Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 9 Cánh diều có đáp án
46 câu hỏi
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
NGƯỜI PHẢI CHẾT
Lược dẫn: Mọi người tập trung rất đông ở trước Đông Dương đại học đường để chờ đón vị bác sĩ trẻ tài ba Trần Thế Đoàn nhưng đã quá giờ mà chưa thấy anh ta đâu. Có người cho rằng “Anh này có vẻ một danh nhân muốn cho mọi người chờ đợi mình...” Trong số những người đứng chờ ở đó có một phóng viên trẻ tuổi – Lê Phong. Không để ý đến vẻ náo động của đám đông, anh ta cứ đi đi lại lại một cách lơ đãng, thỉnh thoảng đứng lại biên mấy chữ lên một cuốn sổ tay. Rồi lại thản nhiên lững thững đi trong phòng như đi giữa chỗ vắng. Tuy vậy, ai nhận kỹ, cũng thấy đôi mắt anh ta vẫn tinh nhanh và quan sát từng cử chỉ của mọi người, quan sát rất chóng nhưng rất chu đáo. Nét mặt linh động với cái miệng mím lại chốc chốc thoáng qua. Rồi người bác sĩ họ Trần cũng đến, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng trong 3 phút đã diễn ra….
Người thiếu niên bỗng hỏi một câu đột nhiên:
- Lúc nãy ông ở nhà viết một bức thư dài phải không? Ông cần viết đến nỗi chút nữa thì lỡ mất một việc quan trọng là hôm nay có cuộc phát bằng long trọng.
Đoàn kinh ngạc nhìn người thiếu niên thì anh ta tiếp:
- Mà lại vừa nhận được một bức thư lạ, một bức thư làm cho ông bối rối có phải không?
Vẻ kinh ngạc của Đoàn lại càng rõ rệt, nhưng người thiếu niên cứ bình tĩnh nói, tiếng hạ thấp, có ý chỉ riêng Đoàn nghe.
- Thưa ông, bức thư ấy nói những gì, xin ông cho biết.
Bây giờ Đoàn mới trấn định được tâm trí, hỏi lại người thiếu niên:
- Những điều ấy có liên lạc gì với việc ông phỏng vấn tôi?
- Vâng! Không có liên lạc gì, hay chỉ liên lạc ít thôi, nhưng đó là điều rất quan hệ. Thưa ông Trần Thế Đoàn, xin ông nghe tôi và trả lời cho tôi rành mạch. Ông có những kẻ thù ghê gớm toan hại ông, những kẻ thù ấy ông có biết không và nếu biết, ông có rõ được một chút gì về mưu mô của họ không?
Đoàn lúc ấy lại nhìn người thiếu niên một cách rất kỳ dị,chưa kịp đáp thì anh ta lại nói:
- Xin ông cho biết, đó là những điều cực kỳ quan trọng, vì. . .
Đoàn bỗng hỏi:
- Nhưng ông là ai?
- Tôi là phóng viên báo “Thời Thế”.
- Vâng. Nhưng là người... Tên ông là gì?
- Tên tôi là Lê Phong, và là người rất có cảm tình với ông.
- Ông Lê Phong! Tôi vẫn biết tiếng ông... Tôi định đến thăm ông để hỏi những việc riêng và cần ông giúp.
Lê Phong đáp:
- Càng hay, vì những việc riêng ấy chính lúc này là lúc ông nên nói ra.
- Không, tôi không nói ở đây được xin mời ông lại chơi nhà hay chốc nữa ra, tôi sẽ xin đến báo "Thời Thế”. Bây giờ (Đoàn nhìn đồng hồ) bây giờ gần đến giờ rồi, xin lỗi ông. À mà tại sao ông biết?
- Biết gì kia?
- Biết các điều ông hỏi tôi. Ông biết từ bao giờ?
-Vừa rồi.
-...?...
- Vâng. Vết mực ở ngón tay ông, ông viết bức thư dài, ông chưa kịp rửa tay, và đến muộn, còn bức thư mới nhận được, ông nhét nó vào túi áo một cách cũng vội vã đến nỗi để tôi trông thấy mé phong bì nhô lên. . . Còn về những kẻ thù của ông thì tôi cũng vừa mới thấy trong lúc tôi nói chuyện với ông, tôi vẫn để ý đến hai người lạ mặt đứng cách đây ngót 10 thước và nhìn ông một cách hằn học không biết ngần nào. Chúng lẩn xa rồi.
Nhưng tôi vẫn nhận được: một người ăn vận quần áo tím thẫm, đeo kính trắng, quấn phu la tuy trời không rét lắm, còn người kia thì rỗ hoa mặc quần áo màu tro, cao lớn, và cụt một tay.
Đoàn kêu sẽ lên một tiếng:
- Trời ơi! Người cụt tay?
- Vâng cụt tay trái, tay ấn thọc luôn vào túi, nhưng tôi vẫn chú ý nên không giấu được tôi...
Đoàn nhắc đi nhắc lại:
- Người cụt tay? Trời ơi! Tôi hiểu rồi, suốt mấy ngày nay, khi ở trường ra, khi sắp bước vào nhà, khi đi xem chiếu bóng hay ở hiệu cao lâu, lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, tôi thường gặp hắn, tôi cũng chú ý đến cái tay cụt ấy, nhưng tôi không ngờ gì... Đến bây giờ...
Mặt Đoàn tái xanh đi. Chàng hốt hoảng nhìn ra, không trả lời những tiếng chào hỏi của những người bạn qua đấy như trước nữa. Chàng thốt nhiên nắm lấy tay Lê Phong:
- Ông Lê Phong, nếu vậy thì tính mệnh tôi nguy mất, tính mệnh tôi nguy thật, ông. . . Tôi nhờ ông tìm giúp kẻ thù tôi nhé . . .ông ngăn cản hộ, tôi biết chỉ ông ngăn cản nổi...
Giọng nói mỗi lúc một thêm van vỉ:
- Vâng, xin ông giúp tôi, ông cứu tôi... Trời! Đến lúc này,việc tôi sắp thành, kết quả gần thấy rồi, mà... Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời tôi, nhưng tôi cũng không được vui mấy.
- Thế ra ông biết cách hành động của kẻ thù đã lâu.
- Tôi biết gì? Có lẽ tôi ngờ thôi... Tôi vẫn ngờ rằng có kẻ muốn hại tôi, nhưng mãi hôm nay, mãi lúc này, tôi mới biết rõ.
-Thế sao ông không đi trình sở Liêm phóng?
- Tôi cũng định thế, nhưng xét ra có điều bất tiện. Ông Lê Phong, ông tìm ra nhé! ông đi bắt ngay hộ hai đứa nhé. Tôi đến điên cuồng lên mất?
Lê Phong ôn tồn nói:
- Đi bắt! Tôi chỉ là người nhà báo. . . Vả lại chúng nó không ở đây nữa, chúng hẳn tránh xa rồi.
- Ông chắc không?
Lê Phong toan trả lời "Tôi đoán thế”. Nhưng muốn an ủi Đoàn, anh ta nói:
- Chắc. Nhưng ông vẫn phải đề phòng cẩn thận. Bây giờ xin ông cứ yên tâm vào giảng đường vì hình như đến giờ rồi. À quên, ông đứng lại để tôi chụp ông bức ảnh.
Bấm xong bức ảnh. Lê Phong bắt tay người thiếu niên bác sĩ lúc đó vừa có người ra gọi, rồi lững thững đến ngồi lên một cái ghế dài gần cửa, cặm cụi viết lên cuốn sổ tay.
Anh ta vừa viết được cái đầu đề:
- “Một cuộc phỏng vấn vội vàng. Mấy phút cùng thiếu niên bác sĩ Trần Thế Đoàn, một nhà thông thái kỳ dị...”
Bỗng đập tay xuống ghế chép miệng:
- Ồ ngốc chưa ! Vội gì thì vội, nhưng quên không xem bức thư lạ lùng kia thì ngu thực...
Ngẫm nghĩ một lát, lấy đồng hồ xem. Lê Phong toan đứng dậy, nhưng vẫn ngồi yên. Anh tắc lưỡi một cái, rồi viết rất nhanh, vừa viết vừa đưa mắt nhìn mấy người đến chậm vội vã bước vào giảng đường.
Lúc bốn trang giấy nhỏ đã đầy chữ. Lê Phong bước ra ngoài, đến bên một người ghếch xe đạp đợi ở vệ đường, đưa cái "Tin" mới xé ở sổ tay ra cho hắn và dặn:
- Anh về ngay tòa báo, bảo sửa qua bài tôi viết, rồi đăng ngay, cần lắm. Trang nhất, đầu đề rất to, mau lên cho kịp số hôm nay.
Rồi ngoắt quay vào, anh lẩm bẩm nói một cách rất sung sướng:
- Nào! Lê Phong, đem hết sức hết trí ra! Câu chuyện không đến nỗi tầm thường lắm.
Sắp bước lên thang để vào chỗ dành riêng cho các phóng viên, Lê Phong chợt để ý đến một mảnh giấy nhỏ rơi dưới đất. Anh nhặt lên và bất giác kêu lên một tiếng sẽ: “Ô! lạ chưa!”.Trên mảnh giấy có mấy hàng chữ này, lối chữ in hoa, vạch bằng bút chì:
“Lê Phong, anh coi chừng đó, đừng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì”.
(Trích Thế Lữ, Mai Hương và Lê Phong, 1939)
Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên? Cơ sở nào khiến em nhận định như vậy?
- Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên: truyện trinh thám.
- Cơ sở để khẳng định thể loại truyện trinh thám:
+ Đề tài của truyện: Tội ác.
+ Yếu tố cấu thành nên tác phẩm chính là tội ác.
+ Chủ đề: Xoay quanh truyện phá án, tìm ra lí do phạm tội.
+ Nhân vật: Thám tử - Phóng viên (có tài năng đặc biệt), nạn nhân và kẻ tội phạm.
+ Cốt truyện là một câu đố bí ẩn (cần có lời giải đáp: Tại sao X lại phạm tội cố ý giết người).
+ Thủ pháp nghệ thuật: Tạo sự bí ẩn nhằm đánh lạc hướng người đọc; tạo sự sáng tỏ dẫn dắt người đọc đến việc giải đố bí ẩn.
+ Cấu trúc hình học của hình tượng nhân vật: mối quan hệ tam giác giữa cảnh sát – thủ phạm – nạn nhân. Đây là cuộc đấu trí ngang ngửa giữa thủ phạm với chàng phóng viên Lê Phong tài ba.
Truyện được kể bằng ngôi kể thứ mấy? Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể đó?
- Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ ba.
- Nhận xét về tác dụng của việc sử dụng ngôi kể của nhân vật này đối với nội dung câu chuyện:
+ Tạo cái nhìn khách quan về những sự việc xảy ra.
+ Giúp người kể có thể kể linh hoạt nội dung của câu chuyện.
Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là ai? Dựa vào văn bản đọc, em hãy chia sẻ những hiểu biết của mình về nghề phóng viên?
* Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là Lê Phong – một phóng viên rất tài ba - một thám tử nghiệp dư tay ngang.
* Những hiểu biết của em về nghề phóng viên:
- Phóng viên là người làm nghề chuyên chụp ảnh, săn tin, xử lý thông tin, viết bài để đăng cho các tòa soạn báo, tạp chí, truyền hình…
- Công việc của phóng viên bao gồm: quan sát, ghi chép, phỏng vấn người đưa tin, viết bài hoặc sáng tạo nội dung về các sự kiện, tin tức quan trọng.
- Để trở thành một phóng viên thực thụ, cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản như sau:
· Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
· Kỹ năng viết bài rõ ràng, xúc tích và mang tính thuyết phục.
· Kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn để thu thập và lấy thông tin từ các đối tượng liên quan.
· Khả năng nghiên cứu và phân tích thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác của thông tin.
· Làm việc dưới áp lực công việc tốt, bởi phóng viên thường phải làm việc dưới áp lực thời gian và khối lượng khá lớn.
· Trung thực, đưa tin đúng nội dung, không xào nấu làm sai sự thật.
· Có khả năng làm việc và phối hợp đội nhóm tốt.
· Cẩn thận, tỉ mỉ, đảm bảo tính chính xác của nội dung cung cấp đến công chúng.
· Không ngại học tập và tiếp thu thêm kiến thức mới.
Theo em nhan đề của văn bản hé lộ điều gì?
Theo em nhan đề của văn bản “Người phải chết” đã hướng sự chú ý của độc giả vào câu chuyện ngay từ nhan đề. “Người phải chết” đã bộc lộ tính chất chủ đề của câu chuyện một “tội ác” sắp sửa được thực hiện; kích thích trí tò mò và khả năng phán đoán của người đọc, hé lộ nạn nhân của vụ án này là ai.
Nhân vật thám tử Lê Phong đã thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật chính trong truyện trinh thám? Làm rõ ý kiến của em bằng những chi tiết trong văn bản.
* Nhân vật thám tử Lê Phong thể hiện những đặc điểm nổi bật của nhân vật chính trong truyện trinh thám:
- Khả năng quan sát tỉ mỉ.
- Khả năng suy luận logic.
- Kiến thức uyên bác.
- Tư duy độc lập.
- Lòng dũng cảm.
* Các chi tiết tô đậm tài năng của phóng viên tài ba Lê Phong:
+ Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
+ Nhìn vết mực trên ngón tay và bức thư trong túi của Trần Thế Đoàn mà biết được anh ta vì phải viết 1 bức thư rất dài nên đến muộn.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Nhìn bức thư nhét vội trong túi áo vị bác sĩ trẻ Thế Đoàn và quan sát thấy có 2 kẻ khả nghi đứng quanh đó mà biết được có kẻ đang muốn ám sát bác sĩ này.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Hành động ghi chép tỉ mỉ, chụp ảnh chuyên nghiệp, xử lý thông tin và đưa tin nhanh chóng. -> Đây chính là yếu tố cần có của một phóng viên chuyên nghiệp.
+ Hé lộ cho Thế Đoàn biết kẻ cụt tay là tên sát thủ nhằm cảnh báo cho nạn nhân biết mà đề phòng. -> hành động trượng nghĩa.
+ Mảnh giấy đe dọa, ngăn cản Lê Phong “Lê Phong, anh coi chừng đó, đứng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì.” Cho biết tài năng phá án của anh. Anh đã từng nhúng tay tìm ra chân tướng rất nhiều vụ án. Cả nạn nhân và kẻ thủ phạm đều biết rõ khả năng này của anh.
+…
Một số bài học cho bản thân:
+ Biết nhiều quá đôi khi cũng gặp nguy hiểm.
+ Giỏi quá đôi khi cũng gặp họa.
+ Kẻ ác luôn đứng trong bóng tối.
+ Cần học cách bảo vệ bản thân.
+ Cần rèn cho mình khả năng quan sát và tư duy logic để phán đoán tình hình...
+…
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi;
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi.
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.
Vì chút mây đi, theo làn vút gió.
Biết thế nào mà chậm rãi, em ơi?
(Trích “Giục giã”, Xuân Diệu, “Gửi hương cho gió”, NXB Hội nhà văn, 1992)
Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích trên.
Thể thơ: Tám chữ
Xác định cách ngắt nhịp chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ trên.
Cách ngắt nhịp: Nhịp 3/5
Chỉ ra những cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng trong những câu thơ:
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Những cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng: (Tình) mới – xưa, nắng mọc – hoa rụng, tình yêu đến – tình yêu đi, gặp gỡ – li biệt, xưa – nay
Chỉ ra những từ ngữ thể hiện sự giục giã của “anh” trong đoạn thơ trên.
Ý nghĩa của việc sử dụng các cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng trong những câu thơ sau:
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Ý nghĩa của việc sử dụng các cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập: Khẳng định mạnh mẽ về sự chảy trôi liên tục, “không đứng đợi” ai của dòng chảy thời gian
Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đối được sử dụng trong những câu thơ sau:
Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.
Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đối được sử dụng: Nhấn mạnh sự tan biến, đổi thay nhanh chóng theo thời gian của điều tốt đẹp trong cuộc đời
Trong đoạn thơ trên, nhân vật trữ tình đã bộc lộ những tình cảm, cảm xúc gì?
Trong đoạn thơ trên, nhân vật trữ tình đã bộc lộ những tình cảm, cảm xúc: Cuống quýt, vội vàng, gấp gáp để sống trọn vẹn với giây phút hiện tại, vì ý thức rõ những điều tốt đẹp sẽ bống chốc thay đổi, biến mất theo thời gian
Anh/ chị có nhận xét gì về nhịp điệu, giọng điệu của đoạn thơ trên?
Nhận xét gì về nhịp điệu, giọng điệu của đoạn thơ:
- Nhịp điệu: nhanh, gấp gáp,
- Giọng điệu: hối thúc, giục giã
Qua đoạn thơ trên, tác giả muốn bộc lộ quan niệm sống như thế nào?
Qua đoạn thơ, tác giả bộc lộ quan niệm sống:
- Trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, cái đẹp và tình cảm con người cũng có thể thay đổi, biến mất.
- Vì vậy, con người hãy nhanh chóng, gấp gáp để sống trọn vẹn từng giây phút hiện tại, tận hưởng những điều tốt đẹp của cuộc đời trước khi mọi thứ tan biến.
- Đó là một quan niệm sống có ý nghĩa tích cực, tiến bộ.
Anh/chị cần làm gì để quỹ thời gian của mình không trôi qua một cách hoài phí?
Học sinh nêu những việc cần làm để quỹ thời gian của mình không trôi qua một cách hoài phí
Gợi ý:
- Lên kế hoạch công việc trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm và thực hiện nghiêm túc.
- Tư duy logic, hoàn thành trọn vẹn các công việc, tránh để dồn việc hoặc mất tập trung khi làm việc.
- ...
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ ông đã ngoài bốn mươi tuổi, đã trải qua thời Lê – Trịnh, thời Tây Sơn đến thời Nguyễn. Những năm thiếu thời sống ở Thăng Long, ngót mười năm lưu lạc sống chung với nhân dân, và mấy năm làm quan dưới triều đình mới, ông đã chứng kiến những cảnh thối nát của xã hội phong kiến suy tàn thời Lê -Trịnh, đến sự vùng dậy mãnh liệt của thời Tây Sơn, v.v… Những biến cố ấy khắc sâu vào tâm trí của ông và được phản ánh vào văn chương một cách sâu sắc.
Trong Truyện Kiều, mới thoáng qua bề ngoài ta thấy chế độ phong kiến yên tĩnh, vững vàng “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng thực chất thì mục ruỗng từ bên trong. Bọn quan lại phong kiến toàn là lũ sâu mọt, là những thế lực vô cùng hắc ám: Một tên quan xử kiện vụ Vương Ông, thằng bán tơ vu oan cho gia đình họ Vương, nhưng quan chẳng cần điều tra, nghiên cứu gì, chỉ cốt khảo cho ra tiền: “Có ba trăm lạng việc này mới xong”, đẩy gia đình họ Vương vào cảnh tan nát, phá tan mối tình đẹp đẽ của Thúy Kiều và Kim Trọng.
Đến như “Quan Tổng đốc trọng thần” họ Hồ, đại diện cho triều đình cũng là con người bỉ ổi, mất tư cách: dụ Từ Hải hàng rồi lừa giết một cách hèn nhát, dở trò dâm ô ngay với người vợ kẻ mình giết, rồi đem gán cho một tên thổ quan, để đến nỗi Kiều phải gieo mình xuống sông Tiền Đường.
Trong lúc đó, bọn đại quí tộc như “họ Hoạn danh gia” tha hồ làm mưa làm gió. Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước. Hoạn Thư còn lập mưu bắt cóc Kiều đem về cho mụ mẹ ngược đãi và bày ra trò gặp gỡ éo le chua xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Hoạn Thư “con quan Lại bộ”, tuy thông minh sắc sảo có thừa nhưng vô cùng nham hiểm độc ác:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.”
Bên cạnh cường quyền, bọn phong kiến quan liêu ấy còn có thứ quyền hung hãn hơn là đồng tiền. Cả một lũ quan lưu manh “trong tay sẵn có đồng tiền” nên chúng tha hồ hoành hành làm hại những người lương thiện. Đồng tiền mà trước đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo tác dụng phá hoại đạo đức phong kiến:
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử, Hết cơm hết rượu hết ông tôi.”
Đến thời Nguyễn Du, đồng tiền càng tác oai tác quái hơn. Cũng vì có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật. “Nghĩ rằng cũng mạch thư hương” như Sở Khanh, vì tiền mà chịu làm “mặt mo” để thi hành độc kế của Tú Bà… Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen”. Nó dày xéo lên công lý, nó mua được lương tâm của con người. Nó đánh giá tài đức, phẩm cách con người như đánh giá một món hàng bán ngoài chợ. Và Nguyễn Du đã vạch mặt tác hại của đồng tiền đối với xã hội và cuộc sống con người:
“Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
Qua đó, ta thấy được xã hội trong Truyện Kiều là một xã hội phong kiến thối nát. Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó. Truyện Kiều quả thật là một “Bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến xấu xa, tàn bạo”.
(Trích: Những giá trị và hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều – GS.TS. Lê Văn Quán, Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113),2012; tr.3-11)
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Văn bản trên viết về vấn đề gì?
Văn bản viết về vấn đề: Giá trị hiện thực trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Văn bản có 2 luận điểm:
- Luận điểm 1: Bối cảnh hiện thực thời Nguyễn Du sống. – Luận điểm 2: Sự tác động của bối cảnh hiện thực đối với “Truyện Kiều”.
Quan điểm:
- Đánh giá cao giá trị hiện thực trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
- Phê phán chế độ phong kiến thời kì suy tàn.
Từ văn bản trên, anh/ chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay?
Rút ra bài học về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay:
- Không hùa theo, không tiếp tay cho cái xấu, cái ác;
- Cần mạnh mẽ lên tiếng và có những hành động để ngăn chặn, loại bỏ cái xấu, cái ác;
- Cần kêu gọi mọi người cùng chung tay để đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
QUẦN THỂ DI TÍCH CÓ ĐÔ HUẾ
- DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
(VOV5) - Với những giá trị mang tính toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.
Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945. Với những giá trị mang tinh toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.

Đại Nội Huế về đêm. Ảnh: https://wpd.vn/gia-tri-lich-su-dai-noi-hue-duoi-thoi-nha-nguyen/
Năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần phía bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện. Năm 1636, phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 thì dời về Phú Xuân - thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phủ Xuân trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn. Nhà sử học Lê Văn Lan cho biết: Các vị hoàng đế nhà Nguyễn, đặc biệt là hai vị hoàng đế đầu tiên là Gia Long và Minh Mạng đã rất có lý khi muốn Phú Xuân, khi chuyển Phú Xuân thành kinh đô Huế của cả nước Đại Nam. Huế lúc đó có vai trò cực kỳ quan trọng của một trung tâm đầu não về mặt chính trị của cả nước. Một triều đình rất công phu được xây dựng, mà đứng đầu là các vị vua chuyên chế, rồi các bộ máy và các hạng mục kinh thành cũng đã được thiết kế và ổn định..
Từ năm 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị. Có thể kể đến ở phía bờ Bắc của con sông Hương là hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn gồm ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử Cấm thành Huế lồng vào nhau, được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh [...]
Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An,... Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới tại Colombia năm 1993, UNESCO khi quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoả của nhân loại, đã khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế. Theo đó, quần thể di tích Cố đô Huế tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, là những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng, có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc.
(Thu Hoa - VOV5 20/5/2018)
Nội dung thông tin của văn bản
- Giới thiệu chung về Cố đô Huế.
- Giới thiệu lịch sử hình thành và cấu trúc của Cố đô Huế.
- Giới thiệu Cố đô Huế được UNESCO công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại (năm 1993)
Xác định loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản và nêu vai trò của chúng trong việc cung cấp thông tin về di tích Cố đô Huế.
- Loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: Hình ảnh.
- Vai trò: cung cấp hình ảnh một cách trực qua, làm người đọc dễ hình dung hơn về di tích Cố đô Huế cụ thể là hình ảnh Đại Nội Huế về đêm.
Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới thể hiện những đặc điểm nào của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử?
Những đặc điểm của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử thể hiện trong văn bản là:
- Mục đích viết: Cung cấp thông tin về Quần thể di tích Cố đô Huế- di sản văn hóa thế giới.
- Cấu trúc: Có đầy đủ 3 phần: mở đầu, nội dung, kết thúc.
- Về hình thức: Sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính; sử dụng từ
ngữ chuyên ngành; hình ảnh minh hoạ; yếu tố miêu tả...
- Cách trình bày thông tin: Theo trật tự thời gian.
Phân tích mối quan hệ giữa nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế- di sản văn hóa thế giới với các thông tin cơ bản của văn bản?
- Mối quan hệ giữa nhan đề và các thông tin cơ bản của văn bản chặt chẽ logic.
+ Các thông tin cơ bản trong văn bản đều cung cấp thông tin về di tích lịch sử Cá đô Huế và tập trung làm rõ nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới.
+ Nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đã làm nổi bật và khái quát được nội dung của toàn văn bản.
Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại, thông tin này tác động tới em như thế nào? Vì sao?
Thông tin: Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại, tác động tới em (Tác động đến tình cảm, nhận thức và hành động, HS có thể tham khảo gợi ý theo hướng sau.)
+ Em cảm thấy tự hào, yêu mến vì đất nước mình có di sản văn hóa được thế giới công nhận.
+ Em nhận thấy mình cần phải có trách nhiệm tìm hiểu và góp phần bảo vệ các di sản văn hóa của đất nước. Vì đó là trách nhiệm của công dân đối với di sản của đất nước.
+ Nếu có cơ hội em sẽ quảng bá di sản văn hóa Huế tới bạn bè trong và ngoài nước. Vì em mong muốn mọi người biết đến Huế và thu hút khách du lịch đến Huế.
+ Em sẽ tuyên truyền tới mọi người về việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản Cố đô Huế. Vì đây là việc làm thiết thực để bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
“Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Người làm thơ chọn chữ và tiếng không những vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy. Câu thơ hay, có cái gì làm rung những chiếc cốc kia trên bàn, làm lay động ánh trăng kia trên bờ đê. “Chim hôm thoi thót về rừng..”. Chúng ta đọc mà thấy rõ buổi chiều như hơi thở tắt dần, câu thơ không còn là một ý, một bức ảnh gắng gượng chụp lại cảnh chiều, nó đã bao phủ một vầng linh động truyền sang lòng ta cái nhịp phập phồng của buổi chiều. Mỗi chữ như một ngón nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả chung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc chung quanh. Người xưa nói: Thi tại ngôn ngoại.”
(Trích Mấy ý nghĩ về thơ, Tuyển tác phẩm văn học Nguyễn Đình Thi, Tiểu luận-Bút kí, NXB Văn học, Hà Nội, 2001)
Những ý chính của đoạn trích văn bản:
- Chữ và tiếng trong thơ phải có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Ngoài công
dụng gọi tên sự vật, nó còn có khả năng gợi hình, gợi cảm cao.
- Nghĩa của câu thơ, bài thơ, không chỉ là nghĩa cộng của những chữ, những tiếng
tạo nên câu thơ, bài thơ mà là nghĩa tổng hợp trong mối quan hệ đa chiều của những
tiếng, những chữ tạo nên câu thơ, bài thơ ấy.
Người viết đã sử dụng kết hợp các thao tác lập luận nào trong đoạn trích trên? Xác định thao tác lập luận chính.
- Người viết đã sử dụng kết hợp các thao tác : Bình luận, chứng minh...
- Bình luận là thao tác lập luận chính
+ Biểu hiện: Có nhiều câu văn thể hiện quan điểm, ý kiến của người viết về vấn đề chữ và tiếng trong thơ như câu 3,4 ...
Xác định và chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau:
Mỗi chữ như một ngón nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung.
Các biện pháp tu từ
- Biện pháp so sánh: Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy
Hiệu quả nghệ thuật: Làm tăng tính gợi hình, gợi cảm. Có cảm giác mỗi chữ không
còn là một cái vỏ ngôn ngữ vô hồn, bất động mà lung linh, sinh động, có sức sống
đang toả nhiệt và truyền hơi ấm sang người đọc.
- Biện pháp ẩn dụ: Hình ảnh một vùng sáng chung.
Hiệu quả nghệ thuật: Đó là nghĩa của những tiếng, những chữ ( nói chung là từ ngữ)
trong mối quan hệ tương tác, hoà hợp, bổ sung lẫn nhau để tạo nên những ý nghĩa
ngoài ý nghĩa riêng của mỗi tiếng, mỗi chữ. Phép ẩn dụ cũng làm tăng tính gợi hình
gợi cảm cho câu văn.
Anh/ chị hiểu như thế nào về câu: "Thi tại ngôn ngoại”? Hãy chỉ ra phần "Thi tại ngôn ngoại” trong 2 câu thơ:
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
(Đất nước- Nguyễn Đình Thi)
- Thi tại ngôn ngoại nghĩa là : Ý thơ ở ngoài lời thơ
- Phần Thi tại ngôn ngoại trong hai câu thơ:
+ Tiếng nói thiêng liêng của lịch sử cha ông luôn vọng về nhắc nhở.
+ Sức mạnh truyền thống của lịch sử dân tộc tạo nên động lực, niềm tự hào cho thế hệ hiện tại trong cuộc đương đầu với thực dân Pháp xâm lược.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
Lược dẫn: Trương Ba là một người làm vườn hiền lành, nho nhã, có tài đánh cờ, vì sự bất cẩn của Nam Tào mà phải chết. Đế Thích, một vị tiên cờ vốn thích chơi cờ với Trương Ba, đã cứu cho Trương Ba sống lại bằng cách nhập hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt mới qua đời. Đoạn trích dưới đây là màn đối thoại giữa Trương Ba với vợ, khi Trương Ba đã sống lại trong thân xác của anh hàng thịt.
Hồn Trương Ba: Như vậy thì suýt nữa là tôi chết hẳn bà nhỉ?
Vợ Trương Ba: May mà có ông Đế Thích…
Hồn Trương Ba: Kinh thật! Chết hẳn không được sống nữa! (Ngẫm nghĩ). Ai bảo không sợ chết là nói khoác, chứ tôi, tôi sợ lắm. Cứ nghĩ đáng nhẽ mình… là lại sợ. May quá, mình lại được sống, lại được đi lại, làm lụng, trông thấy mặt trời, được ăn những trái cây trong vườn, ngửi mùi hoa ngâu, hoa lý trước thềm, uống nước chè tươi bà nấu... Lại được bên bà, nhìn thấy bà… Sống, thật là lý thú!
Vợ Trương Ba (Rụt rè): Nhưng…nhưng… ông đã…
Hồn Trương Ba: Đã khác hẳn trước, phải không? (Rầu rĩ). Bà đã quen hình vóc này của tôi chưa?
Vợ Trương Ba: Đã gần một tháng, cũng… cũng quen dần ông ạ!
Hồn Trương Ba: Vậy là sao… Tôi vẫn chưa quen được! Cái thân xác có phải bộ quần áo đâu mà dễ quen, dễ đổi. Có khi người ngoài nhìn vào còn dễ quen chứ chính bản thân mình thì… Đã gần một tháng, tôi là tôi mà cứ như không phải là tôi… Trước kia tôi đâu có biết anh hàng thịt này là ai... (Ngắm nghía lại tay chân mình). Cái thân xác cũ của tôi, tôi mang đã năm mươi năm, chứ cái thân xác cồng kềnh này... (Lắc đầu).
Vợ Trương Ba: Quen dần… nhưng mà… Lắm lúc không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới hình vóc ông hôm qua, lại thương cho cái người nằm dưới đất ấy…
Hồn Trương Ba: Người nào? Dưới đất chỉ là cái xác… Thế mà bà bảo: Chỉ có cái hồn mới là đáng kể! Thân xác là kẻ khác nhưng hồn vẫn là mình cơ mà!
Vợ Trương Ba: Tôi hỏi thật, từ hôm mang thân anh hàng thịt, mình thấy trong người thế nào, có như xưa không?
Hồn Trương Ba: Tôi khỏi hẳn cái chứng đau lưng với bệnh hen suyễn. Người thấy khoẻ mạnh lắm. Anh hàng thịt này là người lực lưỡng to béo nhất chợ mà.
Vợ Trương Ba: Giờ một bữa ông ăn tám, chín bát cơm. Trước ông ăn yếu lắm. Mà giờ ông lại hay đòi uống rượu.
Hồn Trương Ba (Ngại ngùng): Chẳng hiểu tại sao. Chắc vì anh hàng thịt nghiện rượu. Xưa tôi ghét nhất cái thứ đó! Bây giờ tôi vẫn ghét, nhưng cái thân xác tôi mang đã quen với thói cũ của nó…
Vợ Trương Ba (Ngậm ngùi): Bây giờ ông trẻ hơn xưa đến hơn hai mươi tuổi, anh hàng thịt mới ngoài ba mươi mà… Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi… Hồn Trương Ba: Kìa bà nó… Thì tôi có muốn thế đâu!
Vợ Trương Ba: Chiều qua ông lại sang nhà hàng thịt à?
Hồn Trương Ba: Bà vợ ông ta cứ sang đây! Bà ấy đã hiểu ra rằng tôi không phải là ông hàng thịt nhưng bà ấy vẫn khóc lóc, nài nỉ kêu rằng giờ bà ấy bơ vơ không nơi nương tựa, quán hàng thịt thà chẳng ai giúp cho! Bà ấy kể lể thảm quá, nghĩ cũng tội! Thôi chẳng gì mình cũng mượn thân xác chồng người ta, cũng phải sang đỡ đần bà ấy ít việc nặng. Tôi lóng nghóng có biết mổ lợn đâu, nhưng cũng phải đỡ đần bà ấy một tay.
Vợ Trương Ba: Tính ông hay thương người, mà bà ấy cứ được đằng chân lân đằng đầu, mới đầu chỉ nói sang đây nhìn ông cho đỡ nhớ chồng, rồi lại lằng nhằng nhờ việc nọ kia! Mà nghe đâu người ta nói mụ ta cũng không phải người đứng đắn đâu!
Hồn Trương Ba: Ô kìa! Thì tôi có…
Vợ Trương Ba: Chồng mới chết, đã cứ sang rủ rê ông về nhà, chẳng phải không đứng đắn là gì? Phải mụ ta được cái có nhan sắc, người cứ phây phây ra, hai con mắt lúng la lúng liếng…
Hồn Trương Ba: Người ta thế nào liên quan gì đến tôi, bà rõ lẩn thẩn!
Vợ Trương Ba: Vâng, tôi lẩn thẩn, tôi già rồi mà…
Hồn Trương Ba: Mình thật là… (Buồn bực). Xưa nay có bao giờ mình nói năng như vậy với tôi đâu!
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ, in trong Lưu Quang Vũ – Tuyển tập kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội 1994)
Lời chỉ chỉ dẫn sân khấu được sử dụng trong đoạn trích: ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu
Trương Ba đã có những sự thay đổi gì khi sống trong thân xác của anh hàng thịt?
Những thay đổi của Trương Ba khi sống trong thân xác của anh hàng thịt:
- Thay đổi về hình vóc, sức khỏe (khỏe mạnh hơn).
- Thay đổi về tâm tính thói quen (ăn khỏe hơn và thèm uống rượu).
Anh/chị hãy lí giải vì sao vợ Trương Ba không hoàn toàn vui khi Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt?
Vợ Trương Ba không hoàn toàn vui khi Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt vì:
- Trương Ba đã có những đổi khác so với trước kia
- Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt trẻ hơn, còn vợ Trương Ba thì đã già
- Lo sợ vợ anh hàng thịt quyến rũ Trương Ba
Theo anh/chị, hai hình tượng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong đoạn trích được dùng để biểu tượng cho điều gì?
Hai hình tượng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong đoạn trích được dùng để biểu tượng cho:
- Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho những gì thuộc về đời sống tinh thần của con người.
- Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho những gì thuộc về nhu cầu bản năng của con người.
Hoàn cảnh sống của Trương Ba trong đoạn trích: sống nhờ xác anh hàng thịt và có nhiều thay đổi.
=> Đây là hoàn cảnh sống: đầy éo le, trớ trêu nó báo hiệu cho bi kịch của Trương Ba khi phải sống nhờ trong xác hàng thịt.
Em không đồng tình với việc tác giả để hồn Trương Ba sống lại nhờ trong xác anh hàng thịt vì:
+ Khi sống trong xác hàng thịt Trương Ba sẽ bị thay đổi từ hình thức, thói quen cho đến tính cách. Vì thế Trương Ba sẽ không còn được là chính mình.
+ Trong cuộc sống con người cần được sống là chính mình, mọi sự sống nhờ, sống gửi sẽ khiến cuộc sống gặp nhiều rắc rối, vô nghĩa thậm chí có thể dẫn đến tình trạng bi kịch.
Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về sức mạnh của tiếng nói bản năng?
Suy nghĩ gì về sức mạnh của tiếng nói bản năng:
- Tiếng nói bản năng là những nhu cầu tự nhiên của con người. Nó rất mạnh mẽ, rất khó điều khiển.
- Một số nhu cầu bản năng là cần thiết để duy trì sự tồn tại, tuy nhiên, một số nhu cầu khác, nếu mất kiểm soát sẽ khiến cho con người bị tha hóa, rơi xuống hàng con vật.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
Lược dẫn: Trương Ba là một người làm vườn hiền lành, nho nhã, có tài đánh cờ, vì sự bất cẩn của Nam Tào mà phải chết. Đế Thích, một vị tiên cờ vốn thích chơi cờ với Trương Ba, đã cứu cho Trương Ba sống lại bằng cách nhập hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt mới qua đời. Đoạn trích dưới đây là màn đối thoại giữa Trương Ba với vợ, khi Trương Ba đã sống lại trong thân xác của anh hàng thịt.
Hồn Trương Ba: Như vậy thì suýt nữa là tôi chết hẳn bà nhỉ?
Vợ Trương Ba: May mà có ông Đế Thích…
Hồn Trương Ba: Kinh thật! Chết hẳn không được sống nữa! (Ngẫm nghĩ). Ai bảo không sợ chết là nói khoác, chứ tôi, tôi sợ lắm. Cứ nghĩ đáng nhẽ mình… là lại sợ. May quá, mình lại được sống, lại được đi lại, làm lụng, trông thấy mặt trời, được ăn những trái cây trong vườn, ngửi mùi hoa ngâu, hoa lý trước thềm, uống nước chè tươi bà nấu... Lại được bên bà, nhìn thấy bà… Sống, thật là lý thú!
Vợ Trương Ba (Rụt rè): Nhưng…nhưng… ông đã…
Hồn Trương Ba: Đã khác hẳn trước, phải không? (Rầu rĩ). Bà đã quen hình vóc này của tôi chưa?
Vợ Trương Ba: Đã gần một tháng, cũng… cũng quen dần ông ạ!
Hồn Trương Ba: Vậy là sao… Tôi vẫn chưa quen được! Cái thân xác có phải bộ quần áo đâu mà dễ quen, dễ đổi. Có khi người ngoài nhìn vào còn dễ quen chứ chính bản thân mình thì… Đã gần một tháng, tôi là tôi mà cứ như không phải là tôi… Trước kia tôi đâu có biết anh hàng thịt này là ai... (Ngắm nghía lại tay chân mình). Cái thân xác cũ của tôi, tôi mang đã năm mươi năm, chứ cái thân xác cồng kềnh này... (Lắc đầu).
Vợ Trương Ba: Quen dần… nhưng mà… Lắm lúc không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới hình vóc ông hôm qua, lại thương cho cái người nằm dưới đất ấy…
Hồn Trương Ba: Người nào? Dưới đất chỉ là cái xác… Thế mà bà bảo: Chỉ có cái hồn mới là đáng kể! Thân xác là kẻ khác nhưng hồn vẫn là mình cơ mà!
Vợ Trương Ba: Tôi hỏi thật, từ hôm mang thân anh hàng thịt, mình thấy trong người thế nào, có như xưa không?
Hồn Trương Ba: Tôi khỏi hẳn cái chứng đau lưng với bệnh hen suyễn. Người thấy khoẻ mạnh lắm. Anh hàng thịt này là người lực lưỡng to béo nhất chợ mà.
Vợ Trương Ba: Giờ một bữa ông ăn tám, chín bát cơm. Trước ông ăn yếu lắm. Mà giờ ông lại hay đòi uống rượu.
Hồn Trương Ba (Ngại ngùng): Chẳng hiểu tại sao. Chắc vì anh hàng thịt nghiện rượu. Xưa tôi ghét nhất cái thứ đó! Bây giờ tôi vẫn ghét, nhưng cái thân xác tôi mang đã quen với thói cũ của nó…
Vợ Trương Ba (Ngậm ngùi): Bây giờ ông trẻ hơn xưa đến hơn hai mươi tuổi, anh hàng thịt mới ngoài ba mươi mà… Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi… Hồn Trương Ba: Kìa bà nó… Thì tôi có muốn thế đâu!
Vợ Trương Ba: Chiều qua ông lại sang nhà hàng thịt à?
Hồn Trương Ba: Bà vợ ông ta cứ sang đây! Bà ấy đã hiểu ra rằng tôi không phải là ông hàng thịt nhưng bà ấy vẫn khóc lóc, nài nỉ kêu rằng giờ bà ấy bơ vơ không nơi nương tựa, quán hàng thịt thà chẳng ai giúp cho! Bà ấy kể lể thảm quá, nghĩ cũng tội! Thôi chẳng gì mình cũng mượn thân xác chồng người ta, cũng phải sang đỡ đần bà ấy ít việc nặng. Tôi lóng nghóng có biết mổ lợn đâu, nhưng cũng phải đỡ đần bà ấy một tay.
Vợ Trương Ba: Tính ông hay thương người, mà bà ấy cứ được đằng chân lân đằng đầu, mới đầu chỉ nói sang đây nhìn ông cho đỡ nhớ chồng, rồi lại lằng nhằng nhờ việc nọ kia! Mà nghe đâu người ta nói mụ ta cũng không phải người đứng đắn đâu!
Hồn Trương Ba: Ô kìa! Thì tôi có…
Vợ Trương Ba: Chồng mới chết, đã cứ sang rủ rê ông về nhà, chẳng phải không đứng đắn là gì? Phải mụ ta được cái có nhan sắc, người cứ phây phây ra, hai con mắt lúng la lúng liếng…
Hồn Trương Ba: Người ta thế nào liên quan gì đến tôi, bà rõ lẩn thẩn!
Vợ Trương Ba: Vâng, tôi lẩn thẩn, tôi già rồi mà…
Hồn Trương Ba: Mình thật là… (Buồn bực). Xưa nay có bao giờ mình nói năng như vậy với tôi đâu!
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ, in trong Lưu Quang Vũ – Tuyển tập kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội 1994)
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do.
Chỉ ra phép liệt kê được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất của đoạn trích.
Phép liệt kê được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất của đoạn trích: con vấp ngã, con ốm đau, con khóc quấy.
Em hiểu như thế nào về nội dung của hai dòng thơ sau:
mẹ sinh ra con giống như thân cây nảy mầm một chiếc lá đã có gốc rễ lo vun trồng…
- Hai dòng thơ cho ta nhận ra mẹ luôn chắt chiu những gì tốt đẹp cho con vì con là duy nhất của mẹ, con đón nhận tình yêu và sự bảo bọc của mẹ như một quy luật của tự nhiên
- Nhấn mạnh tình yêu thương vô điều kiện của mẹ đối với con.
Trong cuộc sống, có những đứa con đôi khi tìm cách từ chối những ân cần của cha mẹ. Ở vị trí của một người con, theo em điều đó đáng chê trách hay có thể cảm thông? Vì sao?
- HS lựa chọn câu trả lời: đáng chê trách hoặc có thể cảm thông, hoặc vừa đáng chê trách vừa có thể cảm thông.
- Lý giải hợp lý, thuyết phục: có thể lý giả theo các hướng sau:
+ Đáng chê trách vì nó thể hiện sự vô tâm, lạnh lùng của những đứa con trước tình yêu thương và sự quan tâm của cha mẹ.
+ Có thể cảm thông vì có lúc những ân cần, yêu thương của cha mẹ mang tính áp đặt, chưa có sự thấu hiểu tới những tâm tư tình cảm của con trẻ… từ đó dẫn đến việc con né tránh hoặc từ chối sự quan tâm của cha mẹ.
+ Vừa đáng chê trách vừa có thể cảm thông lý giải bằng cách kết hợp hai quan điểm trên.
Viết truyện kể sáng tạo.
Tại một vùng đất xanh mướt và yên bình nằm ở chân núi Hoàng Liên Sơn, có một ngôi làng nhỏ tên là Sa Pa. Ngôi làng này nổi tiếng không chỉ vì vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ mà còn vì những con người chăm chỉ và tận tụy sống trong đó. Một trong những người đáng nể phục nhất ở Sa Pa là anh thanh niên làm công tác khí tượng thủy văn.
Anh sống một mình trên đỉnh núi cao, nơi quanh năm mây phủ trắng xóa. Công việc của anh là quan sát và ghi chép các hiện tượng thời tiết, gửi báo cáo về trung tâm khí tượng ở thủ đô. Mỗi ngày, anh làm việc không ngừng nghỉ, bất kể mưa nắng, gió bão, chỉ để đảm bảo rằng mọi thông tin về thời tiết đều chính xác và kịp thời.
Một ngày nọ, có một đoàn du khách từ thành phố lên thăm Sa Pa. Trong đoàn có một nhà văn nổi tiếng, một họa sĩ tài năng và một cô kỹ sư trẻ. Họ lên đường khám phá vẻ đẹp của núi rừng và tìm hiểu cuộc sống của những con người nơi đây. Khi nghe kể về anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi, họ quyết định ghé thăm anh.
Khi đoàn du khách đến nơi, anh thanh niên vui vẻ chào đón họ bằng một nụ cười chân thành. Anh dẫn họ vào căn nhà nhỏ của mình, nơi anh sống và làm việc. Căn nhà tuy đơn sơ nhưng gọn gàng, ấm cúng, phản ánh tính cách cẩn thận và tỉ mỉ của anh.
Nhà văn, họa sĩ và cô kỹ sư lắng nghe anh kể về công việc và cuộc sống của mình. Họ vô cùng ngạc nhiên và cảm phục trước sự tận tụy và lòng yêu nghề của anh. Anh kể về những đêm dài không ngủ để theo dõi những cơn bão, những lần mạo hiểm để lấy mẫu không khí và nước, và cả những khoảnh khắc lặng lẽ khi chỉ có mình anh với thiên nhiên.
Cảm động trước câu chuyện của anh, nhà văn quyết định viết một cuốn sách về cuộc sống và công việc của những người như anh, những con người thầm lặng đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Họa sĩ vẽ một bức tranh tuyệt đẹp về anh đứng trên đỉnh núi, giữa bầu trời xanh thẳm và những đám mây trắng. Còn cô kỹ sư, cô không chỉ ghi chép lại những thông tin quý giá mà còn hứa sẽ mang câu chuyện của anh đến với những người trẻ ở thành phố, để họ hiểu và trân trọng những đóng góp âm thầm của những người làm công việc khoa học.
Khi đoàn du khách rời đi, anh thanh niên đứng lặng lẽ nhìn theo, lòng ngập tràn niềm vui và tự hào. Anh biết rằng những câu chuyện của mình sẽ không còn bị lãng quên, và những nỗ lực của anh sẽ được nhiều người biết đến và trân trọng.
Câu chuyện về anh thanh niên làm công tác khí tượng ở Sa Pa nhanh chóng lan truyền khắp nơi, trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao người. Họ học được từ anh bài học về sự kiên trì, lòng đam mê và tinh thần cống hiến. Và từ đó, Sa Pa không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp thiên nhiên mà còn với những con người tuyệt vời, thầm lặng cống hiến cho cuộc sống.
Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
Ông hoàng thơ tình Việt Nam đã viết lên bài thơ “Yêu” với xúc cảm chân thành, mãnh liệt, với một trái tim dành hết cho sức sống tuổi trẻ và tình yêu đôi lứa. Bài thơ Yêu được in trong Tuyển tập Tự lực văn đoàn vào năm 2004 với cảm hứng chính là cảm xúc của tác giả khi phải trải qua mối tình đơn phương, nhưng tình cảm ấy vô cùng đặc biệt, khiến người đọc ấn tượng sâu sắc. Đối với ông, yêu là “chết ở trong lòng một ít”, vì khi yêu ta dành hết trái tim mình, trọn vẹn suy nghĩ và tình cảm dành cho đối phương, khi không được đáp lại, thì trong lòng tan vỡ từng ngày. Những giây phút được hạnh phúc, được chìm đắm trong tình yêu đối với Xuân Diệu cũng như giây phút chia biệt đầy buồn thảm, ông sợ rằng khi mình đem lòng yêu một ai đó, không có điều gì đảm bảo tình yêu sẽ mãi tồn tại như vậy, nó sẽ dần dần phai nhạt và biến mất nếu như ta không vội vàng lên, nắm lấy và cảm nhận, sống cho trọn vẹn mình với tình yêu ấy. Xuân Diệu tự gọi tên chính mình và những người đang yêu khác là những kẻ cuồng si, trao hết trái tim mình cho người tình mang tên “tình yêu”, Bằng những hình ảnh thơ giàu sức gợi hình gợi tả, ngôn ngữ giản dị nhưng lại gợi sức liên tưởng vô cùng sâu sắc cho người đọc. Bạn đọc cảm nhận được những vẻ đẹp của tình yêu. Bài thơ xứng đáng là bài thơ hay nhất viết về chủ đề tình yêu và sẽ mãi neo đậu trong trái tim bạn đọc.
Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết.
Học giả Chu Quang Tiềm đã từng nói: “Kiến thức không chỉ nằm trong sách vở, nhưng đó vẫn là lối đi quan trọng của kiến thức”. Việc đọc sách là như viễn cảnh với tinh thần tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã qua, là việc thưởng thức những thành tựu của quá khứ. Thế nhưng, giới trẻ hiện nay lại ít chú trọng đến việc đọc sách, đặt sách ở vị trí thấp, và thậm chí là coi thường. Thực trạng đó đúng là đáng lo ngại.
Việc đọc sách giúp tiếp cận và tiếp thu kiến thức thông qua cẩn thận khi đọc nó. Qua sách, con người chiếm lĩnh tri thức trong cuộc sống, tự hoàn thiện bản thân, năng động và sáng tạo để đạt được thành công. Đọc sách là một hoạt động quan trọng trong cuộc sống con người. Để có kiến thức, cần phải đọc sách. Sống mà không chịu đọc sách là tự hạn chế cơ hội để thành công, là mất cơ hội sống một cuộc sống hạnh phúc. Đối với giới trẻ, đọc sách có thể mở ra cánh cửa cho tương lai.
Phần lớn giới trẻ ngày nay có vẻ lơ là với sách. Họ thường xuyên coi thường việc đọc sách, chưa có thói quen đọc sách một cách nghiêm túc và đúng đắn. Một số ít chỉ đọc theo phong trào hoặc đọc để khoe khoang kiến thức. Do đó, họ đọc nhanh, chủ yếu để giải trí hoặc để giết thời gian chứ không thực sự tập trung.
Trong việc đọc, giới trẻ còn chưa có sự lựa chọn sách đúng đắn, chưa có mục đích rõ ràng, hoặc đọc sách một cách cụ thể. Việc đọc sách trở nên chưa thực sự hữu ích. Một số lựa chọn sách có nội dung tầm thường, thiếu ý nghĩa để đọc. Thói quen này, cũng như đọc sách có nội dung có hại, nhanh chóng ảnh hưởng đến suy nghĩ tích cực và sức khỏe tinh thần của giới trẻ. Rời bỏ sách, giới trẻ thường xuyên lao đầu vào thế giới ảo với mạng xã hội và những trò giải trí vô bổ, thậm chí có hại.
Nhiều người nghĩ rằng đọc sách ở thời đại ngày nay là lạc hậu, khi mà internet phát triển mạnh mẽ, truy cập thông tin nhanh chóng và thuận tiện hơn. Họ coi sách giấy như thứ không hiệu quả, làm hại sức khỏe và không thể so sánh được với tiện ích của công nghệ. Điều này là quan điểm sai lầm vì thiết bị điện tử không chỉ gây hại cho sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng tập trung. Điều này khiến cho việc đọc sách trở nên không hiệu quả.
Nguyên nhân khiến giới trẻ lười đọc sách: Do họ chưa nhận thức đúng về vai trò và ý nghĩa của việc đọc sách đối với sự phát triển cá nhân. Đọc sách không chỉ giải trí, không chỉ là cách tiếp cận kiến thức mà còn là cách tăng cường khả năng tư duy, mở rộng tâm hồn, hiểu biết về bản thân và xã hội.
Người Việt truyền thống rất trân trọng sách và thích đọc sách. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ và mức sống tăng lên, giới trẻ ngày nay trở nên lười biếng hơn. Họ không có đủ hành động để phát triển thói quen đọc sách. Trước sức sống mạnh mẽ của công nghệ, quản lý thông tin kém, và áp lực từ nhiều kênh giải trí, giới trẻ dần dần mất đi niềm đam mê đọc sách.
Đời sống hiện đại với nhiều quán xá và trò chơi giải trí làm cho người ta quên mất việc đọc sách. Cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện ích khiến cho giới trẻ thích trải nghiệm cuộc sống hơn là nỗ lực tự rèn luyện. Việc đọc sách trở nên mệt mỏi, họ dễ bỏ cuộc và chuyển hướng sang thú vui dễ dàng hơn.
Văn hóa xã hội xuống cấp là nguyên nhân khiến nhiều bạn trẻ quên mất giá trị của việc đọc sách. Xã hội đánh giá cao vẻ ngoại hình hơn là tâm hồn, làm cho giới trẻ chạy theo vẻ đẹp bề ngoài hơn là trân trọng vẻ đẹp tâm hồn bên trong. Điều này khiến cho việc đọc sách trở nên không hữu ích đối với họ. Họ không hiểu rằng không đọc sách là đánh mất một phương tiện giải trí, thư giãn bổ ích. Không đọc sách là mất cơ hội để mở rộng kiến thức, tăng cường tư duy, phát triển tâm hồn và kĩ năng sống.
Muốn giới trẻ đam mê và có thói quen đọc sách, quan trọng nhất là họ phải nhận ra vai trò và ý nghĩa của sách đối với cuộc sống. Hãy nhớ rằng mỗi quyển sách, dù có dở nhưng vẫn chứa đựng những giá trị bổ ích. Người viết cần có trách nhiệm sáng tạo và viết những tác phẩm có giá trị, tránh việc viết dễ dàng và hời hợt. Nhà xuất bản cũng cần in ấn những quyển sách chất lượng, không chạy theo xu hướng, không chỉ vì lợi nhuận mà in ấn những quyển sách tầm thường.
Bộ văn hóa và thông tin cần phải tổ chức nhiều hoạt động để tạo điều kiện cho thanh niên tiếp xúc với sách hơn, mở tủ sách miễn phí tại nhiều nơi. Cần tổ chức ngày hội sách để giới thiệu những tác phẩm hay đến với độc giả, đặc biệt là giới trẻ. Giảm giá sách hay để kích thích mua và tạo cơ hội cho nhiều bạn trẻ có thể tiếp cận với sách hơn. Hãy biến phong trào đọc sách thành một phong trào xã hội.
Gửi lời nhắn đến giới trẻ ngay bây giờ đó là hãy trân trọng sách vì nó chính là nguồn kiến thức. Chỉ có kiến thức mới là con đường dẫn đến sự sống. Không đọc sách là tự tước đi những khoảnh khắc giải trí, bổ ích nhất. Không đọc sách là sống không biết ơn trước công lao của lớp lớp cha ông, là bỏ lỡ những tri thức mà họ đã sáng tạo và truyền đạt cho chúng ta. Hãy yêu sách, đọc sách và rút ra những giá trị từ sách để sách mãi là người bạn đồng hành thân thiết nhất của chúng ta. Nếu không đọc sách, dù bạn có đi qua ngàn dặm đường, đó cũng chẳng khác gì một người không có cánh tay để mở cánh cửa.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm kịch.
Shakespeare, nhà văn và nhà viết kịch thiên tài của Anh, để lại di sản lớn trong sự phát triển và hình thành của nghệ thuật kịch phương Tây. "Hamlet" là một trong những tác phẩm nổi bật, xoay quanh cuộc sống của thái tử Hamlet ở Đan Mạch. Sau khi biết tin vua cha qua đời khi chàng đang du học ở Đức, Hamlet chấp nhận thực tế đau lòng rằng mẹ chàng tái hôn với Claudius, chú ruột và là người mới lên ngôi vua. Một đêm, linh hồn của vua cha hiện về, tiết lộ rằng Claudius là kẻ giết hại ông. Linh hồn mong đợi Hamlet sẽ trả thù. Từ đó, Hamlet buộc phải giả điên để lừa dối kẻ thù và thực hiện sứ mệnh báo thù cho cha. Trích đoạn "Sống hay không sống?" nằm trong hồi III, khi Hamlet, dù giả điên, vẫn bộc lộ suy nghĩ và quan ngại về sự giả dối trong cuộc sống và sự sụp đổ của cung điện, tượng trưng cho sự hỗn loạn của toàn quốc. Những suy nghĩ đó thể hiện rất rõ qua đoạn độc thoại vủa Ham-lét.
Như chúng ta đã biết, độc thoại là hình thức đối đáp với chính bản thân mình hoặc ai đó trong tưởng tượng được hư cấu tạo dựng lên. Hình thức độc thoại cũng được thể hiện cất tiếng ra thành lời khi nhân vật nói chuyện. Độc thoại là một trong những hình thức biểu lộ rõ những điều mà các tác giả của các tác phẩm tự sự mong muốn gửi gắm tới độc giả của mình. Đó có thể là những cảm xúc đau đớn, bế tắc, vô vọng, ngăn cản, mâu thuẫn với chính bản thân mình. Đó có thể là những lời động viên bản thân không được bỏ cuộc, phải cố gắng theo đuổi nhiều hơn nữa. Hoặc đó có thể là nỗi nhớ, những mất mát về một ai đó, một nơi nào đó mà nhân vật luyến tiếc, tiếc nuối mong muốn hàn gắn,… Có rất nhiều điều mà tác giả muốn gửi gắm tới độc giả của mình, là những bài học bổ ích, là những lời khuyên mà cách tốt nhất chính là lựa chọn để cho nhân vật của chính mình tự độc thoại với chính bản thân nhân vật.
Khi các nhân vật phụ rút lui, Hamlet, nhân vật chính, xuất hiện trên sân khấu. Shakespeare đã trao cho Hamlet nhiều lời thoại để tiết lộ quan điểm của chàng về thực tế. Trong mắt người khác, những lời Hamlet nói dường như chỉ là tâm sự của một người bị tổn thương, nhưng với chính Hamlet, đây là cơ hội để thể hiện tâm trạng mình mà không cần phải e ngại sự quan sát của người khác. Những câu từ của chàng đã trở nên bất hủ, như: “Sống hay không sống – đó là vấn đề”. Chúng ta nên chịu đựng mọi thách thức của số phận hay nổi dậy chống lại những sóng gió khắc nghiệt? Chết chỉ là sự ngủ, không hơn thế. Và có thể, ngủ cũng chỉ là một giấc mơ.
Hamlet đắn đo về ý nghĩa của cuộc sống và cảm thấy áp đặt bởi câu hỏi: “Chúng ta nên sống để tồn tại hay chống đối?” Chàng ước ao thay đổi xã hội nhưng lại chọn giả vờ điên để bảo vệ tâm hồn. Điều này biểu thị sự tuyệt vọng và bất lực tột độ. Môi trường xung quanh Hamlet đều là giả dối và sự khao khát quyền lực, và chỉ có chàng nhận ra sự thật và đau đớn đó. Ngay cả khi đối diện với cái chết, Hamlet vẫn không thể trốn thoát khỏi sự áp đặt và bức bách của thời cuộc. Chàng phản ứng bằng cách phàn nàn: “Bởi vì, ai là người có thể chịu đựng những roi vọt và khinh khi của thời đại, sự áp bức của kẻ bạo ngược, hống hách … nếu không phải chỉ vì sợ một cái gì mênh mang sau khi chết, cả một thế giới huyền bí mà đã vượt biên cương thì không một du khách nào còn quay trở lại, nỗi sợ làm cho tâm trí rối bời và bắt ta phải cam chịu mọi khổ nhục trên cõi thế này còn hơn là bay tới những nỗi khổ nhục khác mà ta chưa hề biết tới?” Hamlet không chỉ nhận biết về thực tại mà còn nhận ra bản thân mình. Những ước mơ và tham vọng cao cả của chàng bị bóp méo bởi sự căm hận.
Đoạn độc thoại đã thể hiện sự đấu tranh nội tâm của Hamlet, một nhân vật với lòng nghĩa hiệp nhưng lại sống trong một thế giới đầy khó khăn và khủng hoảng. Điều này phản ánh mâu thuẫn giữa lý tưởng cao đẹp và thực tế đau lòng của thời đại. Những lời độc thoại của Hamlet không chỉ phản ánh tâm trạng và suy ngẫm tinh thần của nhân vật mà còn tạo nên sự phức tạp và đa chiều của họ tư tưởng nhân vật. Những lời thoại này cũng giúp khán giả hiểu rõ tình trạng tinh thần của nhân vật, đồng thời tạo nên sự sâu đậm của câu chuyện.
Tài năng điêu luyện của Shakespeare không chỉ là khả năng kể chuyện mà còn là sự tạo ra những tác phẩm nghệ thuật sinh động và đẳng cấp. Ông xây dựng những nhân vật sống động, phong phú với những tính cách đa dạng, tạo nên những tình huống kịch tính và hấp dẫn. Nhìn vào nhân vật Hăm-lét, ta thấy một ví dụ điển hình. Tâm trạng bi ai, mưu mẹo tinh vi, và đau khổ tinh tế của anh ta được thể hiện qua từng từ ngữ, từng hành động, từng lời độc thoại. Những tác phẩm kịch của Shakespeare không chỉ là một phần của quá khứ mà còn là những tác phẩm vĩ đại, sống động và ảnh hưởng đến ngày nay và trong tương lai.

