ánh sáng như những sóng.

Đoạn văn

Lực trên một đơn vị diện tích được tạo ra do sự ngăn cách các dung dịch có nồng độ khác nhau bởi một màng bán thấm được gọi là áp suất thẩm thấu. Các phân tử, bao gồm cả nước, có xu hướng di chuyển từ vùng có nồng độ cao sang vùng có nồng độ thấp. Màng bán thấm hoạt động như một bộ lọc, chỉ cho phép các phân tử có kích thước dưới một ngưỡng nhất định đi qua. Áp suất thẩm thấu là áp suất cần thiết để ngăn nước di chuyển qua màng này từ vùng có nồng độ nước cao sang vùng có nồng độ nước thấp.

Ion đồng (Cu2+) và glucose được hòa tan riêng biệt trong các thể tích nước bằng nhau để tạo thành hai dung dịch. Dung dịch glucose loãng hơn, nghĩa là nó có tỷ lệ phần trăm phân tử nước cao hơn so với dung dịch ion đồng. Biết phân tử nước có kích thước nhỏ nhất. Dung dịch nước và glucose không màu, trong khi dung dịch ion đồng có màu xanh lam. Tuy nhiên, việc trộn glucose và ion đồng lại tạo thành dung dịch màu đỏ.

Thí nghiệm 1:

Một ống hình chữ U chứa màng bán thấm, ngăn cách ống thành hai bên bằng nhau. Dung dịch glucose được đổ vào bên trái và một thể tích tương tự của dung dịch ion đồng được đổ vào bên phải. Sau 2 giờ, mực nước bên trái giảm và bên phải tăng. Lúc này, dung dịch bên trái có màu đỏ và bên phải có màu xanh lam.

Thí nghiệm 2:

Một bên chứa dung dịch ion đồng, bên còn lại chứa nước tinh khiết (thể tích bằng nhau). Sau 2 giờ, mực nước bên phải giảm và bên trái tăng. Lúc này, cả hai bên đều có dung dịch màu xanh lam.

Thí nghiệm 3:

Một bên chứa dung dịch glucose, bên còn lại chứa nước tinh khiết (thể tích bằng nhau). Sau 2 giờ, mực nước bên phải giảm và bên trái tăng. Lúc này, cả hai bên đều có dung dịch không màu.

Đoạn văn

Để đánh giá tiềm năng khai thác quần thể cá trê ở 3 hồ nước ngọt có điều kiện tự nhiên tương đương nhau, người ta đã sử dụng cùng một cách đánh bắt, ở cùng một thời điểm rồi phân loại số cá bắt được theo nhóm tuổi (tính theo tỷ lệ %). Biết rằng, tuổi thành thục sinh sản của cá trê là 12 – 15 tháng và số lượng cá đánh bắt ở 3 hồ trong nghiên cứu đảm bảo tin cậy về thống kê. Kết quả điều tra được trình bày ở bảng dưới đây.

Đoạn văn

"Ngày 16 và 17/7/1920, báo Nhân đạo (L’Humanite) của Đảng Xã hội Pháp đăng toàn văn "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin. Người đọc, nghiên cứu bản Luận cương và Người đã tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc. Người đã thốt lên: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!"."

("Nguyễn Ái Quốc đến với Luận cương của Lênin – Bước ngoặt của cách mạng Việt Nam", https://hcmcpv.org.vn)

Đoạn văn

“Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á đã xuất hiện những tổ chức khu vực và kí kết các hiệp ước giữa các nước trong khu vực. Tháng 1-1959, Hiệp ước hữu nghị và kinh tế Đông Nam Á (SAFET) bao gồm Ma-lai-xi-a và Phi-lip-pin ra đời.

Tháng 7-1961, Hội Đông Nam Á (ASA) gồm Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin và Thái Lan được thành lập. Tháng 8-1963, một tổ chức gồm Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a (MAPHILINDO) được thành lập. Tuy nhiên, những tổ chức trên đây không tồn tại được lâu do sự bất đồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền”.

 (Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.358)

Đoạn văn

Media VietJack

(Atlat Địa lí Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2024)

Đoạn văn

When you read something in a foreign language, you frequently come across words you do not fully understand. Sometimes you check the meaning in a dictionary and sometimes you guess. The strategy you adopt depends very much upon (631) ___________ and the time at your disposal.

If you are the sort of person who tends to turn to the dictionary frequently, it is worth remembering that every dictionary has its limitations. Each definition is only an approximation and one builds up an accurate picture of the meaning of a word only after meeting it in a (632) ___________of contexts. It is also important to recognize the special dangers of dictionaries that translate from English into your native language and vice versa. If you must use a dictionary, it is usually far safer to (633) __________an English-English dictionary.

In most exams you are not permitted to use a dictionary. (634) _____________, it is very time-consuming to look up words, and time in exams is usually limited. You are, therefore, forced to guess the meaning of unfamiliar words. When you come across unknown words in an exam text, it is very easy to panic. However, if you develop efficient techniques for guessing the meaning, you will overcome a number of possible problems and help yourself to understand far more of the text than you at first thought likely.

Two strategies which may help you guess the meaning of a word are: using contextual clues, both within the sentence and outside, and making use of clues (635) ___________ from the formation of the word.

Đoạn văn

Traditional methods of teaching no longer suffice in this technological world. Students, mediocre and bright alike, from the first grade through high school, not only are not intimidated by computers, but have become avid participants in the computer epoch.

Kids operating computers implement their curriculum with great versatility. A music student can program musical notes so that the computer will play Beethoven or the Beetles. For a biology class, the computer can produce a picture of the intricate actions of the body organs, that enabling today's students to investigate human biology in a profound way. A nuclear reactor is no longer an enigma to students who can see its workings in minute detail on a computer.

In Wisconsin, the Chippewa Indians are studying their ancient and almost forgotten language with the aid of a computer. More commonly, the computer is used for drilling math and language concepts so that youngster may learn at their own speed without trying the patience of their human teachers. The simplest computers aid the handicapped, who learn more rapidly from the computer than from humans. Once irksome, remedial drills and exercises now on computer are conducive to learning because the machine responds to correct answers with praise and to incorrect answers with frowns and even an occasional tear.

Adolescents have become so exhilarated by computers that they have developed their own jargon, easily understood by their peers but leaving their disconcerted parents in the dark. They have shown so much fervor for computers that they have formed computer clubs, beguiled their leisure hours in computer stores, and even the attended computer camps. A Boy Scout can get a computer merit badge. One ingenious young student devised a computer game for Atari that will earn him $100,000 in royalties.

This is definitely the computer age. Manufacturers of computers in the United States are presently getting taxi writ-offs for donating equipment to colleges and universities and are pushing for legislation to obtain further deductions for contributions to elementary and high schools. Furthermore, the price of computers has steadily fallen to the point where a small computer for home or office is being sold for less than $100. At that price every class in the country will soon have computer kits.

Đoạn văn

The handling and delivery of mail has always been a serious business, underpinned by the trust of the public in requiring timeliness, safety, and confidentiality. After early beginnings using horseback and stagecoach, and although cars and trucks later replaced stagecoaches and wagons, the Railway Mail Service still stands as one of America’s most resourceful and exciting postal innovations. This service began in 1832, but grew slowly until the Civil War. Then from 1862, by sorting the mail on board moving trains, the Post Office Department was able to decentralize its operations as railroads began to crisscross the nation on a regular basis, and speed up mail delivery. This service lasted until 1974. During peak decades of service, railway mail clerks handled 93% of all non-local mail and by 1905 the service had over 12,000 employees.

Railway Post Office trains used a system of mail cranes to exchange mail at stations without stopping. As a train approached the crane, a clerk prepared the catcher arm which would then snatch the incoming mailbag in the blink of an eye. The clerk then booted out the outgoing mailbag. Experienced clerks were considered the elite of the Postal Service’s employees, and spoke with pride of making the switch at night with nothing but the curves and feel of the track to warn them of an upcoming catch. They also worked under the greatest pressure and their jobs were considered to be exhausting and dangerous. In addition to regular demands of their jobs they could find themselves the victims of train wrecks and robberies.

As successful as it was, “mail-on-the-fly” still had its share of glitches. If they hoisted the train’s catcher arm too soon, they risked hitting switch targets, telegraph poles or semaphores, which would rip the catcher arm off the train. Too late, and they would miss an exchange.