Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo có đáp án

A
Admin
VănLớp 942 lượt thi
41 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi :

QUẦN THỂ DI TÍCH CÓ ĐÔ HUẾ

- DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

(VOV5) - Với những giá trị mang tính toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.

Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945. Với những giá trị mang tinh toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.

Đại Nội Huế về đêm. Ảnh: https://wpd.vn/gia-tri-lich-su-dai-noi-hue-duoi-thoi-nha-nguyen/

Năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần phía bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện. Năm 1636, phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 thì dời về Phú Xuân - thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phủ Xuân trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn. Nhà sử học Lê Văn Lan cho biết: Các vị hoàng đế nhà Nguyễn, đặc biệt là hai vị hoàng đế đầu tiên là Gia Long và Minh Mạng đã rất có lý khi muốn Phú Xuân, khi chuyển Phú Xuân thành kinh đô Huế của cả nước Đại Nam. Huế lúc đó có vai trò cực kỳ quan trọng của một trung tâm đầu não về mặt chính trị của cả nước. Một triều đình rất công phu được xây dựng, mà đứng đầu là các vị vua chuyên chế, rồi các bộ máy và các hạng mục kinh thành cũng đã được thiết kế và ổn định..

Từ năm 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị. Có thể kể đến ở phía bờ Bắc của con sông Hương là hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn gồm ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử Cấm thành Huế lồng vào nhau, được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh [...]

Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An,... Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới tại Colombia năm 1993, UNESCO khi quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoả của nhân loại, đã khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế. Theo đó, quần thể di tích Cố đô Huế tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, là những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng, có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc.

(Thu Hoa - VOV5 20/5/2018)

https://vovworld.vn/vi-VN/viet-nam-dat-nuoc-con-nguoi/quan-the-di-tich-co-do-hue-di- san-van-hoa-the-gioi-645392.vov )
1. Tự luận
• 1 điểm

Xác định nội dung thông tin của văn bản.

Xem đáp án

Nội dung thông tin của văn bản

- Giới thiệu chung về Cố đô Huế.

- Giới thiệu lịch sử hình thành và cấu trúc của Cố đô Huế.

- Giới thiệu Cố đô Huế được UNESCO công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại (năm 1993)

2. Tự luận
• 1 điểm

Xác định loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản và nêu vai trò của chúng trong việc cung cấp thông tin về di tích Cố đô Huế.

Xem đáp án

- Loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: Hình ảnh.

- Vai trò: cung cấp hình ảnh một cách trực qua, làm người đọc dễ hình dung hơn về di tích Cố đô Huế cụ thể là hình ảnh Đại Nội Huế về đêm.

3. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới thể hiện những đặc điểm nào của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử?

Xem đáp án

Những đặc điểm của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử thể hiện trong văn bản là:

- Mục đích viết: Cung cấp thông tin về Quần thể di tích Cố đô Huế- di sản văn hóa thế giới.

- Cấu trúc: Có đầy đủ 3 phần: mở đầu, nội dung, kết thúc.

- Về hình thức: Sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính; sử dụng từ

ngữ chuyên ngành; hình ảnh minh hoạ; yếu tố miêu tả...

- Cách trình bày thông tin: Theo trật tự thời gian.

4. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích mối quan hệ giữa nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế- di sản văn hóa thế giới với các thông tin cơ bản của văn bản?

Xem đáp án

- Mối quan hệ giữa nhan đề và các thông tin cơ bản của văn bản chặt chẽ logic.

+ Các thông tin cơ bản trong văn bản đều cung cấp thông tin về di tích lịch sử Cá đô Huế và tập trung làm rõ nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới.

+ Nhan đề Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đã làm nổi bật và khái quát được nội dung của toàn văn bản.

5. Tự luận
• 1 điểm

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại, thông tin này tác động tới em như thế nào? Vì sao?

Xem đáp án

Thông tin: Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại, tác động tới em (Tác động đến tình cảm, nhận thức và hành động, HS có thể tham khảo gợi ý theo hướng sau.)

+ Em cảm thấy tự hào, yêu mến vì đất nước mình có di sản văn hóa được thế giới công nhận.

+ Em nhận thấy mình cần phải có trách nhiệm tìm hiểu và góp phần bảo vệ các di sản văn hóa của đất nước. Vì đó là trách nhiệm của công dân đối với di sản của đất nước.

+ Nếu có cơ hội em sẽ quảng bá di sản văn hóa Huế tới bạn bè trong và ngoài nước. Vì em mong muốn mọi người biết đến Huế và thu hút khách du lịch đến Huế.

+ Em sẽ tuyên truyền tới mọi người về việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản Cố đô Huế. Vì đây là việc làm thiết thực để bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời lời câu hỏi:

ĐỪNG VƯỢT KHÓ MỘT MÌNH

(1)Ý thức sâu sắc về mục đích sống, niềm hi vọng tràn đầy, niềm tin bền vững, niềm yêu thương và trân trọng bản thân, thái độ tích cực, lòng dũng cảm, tính kiên cường và khả năng làm chủ thay đổi sẽ đưa bạn đi suốt hành trình dài của cuộc đời. Tuy nhiên, không một ai độc hành trên đời này cả. Tôi đánh giá cao khả năng tự chăm sóc bản thân của tôi. Tôi đã nỗ lực để trở nên tự lập hết mức có thể. Nhưng tôi vẫn phụ thuộc vào những người xung quanh, và con người chúng ta, ai cũng phụ thuộc vào người khác ở mức độ đáng kể.

 (2) Người ta thường hỏi tôi: “Dựa dẫm nhiều vào người khác chẳng phải rất cực sao?”. Và tôi thường trả lời: “Bạn thẳng thắn đấy”. Dù bạn có ý thức được hay không, nhưng rõ ràng bạn cũng phụ thuộc vào những người xung quanh bạn nhiều gần như tôi dựa vào những người xung quanh tôi. Có một số việc tôi phải cần đến sự giúp đỡ của người khác mới thực hiện được, nhưng không ai trên trái đất này lại đạt được thành công mà lại không khai thác những lợi ích từ sự sáng suốt, lòng tốt hoặc sự giúp đỡ của người khác.

….

 (3) Bạn phải đủ khiêm nhường mới có thể tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác, cho dù đó là sự giúp đỡ từ một người chăm sóc, một người cố vấn, một thần tượng, hoặc một thành viên trong gia đình. Khi ai đó đủ khiêm nhường để tìm kiếm sự giúp đỡ, hầu hết mọi người đều đáp lại bằng cách chìa tay ra với người đó. Nếu bạn tỏ ra là người có tất cả mọi câu trả lời và bạn không cần bất cứ ai khác cả, thì bạn ít có khả năng thu hút sự ủng hộ và giúp đỡ từ người khác.

(4) Tất cả chúng ta đều cần có những mối quan hệ có thể khích lệ, giúp đỡ chúng ta trong khó khăn, thử thách. Tất cả chúng ta đều phải gắn bó với người ruột thịt. Để có được các mối quan hệ hiệu quả, chúng ta phải xây dựng lòng tin và phải chứng minh bản thân là người đáng tin cậy. Chúng ta phải hiểu rằng hầu hết mọi người về bản năng đều hành động theo lợi ích của bản thân, nhưng nếu bạn chứng tỏ cho người khác thấy rằng bạn quan tâm đến họ, thì hầu hết họ sẽ đối xử với bạn như bạn đã đối xử với họ.

(Theo Nick Vujicic, Sống cho điều ý nghĩa hơn, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2021, trang 86-88)

6. Tự luận
• 1 điểm

Luận đề của văn bản trên là gì?

Xem đáp án

Luận đề của văn bản trên là: Trong cuộc sống, con người cần biết dựa vào sự giúp đỡ của mọi người để vượt khó.

7. Tự luận
• 1 điểm

Câu văn “Ý thức sâu sắc về mục đích sống, niềm hi vọng tràn đầy, niềm tin bền vững, niềm yêu thương và trân trọng bản thân, thái độ tích cực, lòng dũng cảm, tính kiên cường và khả năng làm chủ thay đổi sẽ đưa bạn đi suốt hành trình dài của cuộc đời” có sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu.

Xem đáp án

- Câu văn sử dụng biện pháp tu từ liệt kê.

- Tác dụng: nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ý thức sâu sắc về các khía cạnh của cá nhân với chính mình và cộng động sẽ là cơ hội và động lực để mỗi người phát triển, bền bỉ vững bước trên đường đời.

8. Tự luận
• 1 điểm

Trong văn bản, tác giả dùng lý lẽ “Nếu bạn tỏ ra là người có tất cả mọi câu trả lời và bạn không cần bất cứ ai khác cả, thì bạn ít có khả năng thu hút sự ủng hộ và giúp đỡ từ người khác” để làm sáng tỏ cho luận điểm nào?

Xem đáp án

Tác giả sử dụng lí lẽ để làm sáng tỏ luận điểm: Bạn phải đủ khiêm nhường mới có thể tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác.

9. Tự luận
• 1 điểm

Câu “Tuy nhiên, không một ai độc hành trên đời này cả” có thể hiểu là gì?

Xem đáp án

Tác giả sử dụng lí lẽ để làm sáng tỏ luận điểm: Bạn phải đủ khiêm nhường mới có thể tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác.

10. Tự luận
• 1 điểm

Anh/ chị hãy nhận xét về thái độ của người viết về vấn đề được bàn.

Xem đáp án

Câu “Tuy nhiên, không một ai độc hành trên đời này cả” được hiểu là: Không ai phải đơn độc trong cuộc đời mà luôn có những người đồng hành.

11. Tự luận
• 1 điểm
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ trong đoạn (3).
Xem đáp án

- Biện pháp tu từ điệp ngữ: đủ khiêm nhường

- Tác dụng:

+ Biện pháp điệp ngữ tạo nhịp điệu, tạo liên kết, làm cho cách diễn đạt sinh động, hấp dẫn, lập luận thêm chặt chẽ, thuyết phục.

+ Nhấn mạnh, làm nổi bật vai trò của sự khiêm nhường trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ của mọi người xung quanh: phải là người khiêm nhường mới nhận sự giúp đỡ từ người khác và khi khiêm nhường, ta cũng dễ dàng lấy được thiện cảm và nhận được sự giúp đỡ của mọi người.

+ Qua đó, nhắn nhủ mỗi chúng ta trong cuộc sống cần biết khiêm nhường, nhất là những lúc cần có sự hỗ trợ từ mọi người.

12. Tự luận
• 1 điểm

Em có đồng tình với quan điểm: Tất cả chúng ta đều cần có những mối quan hệ có thể khích lệ, giúp đỡ chúng ta trong khó khăn, thử thách không? Vì sao?

Xem đáp án

- Nêu quan điểm: Đồng tình/ không đồng tình/ hoặc đồng tình một phần.

- Lý giải:

* Đồng tình vì:

+ Trong cuộc sống, khó khăn, thử thách là điều con người không thể tránh khỏi.

+ Có những khó khăn, thử thách quá lớn, vượt quá khả năng xử lý của cá nhân, khi đó con người rất cần có sự đồng hành, giúp đỡ của mọi người xung quanh.

+ Ai ai trong cuộc sống cũng có ít nhất một người khác sẵn sàng giúp đỡ khi ta gặp khó khăn, thử thách, đó có thể là một lời nói, ánh mắt, cử chỉ động viên, khích lệ, hay một bàn tay nắm lấy tay ta để truyền cho ta động lực, sức mạnh tinh thần,...

+ ...

* Không đồng tình vì:

+ Không phải tất cả mọi người đều cần sự giúp đỡ của người khác khi gặp khó khăn, thử thách.

+ Có những người vô cùng tự lập, giỏi giang, bản lĩnh, họ đủ can đảm, sức mạnh để tự mình giải quyết khó khăn, thử thách của chính mình.

+ Con người cần dựa vào chính mình thay vì trông đợi sự giúp đỡ từ mọi người, đó mới là tự lực, tự lập đáng được trân trọng.

+ ...

* Đồng tình một phần: Kết hợp các lý giải của hai quan điểm trên.

13. Tự luận
• 1 điểm

Từ nội dung văn bản, em rút ra những bài học gì để giúp bản thân tìm kiếm sự hỗ trợ từ mọi người xung quanh?

Xem đáp án

Từ nội dung văn bản, em rút ra cho bản thân những bài học để giúp mình tìm kiếm sự hỗ trợ từ mọi người xung quanh như:

- Biết khiêm tốn, khiêm nhường;

- Không tự cao, tự đại;

- Biết trân trọng sự giúp đỡ của người khác;

- Cần yêu thương, gắn bó với mọi người xung quanh, đặc biệt là người thân ruột thịt;

- Cần xây dựng được lòng tin với mọi người về bản thân mình;

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

ĐI ĐI EM

Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi

Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi!

Quên làm sao, em hỡi, lúc chia phôi

Bởi khác cảnh, hai đứa mình nghẹn nói.

 

Em len lét, cúi đầu, tay xách gói

Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te

Vẫn chưa thôi, lời day dứt nặng nề

Hàng dây tiếng rủa nguyền trên miệng chủ!

 

Biết không em, nỗi lòng anh khi đó?

Nó tơi bời, đau đớn lắm em ơi

Bàn chân em còn luyến tiếc không rời

Nơi em đã cùng anh vui phút chốc.

 

Những đêm tối, anh viết bài em học

Cho em quên bớt nỗi nhọc ban ngày

Nơi bao nhiêu âu yếm tuổi thơ ngây

Anh đã trút cho lòng em tất cả!

Em ngoái cổ nhìn anh ta chi trả

Thầm cho nhau đôi mắt ướt ly sầu

Biết làm sao, em hỡi, nói cùng nhau?

Tiếng chưởi mắng vẫn phun hoài, nhục nhã

 

Thì em hỡi! Đi đi, đừng tiếc nữa!

Ngại ngùng chi? Nấn ná chỉ thêm phiền!

Đi đi em, can đảm bước chân lên

Ừ đói khổ đâu phải là tội lỗi!

 

Anh mới hiểu: càng ngậm ngùi khổ tủi

Càng dày thêm uất hận của lòng ta

Nuôi đi em, cho đến lớn, đến già

Mầm hận ấy, trong lồng xương ống máu

 

Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu

Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng!

Huế, tháng 2-1938

(Thơ Tố Hữu, NXB Thời đại, 2014, tr.32-34)

14. Tự luận
• 1 điểm

Bài thơ Đi đi em được viết theo thể thơ nào? Chỉ ra đặc trưng về cách gieo vần, ngắt nhịp của thể thơ trong khổ thơ thứ nhất.

 

Xem đáp án

Bài thơ Đi đi em được viết theo thể thơ tám chữ. Đặc trưng về cách gieo vần, ngắt nhịp của thể thơ tám chữ trong khổ thơ thứ nhất:

- Vần chân: ơi - phôi

- Ngắt nhịp linh hoạt: 3/5 đan xen 3/3/2.

15. Tự luận
• 1 điểm

Tìm những chi tiết miêu tả nhân vật em Phước lúc ra đi được khắc hoạ ở khổ thơ thứ hai.

Xem đáp án

Những chi tiết miêu tả nhân vật em Phước lúc ra đi được khắc hoạ ở khổ thơ thứ hai:

- Em len lét, cúi đầu, tay xách gói.

- Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te.

16. Tự luận
• 1 điểm

Trong bài thơ, người anh đã hồi tưởng lại kỉ niệm với em Phước, qua đó cho thấy tình cảm người anh dành cho em Phước như thế nào?

Xem đáp án

Trong bài thơ, người anh đã hồi tưởng lại kỉ niệm với em Phước, qua đó cho thấy tình cảm người anh dành cho em Phước:

- Người anh rất thương yêu em Phước, thấu hiểu những bất hạnh của em phải đi làm công ở đợ khi còn rất nhỏ.

- Muốn tìm cách bù đắp phần nào cho em bằng việc dạy em học chữ, mang đến cho em những niềm vui trong học tập để quên bớt nhọc nhằn, vất vả em phải trải qua.

17. Tự luận
• 1 điểm
Hãy phân tích tác dụng của việc điệp lại cụm từ “đi đi em” trong bài thơ.
Xem đáp án

Tác dụng của việc điệp lại cụm từ đi đi em trong bài thơ:

- Tạo liên kết, tạo nhịp điệu giục giã, làm cho lời thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình gợi cảm, tăng hiệu quả diễn đạt.

- Nhấn mạnh, làm nổi bật nhan đề của bài thơ, cũng là mong muốn của nhà thơ dành cho em Phước: cổ vũ em hãy mạnh mẽ, quyết tâm bước đi, rời xa nơi mà em thường xuyên bị mắng chửi nhục nhã, bị hành hạ, bóc lột sức lao động.

- Qua đó, thể hiện tình thương yêu, sự thấu hiểu, đồng cảm của nhà thơ Tố Hữu với em Phước và rộng ra là với những kiếp người nghèo khổ, bất hạnh trong cuộc đời.

18. Tự luận
• 1 điểm

Ngày nay, chúng ta đã được sống trong hòa bình, no ấm, nhưng vẫn còn đâu đó những mảnh đời, những thân phận cơ cực, nghèo khổ. Bài thơ Đi đi em giúp em bồi đắp những tình cảm, thái độ gì với những con người kém may mắn như vậy?

Xem đáp án

Bài thơ Đi đi em giúp em bồi đắp những tình cảm, thái độ với những con người kém may mắn như:

- Biết cảm thông, thương xót những con người nghèo khổ, bất hạnh;

- Giúp đỡ, sẻ chia, động viên họ về vật chất, tinh thần trong khả năng của mình.

- Không chế giễu, khinh miệt hay ruồng rẫy họ.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

CHIM NGÓI

(Ngô Văn Phú)

Không hiểu từ đâu

Cứ mùa thu

Chúng bay về khắp cánh đồng,

siêng năng nhặt đỗ,

Những đàn chim ngói,

mặc áo màu nâu,

đeo cườm ở cổ,

chân đất hồng hồng,

như nung qua lửa.

Mang theo ngọn gió mùa đông bắc đầu tiên

Mùa màng bỗng rực rỡ lên,

những sắc màu đẹp nhất.

 

Chúng đem những tinh chất xa xôi từ những khoảng trời

Về hoà với sức mỡ màu của đất.

 

Hương đồng, hi vọng tràn trong mắt,

những tiếng cười bay dọc xóm vui.

 

Sao tôi thấy chúng giống những cô gái làng tôi,

Những cô gái báo hiệu những mùa màng bát ngát.

(Trích Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945 – 1975, NXB Tác phẩm mới, 1970, tr. 283)

19. Tự luận
• 1 điểm

Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Xem đáp án
Nhân vật trữ tình là nhân vật tôi.
20. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra những chi tiết, hình ảnh miêu tả vẻ bề ngoài của những đàn chim ngói mùa thu.

Xem đáp án

Những chi tiết, hình ảnh miêu tả vẻ bề ngoài của những đàn chim ngói mùa thu là: mặc áo màu nâu; đeo cườm ở cổ; chân đất hồng hồng.

21. Tự luận
• 1 điểm

Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong hai dòng thơ:

Chúng đem những tinh chất xa xôi từ những khoảng trời

Về hoà với sức mỡ màu của đất.

Xem đáp án

- Biện pháp nhân hoá: Chúng (những đàn chim ngói mùa thu) đem những tinh chất xa xôi từ những khoảng trời về hoà với sức mỡ màu của đất.

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh những đàn chim ngói siêng năng, chăm chỉ, quấn quýt với mùa màng, làm đẹp thêm cho những cánh đồng mùa thu.

+ Thể hiện sự gắn bó, tình yêu của nhân vật trữ tình dành cho những đàn chim ngói trên cánh đồng quê hương.

+ Làm cho cách diễn đạt thêm sinh động, giàu hình ảnh, gợi cảm xúc.

22. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình được thể hiện qua bài thơ.

Xem đáp án

- Nhân vật trữ tình có tâm hồn yêu thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên; có cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, giàu cảm xúc. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình được thể hiện qua việc cảm nhận vẻ đẹp và ý nghĩa của những đàn chim ngói bay đến những cánh đồng vào mùa thu.

- Nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình: Đó là một tâm hồn đẹp đẽ, tinh tế, được bắt nguồn từ sự quan sát, gắn bó và giao cảm với thiên nhiên. Trước vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình, em nhận thấy mình cần phải biết yêu thiên nhiên và trân trọng thiên nhiên quanh mình hơn.

23. Tự luận
• 1 điểm

Thông điệp sâu sắc nhất mà em rút ra qua bài thơ là gì? Vì sao?

Xem đáp án

HS chia sẻ một thông điệp sâu sắc qua đoạn trích và lí giải. Có thể:

- Cần giao cảm với thiên nhiên, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên quanh mình.

- Cần biết trân trọng và bảo về thiên nhiên quanh mình.

- Yêu quý và gắn bó với quê hương.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP

(Lược trích một phần: Thời Lê đời niên hiệu Vĩnh Thịnh (1) có vị Tiến sĩ trẻ tên Đinh Hoàn, người làng An Ấp, tỉnh Nghệ An (2). Đinh Hoàn lấy vợ lẽ là con quan họ Nguyễn, bà nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa khéo léo lại có tài thơ phú nên rất tâm đầu ý hợp với chồng. Có người vợ khuyên nhủ, người chồng càng mẫn cán và trở thành vị quan cần mẫn. Ông được cử đi sứ Trung Quốc, người vợ rất lo lắng cho sức khoẻ của chồng. Nhưng việc triều đình, ông vẫn phải dứt áo rời đi. Người vợ ở nhà thương nhớ, lo lắng khôn nguôi. Trên đường đi xứ, chẳng may ông mắc bệnh và qua đời. Linh cữu được đưa về nước, phu nhân họ Nguyễn đau đớn, viết bài văn tế chồng, trong đó ẩn ý muốn quyên sinh. Người nhà lo lắng khuyên can không được nên trông chừng bà rất cẩn thận. Thời gian trôi qua, phu nhân vẫn sống trong đau khổ, một hôm nằm mộng gặp được người chồng.)

Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình... Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sầu. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi mê. Trong cơn dật dờ đó, thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ hoá ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:

Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bi sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm tung tích của lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuấn Phi (3) có hội ngộ, Chức Nữ (4) lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!

Ông buồn nét mặt mà rằng:

- Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung không bao giờ thay đổi.

Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:

Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vĩ Ngọc Tiên (5) có duyên tái hợp, Dương Thái Chân (6) cơ ước lai sinh. Nàng không cần bị phiền vì nỗi hạc lánh gương ta, cái ngày chúng ta gặp nhau gần đến rồi.

Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng rồi.

 (Lược trích một đoạn: Sau đó, nhân một ngày cả nhà đi vắng, phu nhân đã quyên sinh. Bà được triều đình cho lập đền thờ, khắc chữ “Trinh liệt phu nhân từ”. Đền rất linh thiêng. Vài năm sau, có người thư sinh họ Hà hay thơ phú, ghé thăm đền và đề bài thơ. Bài thơ ngụ ý nói viên quan họ Đinh không có công trạng, nhờ người vợ thuỷ chung mà được thơm lây. Tối đó, khi về chỗ trọ, Hà sinh thấy có người con gái áo xanh đến báo có phu nhân mời tới trò chuyện. Đến một lầu son gác tía, Hà sinh mới hay phu nhân đó là chủ nhân ngôi đền. Phu nhân nói bài thơ của Hà sinh đề trên đền có ý chưa được đúng, xem thường tướng công của bà, nên kể rõ sự tình để Hà sinh thấu tỏ công đức của người chồng.)

Hà sinh nghe phu nhân nói xong, bỗng tỉnh ngộ, vội vàng đứng dậy tạ rằng:

- Tiểu sinh ham chơi sơn thuỷ, thích hứng rượu thơ, nhân lúc say sưa phóng bút viết bậy, thực sự biết đắc tội rất nặng với bậc tôn linh, nay tình nguyện nối lại nguyên văn để chuộc cái lỗi nói càn.

Phu nhân nói:

- Bằng lòng cho hoạ lại.

...

Mới viết xong hai câu, chợt nghe tiếng người con gái mặc áo vàng đứng ngoài điện bẩm rằng: 

- Thượng đế có chiếu chỉ với phu nhân, hiện xe loan đã sắp sẵn đợi ở ngoài rồi. Phu nhân đi rảo bước xuống thềm, ngoảnh lại bảo Hà sinh:

- Tiên sinh sau này phát đạt. Nhưng phải cẩn thận lời nói...

Hà sinh đứng dậy vâng lệnh lui ra, bỗng thấy mây lành bao phủ, gió thoang thoảng, phu nhân bước lên xe loan đi như bay...

 (Theo Đoàn Thị Điểm*, Truyền kì tân phả, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục tr.344-362)

Chú thích:

* Đoàn Thị Điểm là nữ sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Bà là người được đánh giá là bậc nhất về sắc đẹp lẫn tài văn trong những nữ sĩ danh tiếng nhất, bên cạnh là Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và Xuân Quỳnh. Bà là tác giả tập Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), và tác giả của truyện thơ Chinh phụ ngâm (bản chữ Nôm - 412 câu thơ) - được bà dịch từ nguyên bản Chinh phụ ngâm khúc (viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn).

(1) Vĩnh Thịnh: niên hiệu của Lê Dụ Tôn.

(2) Nay thuộc xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

(3) Thuấn Phi: vợ vua Thuấn, Nga Hoàng và Nữ Anh hai chị em (con vua Nghiêu), đều lấy Thuấn, khi mất làm thần sông Tương.

(4) Chức Nữ: Tích Ngưu Lang Chức Nữ, hàng năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7.

(5) Vĩ Ngọc Tiên: đời Đường, Vi Cao lúc hàn vi, ở trọ nhà họ Khương, chung tình với nàng Ngọc Tiên, Cao tặng nàng một cái vòng tay, hẹn 7 năm đến cưới làm vợ. Quá hạn không đến, nàng tự sát. Cách đó 13 năm, Cao được làm Tiết độ sứ Ba Thục, có người dâng một ca sĩ rất đẹp, tên Ngọc Tiên, Cao nhận rõ là diện mạo y như nàng Ngọc Tiên ngày trước.

(6) Dương Thái Chân: Dương Quý phi bị chết ở núi Mã Ngôi, sau lại tái sinh cùng với Đường Minh Hoàng kết làm vợ chồng lần nữa.

24. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Nhân vật chính trong truyện Người liệt nữ ở An Ấp là ai?

Phu nhân họ Nguyễn

Đinh Hoàn

Thư sinh họ Hà

Người con gái áo xanh

Xem đáp án
A. Phu nhân họ Nguyễn
25. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào sau đây là lời nói của nhân vật phu nhân họ Nguyễn?

Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung không bao giờ thay đổi.

Thượng đế có chiếu chỉ với phu nhân, hiện xe loan đã sắp sẵn đợi ở ngoài rồi.

Tiên sinh sau này phát đạt. Nhưng phải cẩn thận lời nói.

Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng rồi.

Xem đáp án
C. Tiên sinh sau này phát đạt. Nhưng phải cẩn thận lời nói.
26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Chủ đề chính của truyện Người liệt nữ ở An Ấp là gì?

Ca ngợi vị quan họ Đinh mẫn cán, hi sinh vì việc nước.

Ca ngợi tấm lòng thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ ở An Ấp.

Ca ngợi chàng thư sinh họ Hà hay thơ phú, biết nhận ra lỗi lầm và chuộc lỗi.

Ca ngợi triều đình biết nhìn người, trân trọng người có tài, có nghĩa.

Xem đáp án
B. Ca ngợi tấm lòng thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ ở An Ấp.
27. Tự luận
• 1 điểm

Cuộc gặp gỡ của phu nhân họ Nguyễn với Hà sinh giúp em hiểu thêm điều gì về người thiếu phụ An Ấp?

Xem đáp án

Cuộc gặp gỡ của phu nhân họ Nguyễn với Hà sinh giúp em hiểu thêm về người thiếu phụ An Ấp:

- Là người vợ rất thuỷ chung, yêu thương và tôn kính với chồng mình. Bà tìm mọi cách để giữ gìn thanh danh của chồng, ngay cả khi cả hai đã qua đời.

- Là người có tấm lòng khoan dung, độ lượng, không vì sự nông nổi, hỗn hào của Hà sinh mà đem lòng thù ghét.

28. Tự luận
• 1 điểm

Từ văn bản Người liệt nữ ở An Ấp, em có suy nghĩ, tình cảm gì đối với số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa?

Xem đáp án

Từ văn bản Người liệt nữ ở An Ấp, em có suy nghĩ, tình cảm đối với số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa:

- Suy nghĩ về số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa:

+ Chịu nhiều thiệt thòi khi phải lấy làm thê thiếp, phải chịu cảnh vợ chồng xa cách.

+ Thuỷ chung, son sắt, một lòng một dạ với người chồng.

+ Bao dung, vị tha, dẫu chết vẫn mong muốn những điều tốt đẹp cho chồng, cho mọi người.

- Tình cảm: Thấu hiểu, cảm thông và trân trọng người phụ nữ Việt Nam xưa.

29. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào sau đây không phải là nhận xét đúng về đặc điểm thể loại truyện truyền kì thể hiện trong văn bản?

Sử dụng nhiều điển tích, điển cố.

Con người cõi sống và cõi chết có thể tương giao, trò chuyện.

Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, hoang đường.

Nhân vật chính của truyện là thám tử chuyên phá án.

Xem đáp án

D. Nhân vật chính của truyện là thám tử chuyên phá án.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Mười ngày đã tới ải Đồng,

Minh mông(1) biển rộng đùng đùng sóng xao.

Đêm nay chẳng biết đêm nào,

Bóng trăng vằng vặc bóng sao mờ mờ.

Trên trời lặng lẽ như tờ,

Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn.

Than rằng: “Nọ nước kìa non,

Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?”

Quân hầu đều đã ngủ lâu,

Lén ra mở bức rèm châu một mình:

“Vắng người có bóng trăng thanh,

Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.

Vân Tiên anh hỡi có hay?

Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng”.

Than rồi lấy tượng vai mang,

Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.

                (Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu, trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1980)

* Chú thích:

(1) Minh mông: mênh mông (phát âm theo tiếng miền Nam)

* Bối cảnh đoạn trích: Kiều Nguyệt Nga được Lục Vân Tiên cứu khỏi đám cướp đã đem lòng yêu mến, tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên… Nghe tin Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng oán thù, tâu vua bắt Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. 

Đoạn trích trên ghi lại tâm trạng của Kiều Nguyệt Nga trên đường đi cống giặc Ô Qua.
30. Tự luận
• 1 điểm

Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Xem đáp án

Thể thơ: lục bát

31. Tự luận
• 1 điểm
Xác định thời gian được miêu tả trong đoạn trích.
Xem đáp án

Thời gian: đêm khuya/ ban đêm

32. Tự luận
• 1 điểm
Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích.
Xem đáp án

Các từ láy xuất hiện trong đoạn trích: mờ mờ, lặng lẽ, minh mông, đùng đùng, vội vàng.  

33. Tự luận
• 1 điểm

Hai câu thơ Than rằng: “Nọ nước kìa non/ Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?” cho thấy tâm sự gì của Kiều Nguyệt Nga?

Xem đáp án

Tâm sự của Kiều Nguyệt Nga qua hai câu thơ: Than rằng: “Nọ nước kìa non/ Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?”: Nỗi niềm tự thương bản thân, rồi nay không biết tương lai sẽ về đâu.

34. Tự luận
• 1 điểm

Bút pháp nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong đoạn trích là gì?

Xem đáp án

Bút pháp nghệ thuật của đoạn trích: Tâm trạng của nhân vật chủ yếu được thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình.

35. Tự luận
• 1 điểm

Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả không gian nơi mà Kiều Nguyệt Nga đang ở và nêu ý nghĩa, tác dụng của những từ ngữ, hình ảnh ấy?

Xem đáp án

- Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả không gian nơi mà Kiều Nguyệt Nga đang ở: Minh mông biển rộng, Bóng trăng vằng vặc, bóng sao mờ mờ, trời lặng lẽ như tờ, bóng trăng thanh.

- Ý nghĩa, tác dụng: Gợi không gian đêm yên tĩnh, vắng lặng đến mênh mông, ánh trăng sáng vằng vặc như soi tỏ nỗi buồn, nỗi cô đơn và tấm lòng chung thủy của Nguyệt Nga.

36. Tự luận
• 1 điểm
Nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga qua đoạn trích.
Xem đáp án

Vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích: đó là người con gái trọng tình nghĩa, son sắt, thủy chung và tiết hạnh, thà chết để “thủ tiết” với người cô yêu. Đó là tâm hồn cao quý, đáng ngợi ca.

37. Tự luận
• 1 điểm

Qua nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích, em có suy nghĩ gì về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến?

Xem đáp án

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

- Họ là những người phụ nữ đức hạnh, đẹp người đẹp nết nhưng số phận chịu nhiều bất hạnh trong xã hội phong kiến.

- Họ không được quyền làm chủ hạnh phúc của đời mình, bị xã hội phong kiến chà đạp về nhân phẩm, danh dự,…

- Họ là nạn nhân của những quan niệm phong kiến lạc hậu, khắt khe: trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức.

38. Tự luận
• 1 điểm

Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.

Xem đáp án

Ở trong Nhớ Rừng, Thế Lữ đã thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy bỏng tha thiết qua lời mượn của con hổ trong vườn bách thú. Đó cũng là tâm sự chung của những người Việt Nam yêu nước trong hoàn cảnh mất nước. Nỗi lòng của hổ là tâm sự của chàng thanh niên Thế Lữ mơ về cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ. Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ của Thế Lữ cũng như trong phong trào Thơ Mới, mang theo khát khao của con người muốn được sống chính là mình. Nhớ Rừng không thể thoát ra khỏi nỗi buồn, “tâm bệnh của thời đại” bấy giờ. Nhưng bài thơ đặc sắc chính bởi vì tạo nên điểm gặp gỡ giữa sự u uất của người dân mất nước và tâm trạng bất hòa bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản. Qua đó khơi lên niềm khát khao tự do chính đáng. Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Nhớ Rừng đã lan tỏa một hồn thơ hối thúc và nhiều hình ảnh thơ đầy ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. Thành công của Thế Lữ là đã thể hiện một trí tưởng tượng phong phú khi mượn hình ảnh con hổ trong vườn bách thú để nói hộ cho những tâm sự kín đáo sâu sắc của mình. Qua đó diễn tả nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, đồng thời khơi lên tình cảm yêu nước của người dân thuở ấy.

39. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học.

Xem đáp án

Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ lớn, một tài năng toàn diện đặc biệt bởi năng lực sáng tạo và thành công trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Ông viết tiểu tuyết, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học, viết kịch, soạn nhạc và sáng tác thơ, ở thể loại nào cũng tạo được dấu ấn đặc sắc. Trong bài thơ Lá đỏ, ông đã cho thấy những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. “Lá đỏ” là một trong số những bài thơ như thế được viết trước khi những đoàn quân Việt Nam bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, giải phóng hoàn toàn miền Nam nhưng đã tiên cảm được thắng lợi tất yếu của dân tộc.

Chỉ với 8 câu thơ mà Nguyễn Đình Thi đã tái hiện cả một cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc - cuộc hành quân trên đường Trường Sơn, tiến vào Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bài thơ là một bức tranh đẹp, là một bản nhạc trầm hùng trong lòng người ra trận. Ba hình ảnh chủ đạo của bài thơ: lá đỏ, em gái tiền phương và đoàn quân là sự đặc tả có sức khái quát cao về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta. Đặc biệt, hình ảnh lá đỏ tạo cảm giác mạnh, mang ý nghĩa biểu trưng cho những dự cảm, dự báo về thắng lợi tất yếu của dân tộc.

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

“Trên cao” trong câu thơ không chỉ nói về vị thế địa lý (dốc cao, đèo cao) mà còn hàm ý về vị thế trong tư tưởng, trong tình cảm. “Cao” ở đây còn là cao quý, cao cả.

Từ Trường Sơn ông đã nhận thức rõ mình và cũng chính là nhận thức được sức mạnh của nhân dân của dân tộc Việt Nam. Và hiển hiện trước mắt chính là một vẻ đẹp lạ lùng với ào ào lá đỏ. Và cũng chính là bao nhiêu lá đỏ cũng là bao nhiêu tâm tình. Chính những chiếc lá đỏ trên nền trời xanh ất đã chạm vào trái tim của nhà thơ. Nó làm nên trận mưa lá đỏ đổ xuống như chính sức sống của người Trường Sơn.

Câu tiếp theo “Rừng lạ, ào ào lá đỏ”. Từ “lạ” trong câu thơ đã gây ấn tượng mạnh, bởi lạ là vì mới gặp, lần đầu tiên thấy sắc đỏ rực lủa trong mùa Thu Tây Nguyên chăng? “Lạ” là một cảm giác rất đúng, rất chân thật”. “Lạ” vì giữa nơi chiến trường dữ dội như vậy lại xuất hiện những người em gái trẻ trung, mảnh mai nhưng rất đỗi kiên cường khi ngày đêm phải đối mặt với hiểm nguy dẫn đường cho xe băng qua những quảng đường khó và cái cảm giác lạ đó bỗng biến mất khi nhà thơ nhận ra hình của em thật gần gũi, thân thương bởi đó là em của quê hương, của nơi chốn ta quay về. Thêm nữa, hai từ “lộng gió” như lòng người rộng mở, niềm tin phơi phới chào đón những luồng gió cách mạng.

Nhân vật trữ tình đã đứng ở trên cao của dải Trường Sơn, nơi có thể nhìn được bao quát cả dãy Trường Sơn hùng vĩ và cảm nhận được sức mạnh của dân tộc Việt Nam: Rừng lạ ào ào lá đỏ. Ở đây có sự liên tưởng giữa lá đỏ và đoàn quân. Lá đỏ hay chính những trái tim rực lửa căm thù đang ào ào ra trận? Trường Sơn đại ngàn giữa mùa trở gió. Gió ào ạt thổi, trút lá đỏ rực trời. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn cuối, bước chân hành quân thần tốc của quân ta hối hả ra trận, bước chân đi mạnh mẽ, rung chuyển cả núi đồi, bụi đỏ bay mờ mịt nhòa trời lửa. Đoàn quân và lá đỏ hòa lẫn trong nhau, nhòa trong khói lửa Trường Sơn, đó là hình ảnh được khắc họa có tính mỹ thuật rất cao, thể hiện sự tài hoa của nhà thơ. Với ngôn ngữ chân thực và nhịp thơ mạnh mẽ, những câu thơ giản dị của Nguyễn Đình Thi đã khắc họa một quang cảnh, một không khí thật hào hùng, kỳ vĩ, mang màu sắc sử thi.

Đoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa

Con đường ấy đầy gian khổ, khắc nghiệt. “Đoàn quân vẫn đi vội vã” với muôn bước chân mạnh mẽ điệp trùng, hối hả, nối dài như rung chuyển núi rừng, làm “nhoà trời lửa”, đạp bằng khó khăn, vượt lên nắng nôi, lửa đạn để tiến lên phía trước. Câu thơ diễn tả quang cảnh cuộc hành quân hào hùng thần tốc, gợi lên một không khí sử thi ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt giải phóng hoàn toàn miền Nam.Trong bối cảnh chung đó hiện lên một hình ảnh đẹp, một biểu tượng về cuộc chiến tranh nhân dân –“em gái tiền phương”, nữ chiến sĩ giao liên hay cô gái thanh niên xung phong. Sự có mặt của cô gái trên đỉnh Trường Sơn nơi tuyến đầu Tổ quốc đã nhắc với mai sau về cuộc chiến đấu toàn dân tham gia, trong đó có những người con gái trẻ trung xinh đẹp mảnh mai, mà lẽ ra họ sinh ra để được sống yên bình.

Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mới - vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng, được tháo ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước. Đó là những cô thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn: “Em đứng bên đường như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường”. Hình ảnh “vai áo bạc” đã gợi ra biết bao tháng ngày mưa dầm nắng lửa ở núi rừng. Thế nhưng, những người con gái mảnh mai ấy vẫn vượt qua tất cả để có mặt chính tại đây, với súng trường quàng trên vai.

Nhưng đoàn quân nối dài vô tận không ngừng nghỉ, nhà thơ – người chiến sĩ chỉ kịp ghi nhận cái hình dáng quê hương rồi gửi lời chào và hẹn gặp:

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn

Người đứng lại bên đường như cột mốc, như điểm tựa và đoàn quân ra đi mang theo niềm vui phơi phới, niềm tin tất thắng. Sài Gòn, cái đích của cuộc tiến công đã rất gần, con đường đi đến chiến thắng chẳng còn bao xa. Sài Gòn, điểm hẹn của bao thế hệ Việt Nam. Lời chào, lời hẹn ấy chứa đựng nhiệt huyết của tuổi trẻ, của lý tưởng độc lập tự do, của niềm lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Những cuộc kháng chiến đã qua đi, thời gian cũng dần phủ bụi nhưng kí ức về những năm tháng ấy có lẽ không bao giờ có thể xóa nhòa. Nhiều năm sau, độc giả vẫn sẽ nhớ về những năm tháng ấy, nhớ về tuyến đường Trường Sơn “ào ào lá đỏ”, nhớ hình ảnh những cô gái tiền phương, những chàng trai chiến sĩ với những bước đi rung chuyển đất trời. Có lẽ vì vậy mà Balzac đã từng nói những người nghệ sĩ làm văn, viết thơ là “thư kí trung thành của thời đại”.

Bài 3:

Nói về văn hóa tâm linh của người Việt không thể không nhắc đến những đền chùa cổ kính, linh thiêng mang nét đẹp đặc trưng, trầm lắng, nơi bày tỏ niềm thành kính, biết ơn với người xưa, với tín ngưỡng tôn giáo. Một trong những ngôi chùa cổ, nổi tiếng của nước ta phải kể đến chùa Hương - danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa và tín ngưỡng của Việt Nam.

Chùa Hương hay còn gọi là Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp, nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 vào thời kỳ Đàng Trong - Đàng Ngoài, sau đó bị hủy hoại trong kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng Tọa Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hòa thượng Thích Thanh Chân.

Nơi đây gắn liền với với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba, theo phật thoại xưa kể lại rằng người con gái thứ ba của vua Diệu Trang Vương nước Hương Lâm tên là Diệu Thiện chính là chúa Ba hiện thân của Bồ Tát Quan Thế m, trải qua nhiều thử thách, gian nan với chín năm tu hành bà đã đắc đạo thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Dưới đôi bàn tay khéo léo của người xưa cùng với những nét đẹp tạo hóa mà thiên nhiên ban tặng, mà vẻ đẹp của chùa Hương mang một dấu ấn rất riêng, đưa ta đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến.

Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.

Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên.

Ở lối xuống hang động có cổng lớn, trán cổng ghi bốn chữ “Hương Tích động môn”. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán“Nam thiên đệ nhất động” là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Lễ hội chùa Hương được tổ chức vào ngày mồng sáu tháng giêng, thường kéo dài đến hạ tuần tháng ba âm lịch. Vào dịp lễ, hàng triệu phật tử cùng du khách tứ phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương.

Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch.Đây là ngày lễ khai sơn của địa phương nhưng ngày nay nghi lễ khai sơn được hiểu theo nghĩa mở- mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản.

Một ngày trước khi khai hội, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều được thắp hương nghi ngút.Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ.

Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo.

Đền Cửa Vòng là “chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần. Ta có thể thấy phần lễ là tổng hợp toàn thể hệ thống tín ngưỡng, gần như là tổng thể những tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam.

Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn.

Không chỉ có vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc, phong cảnh chùa cùng với nét đặc sắc của ngày lễ mà chùa Hương còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về văn hóa tâm linh, lịch sử dân tộc và còn là giá trị sống của chuỗi phát triển con người từ xa xưa đến ngày nay, cần được bảo tồn, duy trì và gìn giữ di sản mà ông cha ta để lại.

Như vậy, với những giá trị đó, chùa Hương chính là niềm tự hào của người Hà Nội nói chung và người Việt Nam nói riêng, đến với chùa Hương là đến với không gian thanh tịnh, sống chậm lại để cảm nhận sự nhẹ nhõm trong tâm hồn, buông bỏ mọi áp lực, căng thẳng trong cuộc sống ngoài kia.

40. Tự luận
• 1 điểm
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.
Xem đáp án

Nói về văn hóa tâm linh của người Việt không thể không nhắc đến những đền chùa cổ kính, linh thiêng mang nét đẹp đặc trưng, trầm lắng, nơi bày tỏ niềm thành kính, biết ơn với người xưa, với tín ngưỡng tôn giáo. Một trong những ngôi chùa cổ, nổi tiếng của nước ta phải kể đến chùa Hương - danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa và tín ngưỡng của Việt Nam.

Chùa Hương hay còn gọi là Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp, nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 vào thời kỳ Đàng Trong - Đàng Ngoài, sau đó bị hủy hoại trong kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng Tọa Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hòa thượng Thích Thanh Chân.

Nơi đây gắn liền với với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba, theo phật thoại xưa kể lại rằng người con gái thứ ba của vua Diệu Trang Vương nước Hương Lâm tên là Diệu Thiện chính là chúa Ba hiện thân của Bồ Tát Quan Thế m, trải qua nhiều thử thách, gian nan với chín năm tu hành bà đã đắc đạo thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Dưới đôi bàn tay khéo léo của người xưa cùng với những nét đẹp tạo hóa mà thiên nhiên ban tặng, mà vẻ đẹp của chùa Hương mang một dấu ấn rất riêng, đưa ta đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến.

Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.

Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên.

Ở lối xuống hang động có cổng lớn, trán cổng ghi bốn chữ “Hương Tích động môn”. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán“Nam thiên đệ nhất động” là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Lễ hội chùa Hương được tổ chức vào ngày mồng sáu tháng giêng, thường kéo dài đến hạ tuần tháng ba âm lịch. Vào dịp lễ, hàng triệu phật tử cùng du khách tứ phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương.

Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch.Đây là ngày lễ khai sơn của địa phương nhưng ngày nay nghi lễ khai sơn được hiểu theo nghĩa mở- mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản.

Một ngày trước khi khai hội, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều được thắp hương nghi ngút.Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ.

Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo.

Đền Cửa Vòng là “chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần. Ta có thể thấy phần lễ là tổng hợp toàn thể hệ thống tín ngưỡng, gần như là tổng thể những tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam.

Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn.

Không chỉ có vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc, phong cảnh chùa cùng với nét đặc sắc của ngày lễ mà chùa Hương còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về văn hóa tâm linh, lịch sử dân tộc và còn là giá trị sống của chuỗi phát triển con người từ xa xưa đến ngày nay, cần được bảo tồn, duy trì và gìn giữ di sản mà ông cha ta để lại.

Như vậy, với những giá trị đó, chùa Hương chính là niềm tự hào của người Hà Nội nói chung và người Việt Nam nói riêng, đến với chùa Hương là đến với không gian thanh tịnh, sống chậm lại để cảm nhận sự nhẹ nhõm trong tâm hồn, buông bỏ mọi áp lực, căng thẳng trong cuộc sống ngoài kia.

41. Tự luận
• 1 điểm

Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc.

Xem đáp án

Ngày xưa, trong dân gian đã lưu truyền một câu chuyện cảm động kể về một người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh nhưng lại phải chịu một nỗi oan ức lớn đến mức phải gieo mình tự vẫn nơi bến sông chỉ vì người chồng mang tính đa nghi, nhỏ nhen của mình. Câu chuyện mà người ta vẫn thường kể nhau nghe ấy mang tên “Vợ chàng Trương”, nhưng kết cục của câu chuyện dân gian này lại vô cùng bi thảm.

Vì tiếc thương cho nàng người phụ nữ nết na nhưng lại bạc mệnh, Nguyễn Dữ đã mượn cốt truyện trên để viết nên “Chuyện người con gái Nam Xương”. Những chi tiết trong truyện hầu như vẫn được giữ nguyên về cơ bản, nhưng ông đã thể hiện tinh thần nhân đạo của mình bằng cách tạo nên một cái kết đẹp hơn cho người phụ nữ cao đẹp ấy.

Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ xoay quanh cuộc đời và số phận của một người con gái đức hạnh nhưng cảnh đời lại đẩy vào nơi tối tăm của bi kịch - Vũ Thị Thiết. Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương, là con của một gia đình làm nông nghèo. Mẹ nàng mất từ sớm, trong nhà chỉ có hai cha con cùng nương tựa lẫn nhau và trải qua những tháng ngày bình lặng, hạnh phúc.

Khi nàng đến tuổi lập gia đình, đã được một chàng Trương vì thấy nàng đẹp người lại đẹp nết nên đã qua hỏi cưới. Nàng không yên tâm để cha già sống cảnh một mình, nhưng vẫn phải đồng ý lấy Trương Sinh trước những lời khuyên của cha. Trước khi nàng được gả đi, cha đã dặn dò nàng sang nhà chồng phải biết hiếu kính với nhà chồng, phải đảm đang việc nhà, làm tròn đạo dâu, đạo vợ. Nếu không, nàng sẽ chịu những điều tiếng không hay.

Một tuần sau, Vũ Thị Thiết đã chính thức trở thành vợ của Trương Sinh. Từ khi bước vào nhà họ Trương, nàng đã coi Trương Sinh là người chồng mà suốt đời mình sẽ yêu thương, gắn bó. Mẹ của chàng cũng chính là mẹ của nàng, nên nàng sẽ chăm sóc và phụng dưỡng như chính người thân máu mủ của mình.

Cuộc sống thời gian đầu hôn nhân cũng được coi là êm ấm. Nhưng rồi, biến cố đã xảy ra và chia cắt nàng với chồng. Cũng chính đây là nguồn cơn dẫn đến nỗi oan sâu nặng của nàng sau này.

Năm ấy, giặc Chiêm xâm lược nước ta, triều đình phải kêu gọi binh lính đi chiến đấu, mà Trương Sinh vì không học nên đã bị bắt đi lính. Buổi chia ly giữa Vũ Thị Thiết với Trương Sinh diễn ra một cách đầy nước mắt bởi sự lưu luyến, không muốn rời xa. Trương Sinh đã dặn dò nàng ở nhà phải chăm sóc, phụng dưỡng mẹ chồng chu đáo, đảm đương việc nhà chu toàn đợi chàng trở về.

Khi ấy, cả hai sẽ lại được đoàn tụ và cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc cho riêng mình. Dẫu rất buồn rầu, hơn ai hết nàng hiểu rõ sự nguy hiểm của chuyến đi này, và sự ác liệt của chiến tranh nào có buông tha ai bao giờ.

Nàng bày tỏ nguyện vọng của mình trong nước mắt, nàng chẳng cầu chồng mang áo gấm phong hầu trở về, chỉ mong rằng chồng nàng có thể bình an, mạnh khỏe mà quay về đoàn tụ với gia đình: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên là đủ rồi…”

Thế rồi, Trương Sinh lên đường ra trận. Trong nhà, Vũ Thị Thiết vừa chăm lo cho mẹ già, lại nuôi nấng cho đứa con nhỏ vừa mới sinh sau khi chồng đi. Nhưng nàng chẳng hề than thở hay trách cứ, nàng chỉ yên lặng chăm lo ruộng vườn, chăm lo người thân. Chuyện gì nàng cũng hoàn thành một cách chu toàn, không cầu được công nhận, chỉ mong ngày chồng trở về.

Mẹ chồng nàng bị ốm nặng, nàng cũng không kêu than mà rời mẹ nửa bước. Nàng cố gắng chăm lo mẹ, động viên mẹ vượt qua bạo bệnh, đợi này chồng trở về. Biết mình không thể qua khỏi cơn bệnh này, mẹ chồng nàng đã nói nàng không cần lãng phí tiền bạc nữa, nhưng nàng vẫn một mực chăm sóc đủ đầy, đến mức mẹ chồng nàng phải hết lời khen ngợi nàng là một người tốt và sau này nàng sẽ được hạnh phúc vì những đức tính tốt đẹp của mình.

Một thời gian sau, mẹ chồng Vũ Thị Thiết mất. Nàng đã lo cho việc hậu sự một cách chu đáo thay cho chồng. Ngôi nhà nhỏ giờ chỉ còn có hai mẹ con. Vì thấm thía nỗi đau không có được sự che chở trọn vẹn của cha và mẹ, nên nàng luôn mong muốn con được hạnh phúc, lại càng không muốn con phải ghen tị với bạn vì có cả cha lẫn mẹ.

Vì thế, nàng đã nghĩ ra một cách, đó là chỉ vào bóng của mình trên tường và dối con rằng đó là ba của Đản. Nhưng nàng cũng chẳng thể ngờ được, lời nói dối để con vơi đi nỗi nhớ cha, cũng giúp mình nguôi ngoai nỗi nhớ chồng lại đẩy nàng vào bi kịch với oan khuất nhất đời.

Trương Sinh trở về, nhưng bé Đản lại không nhận ông là cha. Chàng ta liền nói với Đản rằng mình là cha của bé, nhưng Đản lại kể với Trương Sinh về một người cha tối nào cũng đến thăm mẹ con bé. Vốn tính đa nghi, cộng thêm lời trẻ thơ dại, Trương Sinh liền nổi giận đùng đùng nghi ngờ vợ hư hỏng. Trong cơn giận dữ, Trương Sinh đã lớn tiếng chửi mắng, kết tội và đánh đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho nàng cố gắng giải thích và sự bao che của bà con làng xóm.

Vì quá đau khổ, nàng lại chẳng có cơ hội nào để giải thích, nên nàng đã đi ra sông Hoàng Giang trẫm mình tự vẫn để giải oan cho chính mình. Khi đó, nàng đã gặp được Linh Phi là vợ của đức Long Quân cứu giúp. Cuộc sống nàng lại bắt đầu với những ngày tháng sống cùng Linh Phi. Tưởng như nỗi đau năm nào đã nguôi ngoai, nào ngờ chỉ cần chạm nhẹ lại vào vết sẹo năm xưa, mọi ký ức lại hiện về

Nàng tình cờ gặp được một người bà con của mình ở đây. Nhớ lại nỗi oan chưa được giải của mình, nàng liền nhờ người đó chuyển lời đến Trương Sinh. Về phần Trương Sinh, sau khi biết được nỗi oan của vợ, Trương Sinh liền lập đàn trên sông Hoàng Giang để giải oan cho sợ. Vũ Thị Thiết hiện về giữa sông. Cảm thấy nỗi oan đã được giải trừ, nàng cũng chẳng hề oán trách chồng mình, nhưng cũng chẳng thiết tha trở về với cuộc sống cũ nữa. Vì thế, nàng đã nói lời cuối với Trương Sinh rồi biến mất trong lòng sông.

Cái kết của câu chuyện này có lẽ không quá có hậu, nhưng nó lại là cách hợp lý nhất giúp cho câu chuyện thêm phần đáng tin và không mất đi kết quả hiện thực. Nhưng dẫu sao, Vũ Nương trong chuyện cũng đã được giải oan. Đó chính là niềm an ủi lớn nhất, mang tính nhân văn sâu sắc nhất. Đồng thời, câu chuyện cũng chính là lời cáo buộc tội ác của xã hội phong kiến bất công, trọng nam khinh nữ đã cướp đi quyền được hạnh phúc của những người phụ nữ đẹp người đẹp nết.