Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 9 Cánh diều có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 9 Cánh diều có đáp án

A
Admin
VănLớp 939 lượt thi
40 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

CHUYẾN XE CUỐI NĂM

Chuyến xe lửa đêm ra Bắc hôm nay có vẻ hấp tấp vội vàng như người đi trốn nợ. Thỉnh thoảng đầu xe lại thét vội giữa quãng đồng không, xa nghe như hơi thở dài của đêm vắng.(...). Tâm ngồi dựa mình vào lưng chiếc ghế dài, gác chân lên rương, hai mắt lim dim muốn ngủ. Rải rác trong toa có thêm năm hành khách nữa, nhưng họ đã ngủ từ lâu. Tâm thấy giấc ngủ của họ dễ dàng quả mà thèm. Nhưng Tâm cũng không biết làm thế nào để ngủ được.

(...) Tâm buồn vì giữa lúc thiên hạ đang nô nức trong gia đình để đón xuân sang, Tâm lại ngồi trong một toa xe lạnh lẽo với chung quanh những gương mặt hững hờ. Buồn và tủi, Tâm muốn khóc để bao nhiêu nỗi khổ được tuôn ra. Nhưng Tâm vẫn không thể khóc được. Sau bao nhiêu năm lăn lộn trong cảnh làm ăn chật vật, Tâm đã cảm thấy lòng mình rắn rỏi và nước mắt không chảy được dễ dàng như xưa.(...)

Mấy người vùng quê mới vẳng nghe tiếng còi đã chạy ra giữa sân nhà đứng ngóng. Lúc thấy xa xa cặp mắt đèn đang khoét bóng đêm dày đặc, họ liền lẩm bẩm:

- Tàu hỏa đã đến. Thế là mười hai giờ; thế là đã qua năm khác.

Đi... Hành khách trong chuyến tàu này toàn là những người đã xa lạc gia đình. Suốt năm họ ăn cơm quán, ngủ nhà thuê rồi gần Tết họ lại tìm về quê hương của họ. Họ đến ở tạm ít hôm trong nhà người quen để lại đi và tự hứa thầm sang năm về nữa. Tâm cũng ở trong cảnh ngộ ấy.

Năm giờ sớm hôm sau, ánh sáng như đến chùi nhạt tất cả vẻ buồn đã sống lại trong lòng Tâm giữa đêm tối. Nắng gieo ngoài nội cỏ, nắng lướt trên dòng sông. Nhìn nắng, Tâm thấy lòng vui tươi hơn trước.

Cụ già ngồi bên cạnh Tâm lấy áo điều ra mặc. Mấy hành khách kia cũng tìm nước rửa mặt và choàng thêm áo mới đủ màu. Tâm thấy họ thay đồ mới cũng bắt chước làm theo. Tâm mở rương lấy chiếc "cravate" màu vàng đeo vào cổ và thay cái áo dạ đen đã bạc màu...

Từ toa cuối một thiếu phụ trẻ dắt đứa con trai lững thững đi lên. Mọi người quay lại nhìn thiếu phụ yên lặng. Thiếu phụ củi chào rồi mỉm cười:

- Chết! Có lẽ cháu là người đầu tiên đến xông rồi(...)

Một lát sau thiếu phụ tươi tỉnh:

- Các bác cho cháu đến ăn Tết ở đây cho vui. Ở toa cuối không có ai hết.

Cụ già vui vẻ: - Vâng, cứ tự nhiên, nhà chúng tôi cũng như nhà cô.

Cụ già nói đến chữ "nhà" với giọng thành thật đến như quên mình đang ở trong toa. (...)

Trời lại sáng, Tâm giật mình tỉnh dậy. Tâm lấy làm lạ là cụ già, thiếu phụ, và mấy hành khách kia không còn trong toa nữa. Tâm ngồi nhớ lại cảnh êm ấm của một gia đình tạm chiều hôm qua. Bên lòng Tâm như còn vương lại ít nhiều hương vị của ngày Tết. Tâm say sưa và lòng Tâm bát ngát. Nhưng Tâm còn muốn níu lại trong lòng thì hương vị ấy lại dần dần tan mất. Tâm thất vọng. Lòng Tâm lại lạnh như gió ngoài trời đã lạnh. Tâm bàng hoàng đứng dậy... Cảnh gia đình êm ấm chiều hôm qua đối với Tâm đã như một cảnh đoàn viên trong mộng. Tâm không tin có thật. Cũng như Tâm đã sợ không dám tin có gia đình.

 (Quê mẹ, Thanh Tịnh, Nhà in Đời Nay, tr. 48-49)

1. Tự luận
• 1 điểm

Câu chuyện trong truyện ngắn Chuyến xe cuối năm diễn ra ở không gian và thời gian nào?

Xem đáp án

- Không gian diễn ra câu chuyện là: trên toa tàu của chuyến xe lửa ra Bắc.

- Thời gian đều ra câu chuyện là: đêm giao thừa và buổi sáng đầu năm mới.

2. Tự luận
• 1 điểm

Câu chuyện kể về cảnh ngộ của những nhân vật nào?

Xem đáp án

Câu chuyện kể về cảnh ngộ của các nhân vật: Tâm và những hành khách trên chuyến tàu cuối năm.

3. Tự luận
• 1 điểm

Nêu tác dụng của việc kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn văn sau:

Từ toa cuối một thiếu phụ trẻ dắt đứa con trai lững thững đi lên. Mọi người quay lại nhìn thiếu phụ yên lặng. Thiếu phụ củi chào rồi mỉm cười:

- Chết! Có lẽ cháu là người đầu tiên đến xông rồi(...)

Một lát sau thiếu phụ tươi tỉnh:

- Các bác cho cháu đến ăn Tết ở đây cho vui. Ở toa cuối không có ai hết.

Cụ già vui vẻ: - Vâng, cứ tự nhiên, nhà chúng tôi cũng như nhà cô.

Cụ già nói đến chữ "nhà" với giọng thành thật đến như quên mình đang ở trong toa.
Xem đáp án

- Đoạn văn đã sử dụng kết hợp lời người kể chuyện như: Từ toa cuối một thiếu phụ trẻ dắt đứa con trai lững thững đi lên. Mọi người quay lại nhìn thiếu phụ yên lặng.

Thiếu phụ củi chào rồi mỉm cười... và lời nhân vật: - Chết! Có lẽ cháu là người đầu tiên đến xông rồi(...)

- Tác dụng của việc sử dụng lời người kể chuyện và lời nhân vật:

+ Lời người kể chuyện có tác dụng dẫn dắt, khắc họa rõ nét bối cảnh của các hành khách trên toa tàu, miêu tả dáng vẻ, cử chỉ bên ngoài của nhân vật, bộc lộ thái độ, tình cảm của tác giả.

+ Lời nhân vật có tác dụng bộc lộ rõ nét những suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc của nhân vật người thiếu phụ và của cụ già.

+ Sự kết hợp của lời người kể chuyện và lời nhân vật góp phần kể lại câu chuyện một cách chân thực, cụ thể, khắc họa rõ hơn tâm trạng, suy nghĩ của các nhân vật. Từ đó khiến cho câu chuyện có sự linh hoạt về điểm nhìn, đa dạng về giọng điệu góp phần tạo nên sức hấp dẫn của truyện.

4. Tự luận
• 1 điểm

Những dòng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật nhân vật Tâm trong đoạn trích, giúp em hiểu gì về nhân vật này?

Xem đáp án

- Những dòng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Tâm giúp em hiểu rõ hơn về cảnh ngộ của nhân vật này. Tâm là người xa lạc gia đình nhiều năm, phải tha hương kiếm sống. Trong đêm Giao thừa, Tâm một mình cô đơn trên toa tàu giữa những người xa lạ.

- Những dòng tâm trạng đó còn giúp em hiểu rõ hơn về tâm hồn của nhân vật Tâm. Tâm là người có tâm hồn tinh tế, đa sầu đa cảm. Tâm cũng luôn khao khát về một mái ám gia đình nhưng Tâm cũng rất mơ hồ và sợ không dám tin vào hạnh phúc.

5. Tự luận
• 1 điểm

Qua nội dung của đoạn trích, em có suy nghĩ gì về những con người lao động trong cuộc sống hôm nay?

Xem đáp án

- Cảnh ngộ của Tâm cùng những người hành khách trên toa tàu, đặc biệt là qua dòng tâm trạng của Tâm, cách ứng xử nhân văn của những người lao động nhỏ bé đã gợi trong em những suy nghĩ sâu sắc:

Cuộc sống hiện nay vẫn biết bao những số phận, những cảnh đời bất hạnh phải xa gia đình, tha hương cầu thực. Họ không chỉ phải lăn lộn đối mặt với cảnh làm ăn chật vật mà còn phải đối mặt với nỗi buồn, sự cô đơn mỗi dịp Tết đoàn viên.

+ Chúng ta cần phải biết thấu hiểu, đồng cảm và thương yêu, chia sẻ tới những con người có hoàn cảnh thiếu thốn vật chất, tinh thần. Và cũng cần biết trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, cách ứng xử đầy nhân văn của những người lao động lam lũ.

+ Chúng ta cần có tinh thần trách nhiệm, có những hành động thiết thực để chia sẻ, giúp đỡ những người lao động nghèo khổ, vất vả cả về vật chất lẫn tinh thần.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG QUẢNG BÌNH

VÀ VẺ ĐẸP XỨNG TẦM DI SẢN THẾ GIỚI

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình là điểm đến hấp dẫn bất cứ tin đồ du lịch nào. Nơi đây sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, những hang động với vẻ đẹp diệu kỳ, những cánh rừng nguyên sinh hoang sơ và vô số điều thú vị chờ bạn khám phá khi có cơ hội du lịch Quảng Bình.

1. Giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình

1.1. Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở đâu?

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nằm trong quần thể sinh thái Bắc Trường Sơn, thuộc địa phận 3 huyện là Bố Trạch, Minh Hoá và Quảng Ninh. Từ trung tâm thành phố Đồng Hới bạn cần di chuyển quãng đường khoảng 50km về phía Tây Bắc để đến được đây.

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình được đánh giá là 1 trong 238 hệ sinh thái quan trọng trên toàn cầu, sở hữu vùng Karst (dạng địa hình phong hóa đá vôi) rộng nhất thế giới với diện tích trên 200.000ha.

1.2. Diện tích Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có tổng diện tích lên tới 343.638,04ha. Trong đó vùng lõi được ước tính có diện tích khoảng 125.729,6ha, vùng đệm có diện tích khoảng 217.908,44ha.

2. Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Năm 2003, xét duyệt theo tiêu chi địa chất, địa mạo và năm 2015 xét duyệt theo tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái. Đây chính là niềm tự hào của Việt Nam nói chung và ngành du lịch nói riêng, đưa vẻ đẹp của thiên nhiên nước ta đến gần hơn với bạn bè quốc tế.

3. Những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng

3.1. Quần thể hang động có một không hai

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình sở hữu quần thể hơn 300 hang động lớn nhỏ được mệnh danh là kỳ quan đệ nhất động. Vì thế nơi đây đã thu hút rất nhiều các nhà khoa học chuyên nghiên cứu địa hình hang động và các nhà thám hiểm đến tìm hiểu về cách mà thiên nhiên đã tạo nên một kỳ quan có một không hai này ...

Hệ thống hang động tuyệt đẹp của vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng đã đưa nơi đây thành một trong những điểm du lịch “hot” nhất của Việt Nam

3.2. Hệ thống sông ngòi chằng chịt

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình là nơi có sông Troóc, sông Chày và sông Son chảy qua. Những dòng nước trong xanh len lỏi giữa vùng núi đá vôi đã tạo thành loại địa hình Karst rộng lớn nhất thế giới với vẻ đẹp như một bức tranh thuỷ mặc được vẽ nên bởi tạo hóa diệu kỳ...

3.3. Khu vực rừng nguyên sinh Phong Nha Kẻ Bàng"

...Rừng nguyên sinh tại Phong Nha Kẻ Bàng với độ che phủ gần như tuyệt

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng sở hữu khu rừng nhiệt đới nguyên sinh có độ che phủ lên đến trên 96,2%. Tại đây, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rất nhiều các loại thực vật đặc thù của địa hình rừng núi đá vôi như chò đãi, chò nước, trầm hương, nghiến, sao, ba kích v.v Đặc biệt, tại đây các nhà nghiên cứu còn tìm thấy nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như bách xanh đá, lan hài đốm, lan hài xanh, lan hài xoắn v.v.

3.4. Giá trị văn hóa và lịch sử

Bên cạnh các giá trị thiên nhiên cần được bảo tồn, Phong Nha Kẻ Bàng còn là nơi lưu giữ hệ di tích lịch sử và văn hoá có giá trị vô giá đối với ngành khảo cổ. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những dấu vết và hiện vật từ thời tiền sử, các công trình văn hóa Chămpa và Việt cổ, những di tích của căn cứ được xây dựng trong kháng chiến chống Pháp dưới thời vua Hàm Nghi, con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, Bến phà Xuân Sơn.

Quảng Bình đã góp phần thống nhất hai miền Nam Bắc v.v. Tất cả những điều này đã phản ánh bề dày của lịch sử ngàn đời dân tộc, khắc ghi những chiến công hiển hách và biết bao xương máu của các thế hệ ông cha ta đã đổ xuống để giành lấy độc lập và tự do cho đất nước.

(Tuyết Trịnh, MIA.vn Go Quảng Bình, ngày 26.09.2023) https://mia.vn/cam-nang-du-lich/vuon-quoc-gia-phong-nha-ke-bang-quang-binh-va-ve- dep-xung-tam-di-san-the-gioi-6020)

6. Tự luận
• 1 điểm
Văn bản đã trình bày những thông tin cơ bản nào?
Xem đáp án

Những thông tin trình bày trong văn bản: Giới thiệu về vị trí địa lí, diện tích và những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng.

7. Tự luận
• 1 điểm
Đặc điểm kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh được thể hiện qua các yếu tố nào?
Xem đáp án

Đặc điểm kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh được thể hiện qua các yếu tố:

- Sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính như là: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở đâu? Những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng...

- Một số từ ngữ chuyên ngành: đa dạng sinh học, sinh thái, địa hình Karst, rừng nhiệt đới nguyên sinh ...

- Hình ảnh minh hoạ.

8. Tự luận
• 1 điểm

Khi giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, tác giả có thái độ như thế nào?

Xem đáp án

Khi giới thiệu về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình - 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, tác giả có thái độ: Tự hào, trân trọng vẻ đẹp của Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng.

9. Tự luận
• 1 điểm

Những giá trị của Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng được nêu trong văn bản là gì?

Xem đáp án

Những giá trị của Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng được nêu trong văn bản: Giá trị về du lịch (Di sản thế giới); Giá trị về địa chất (nghiên cứu khoa học); Giá trị văn hóa và lịch sử.

10. Tự luận
• 1 điểm

Nhan đề Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình và vẻ đẹp xứng tầm di sản thế giới đã làm nổi bật và khái quát nội dung của văn bản chưa? Vì sao?

Xem đáp án

Nhan đề Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng Quảng Bình và vẻ đẹp xứng tầm di sản thế giới đã làm nổi bật và khái quát nội dung của văn bản vì: Từ nhan đề này, tác giả đã triển khai những điều làm nên Di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng như: quần thể hang động có một không hai; hệ thống sông ngòi chằng chịt; khu vực rừng nhiệt đới nguyên sinh; giá trị văn hóa và lịch sử...các thông tin trong bài đều cung cấp thông tin của khu danh lam thắng cảnh này.

11. Tự luận
• 1 điểm

Đọc xong văn bản, em có được những hiểu biết gì về Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng và còn muốn biết thêm những thông tin gì về địa danh nổi tiếng này?

Xem đáp án

- Thông qua văn bản, em biết được Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng là một kì quan thiên nhiên thế giới, là một thế giới sống sống động với những quần thể hang động có một không hai; hệ thống sông ngòi chằng chịt; khu vực rừng nhiệt đới nguyên sinh có độ che phủ lên đến trên 96,2%...Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng từ xưa đến nay và vấn đề bảo tồn di sản hiện.

- Ngoài ra, em còn muốn biết thêm về quần thể hang động, sự thay đổi của nay như thế nào.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Hi vọng và nguyện vọng không thể lẫn lộn với nhau được. Chúng ta có thể mang cùng một lúc hàng ngàn nguyện vọng đủ loại nhưng hi vọng thì chỉ có một mà thôi. Chúng ta mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho Rwanda tìm được nền hòa bình..., đây đều là những nguyện vọng cá nhân.

Hi vọng lại khác hẳn. Nó có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống. Giả sử cuộc sống hoàn toàn không có đích đến nào, mà chỉ là chuyển giao một cơ thể thối rữa xuống lòng đất thì sống để làm gì chứ. Hi vọng, chính là tin rằng trong cuộc đời có ý nghĩa nào đó.

Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc, hay danh dự. Có thể coi hi vọng là bản chất của chúng ta, cũng chính là lòng yêu thương lẫn nhau, là con đường dẫn đến tình yêu và niềm kiêu hãnh của bản thân cũng như người khác. Nếu con cho rằng tiếp tục giận dỗi mẹ giúp được con thì con cứ làm vậy đi. Nếu đó là cách con bảo vệ niềm kiêu hãnh của bản thân thì đương nhiên con phải làm thế rồi. Nhưng rốt cuộc chúng ta biết đâu lại đều là những người ngày còn bé vì muốn thể hiện mình không nhận được đủ tình yêu từ mẹ, mà kiên quyết từ chối cái kem mẹ mua cho dù rất thích. Con hiểu không? Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương.

(Dù con sống thế nào, mẹ cũng luôn ủng hộ con, Gong Ji Young, NXB Thời đại, 2014, tr 134)
12. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra luận đề của đoạn trích.

Xem đáp án

Luận đề của đoạn trích: Bàn về niềm hi vọng

13. Tự luận
• 1 điểm

Để làm nổi bật luận điểm không thể trộn lẫn hi vọng với nguyện vọng, người viết đã dùng những lí lẽ nào?

Xem đáp án

Để làm nổi bật luận điểm hi vọng khác với nguyện vọng, người viết đã dùng những lí lẽ:

- Có thể mang cùng một lúc hàng ngàn nguyện vọng nhưng hi vọng thì chỉ có một mà thôi.

- Hi vọng có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống.

14. Tự luận
• 1 điểm

Em hiểu ý kiến: “Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương” như thế nào?

Xem đáp án

Ý kiến Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương được hiểu là:

Sự ghét bỏ: không yêu thích một ai/việc gì đó, thậm chí là ruồng rẫy, dứt bỏ. Từ chối những thứ chúng ta yêu thích: chối từ, không đồng ý trước những thứ mà mình rất thích. Bị tổn thương: mất mát, đau đớn.

- Câu nói đã khẳng định: Cách để thể hiện sự ghét bỏ một ai đó là nói lời chối từ với những điều mà họ làm cho mình dù là điều mình yêu thích. Điều này gây ra tổn thương, khổ đau cho chính mình và cả đối phương.

- Từ đó, tác giả khuyên đừng cố từ chối những điều mà mình yêu thích chỉ vì ghét bỏ một ai đó. Điều đó sẽ làm cho mọi người tổn thương.

15. Tự luận
• 1 điểm

Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: Chúng ta mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho  Rwanda tìm được nền hòa bình...., đây đều là những nguyện vọng cá nhân.

Xem đáp án

- Biện pháp liệt kê: Liệt kê những nguyện vọng cá nhân: mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, mong cho Rwanda tìm được nền

hòa bình.

- Tác dụng: Nhấn mạnh rằng con người có thể có rất nhiều nguyện vọng cùng một lúc. Đó đều là những nguyện vọng cao đẹp của cá nhân. Giúp câu văn giàu nhịp điệu, sinh động, hấp dẫn.

16. Tự luận
• 1 điểm
Rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất với em khi đọc đoạn trích trên.
Xem đáp án

Học sinh nêu thông điệp có ý nghĩa với bản thân và lí giải. Sau đây là một gợi ý:

- Thông điệp có ý nghĩa nhất với em là: Cần sở hữu một niềm hi vọng có ý nghĩa.

- Vì: Niềm hi vọng cho ta cuộc sống có lí tưởng, có đích đến để không cảm thấy lạc lõng trong những bộn bề cuộc đời. Hi vọng còn tạo sức mạnh, động lực để ta vượt thử thách và được là chính mình với những suy nghĩ đích thực của mình...

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai.

Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.

Trong cửa này đã đành phận thiếp,

Ngoài mây kia hả kiếp chàng vay (1)?

 

Những mong cả nước vui vầy

Nào ngờ đôi ngả nước mây cách với.

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,

Chàng hả từng học lũ vương tôn (2).

 

Cớ sao cách trở nước non

Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu

Khách phong lưu đang chừng niên thiếu,

Sảnh nhau cùng dan díu chữ duyên.

 

Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,

Quan san để cách, hàn huyên cho đành (3)

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi (4) lại gáy trước nhà líu lo.

 

Thuở đăng đồ (5) mai chưa dạn gió,

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.

Nay đào đã quyến gió đông,

Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

(Theo Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm khúc, NXB văn học 2002, tr.35)

* Chú thích:

(1) Vay: tiếng đệm của câu than thở.

(2) Vương tôn: con nhà giàu sang, cũng có nghĩa là người đi chơi xa không đoái đến gia đình.

 (3) Quan san, hàn huyên: (quan: ải, san: núi, hàn: lạnh, huyên: ấm), ý nói cách trở, không biết tin tức của nhau.

(4) Ý nhi: chim én (yến) thường làm tổ trong mái nhà.

(5) Đăng đồ: lên đường ra đi nơi xa.

17. Tự luận
• 1 điểm

Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? Chỉ ra đặc điểm về số chữ, số dòng của thể thơ trong khổ thơ thứ nhất?

Xem đáp án

- Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ song thất lục bát.

- Đặc điểm về số chữ, số dòng của thể thơ trong đoạn thơ thứ nhất:

+ Khổ thơ gồm 4 dòng thơ.

+ Gồm một cặp lục bát và một cặp thất ngôn.

18. Tự luận
• 1 điểm

Tâm trạng của chinh phụ nảy sinh trong hoàn cảnh nào? Nêu một chi tiết giúp em nhận biết hoàn cảnh ấy?

Xem đáp án

- Tâm trạng của người chinh phụ nảy sinh trong hoàn cảnh: hai vợ chồng xa cách vì người chồng đi chinh chiến nơi xa lâu chưa có tin tức gì.

- Chi tiết giúp em nhận biết hoàn cảnh ấy: Thiếp trong cánh của chàng ngoài chân mây/ Nào ngờ đôi ngả nước mây cách với/ Cớ sao cách trở nước non/...

19. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong đoạn thơ:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

 

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió,

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.

Nay đào đã quyến gió đông,

Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

Xem đáp án

Biện pháp điệp ngữ được sử dụng đoạn thơ: Thuở...chưa... Hỏi ngày về...nay...

Tác dụng:

- Tạo liên kết, tạo nhịp điệu tha thiết, khắc khoải cho lời thơ, làm cho lời thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình gợi cảm, tăng hiệu quả diễn đạt.

- Nhấn mạnh, làm nổi bật khoảng cách thời gian của hai vợ chồng: ngày đi, người chồng ước hẹn sẽ trở về khi ước nẻo quyên ca, chỉ độ đào bông - đó là mùa xuân tươi đẹp; nhưng giờ quyên đã giục oanh già, đào đã quyển gió đông - mùa đông đã đến mà người chồng vẫn chưa có tin tức gì.

+ Qua đó, thể hiện nỗi nhớ nhung, mong ngóng và lo lắng của người chinh phụ cho người chồng. Đồng thời nói lên tấm lòng cảm thương, chia sẻ của nhà văn với tình cảnh nỗi niềm người chinh phụ.

20. Tự luận
• 1 điểm

Theo em nhan đề Chinh phụ ngâm khúc có phù hợp với nội dung tư tưởng của đoạn thơ trên không? Lý giải vì sao?

Xem đáp án

Theo em nhan đề Chinh phụ ngâm khúc rất phù hợp với nội dung tư tưởng của đoạn thơ trên.

Lý giải:

- Nhan đề được hiểu là: Khúc ngâm của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến ở xa.

- Nội dung tư tưởng của đoạn thơ là: diễn tả nỗi buồn của người chinh phụ do chiến tranh mà phải xa cách chồng, không có tin tức của chồng, nàng phải sống trong cô đơn, sầu nhớ, lo lắng. Tâm trạng của người phụ nữ đã trở thành một khúc bi ca, buồn sầu.

21. Tự luận
• 1 điểm

Đoạn thơ đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp ý nghĩa nào?

Xem đáp án

Đoạn thơ đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp ý nghĩa: Đồng cảm với số phận bi kịch, đáng thương của con người (người phụ nữ) trong xã hội cũ.

- Lên án tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải hứng chịu biết bao nỗi buồn khổ, mất mát.

- Yêu quý, trân trọng và có ý thức gìn giữ cuộc sống hoà bình mà mình đang có.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Sè sè nấm đất bên đường,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thể mà?”

Vương Quan mới dẫn gần xa:

“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1)

Nổi danh tài sắc một thì,

Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh(2)

Kiếp hồng nhan có mong manh,

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.(3)

 

Lòng đâu sẵn mối thương tâm,

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu(4) sa

“Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung(5).

Phũ phàng chi bấy hoả công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Sống làm vợ khắp người ta,

Khéo thay thác xuống làm ma không chồng!

Nào người phượng chạ loan chung,

Nào người tiếc lục tham hồng(6) là ai?

Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta thắp một vài nén hương.

Gọi là gặp gỡ giữa đường,

Họa là người dưới suối vàng biết cho.

Lầm rầm khấn vái nhỏ to,

Sụp ngồi đặt cỏ(7)  trước mồ bước ra.

Một vùng cỏ áy bóng tà,

Gió hiu hiu thổi một và(8) bông lau.

 

Rút trâm giắt sẵn mái đầu,

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Lại càng ủ dột nét hoa,

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2011, tr. 16 - 21)

* Chú thích:

(1)Ca nhi: người phụ nữ làm nghề hát xướng trong xã hội cũ.

(2) Yến anh: ở đây chỉ khách làng chơi (tấp nập tìm đến).

(3) Cành thiên hương: chỉ người đẹp. Ý cả câu: Tuổi đang độ nửa chừng xuân thì người đẹp bỗng chết. Thoắt: bỗng, chợt.

(4) Châu: tức châu lệ: chỉ nước mắt.

(5) Phượng: chim phượng trống. Loan: chim phượng mái. Loan phượng trong văn học cổ được dùng để chỉ tượng trưng đôi lứa vợ chồng. Cả câu ý hỏi những khách làng chơi từng qua lại với Đạm Tiên ngày trước.

(6) Tiếc lục tham hồng: ý nói luyến tiếc, ham mê nhan sắc của người đẹp.

(7) Đặt cỏ: đặt chút lễ viếng.

(8)Một và: một vài.
22. Tự luận
• 1 điểm
Nhận xét về cuộc đời nàng Đạm Tiên.
Xem đáp án

Cuộc đời nàng Đạm Tiên là cuộc đời bất hạnh, hẩm hiu của một kiếp đời hồng nhan bạc mệnh.

23. Tự luận
• 1 điểm

Liệt kê hai từ tượng thanh trong đoạn trích.

Xem đáp án

Hai từ tượng thanh trong đoạn trích: lầm rầm, xôn xao,...

24. Tự luận
• 1 điểm

Hai câu thơ Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung được hiểu như thế nào?

Xem đáp án

Hai câu thơ Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung được hiểu là: Lời than về số phận bạc mệnh, bất hạnh của người phụ nữ.

25. Tự luận
• 1 điểm
Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
Xem đáp án

Nội dung chính của đoạn trích: Thể hiện tâm trạng của Thúy Kiều trước số phận bi kịch của nàng Đạm Tiên.

26. Tự luận
• 1 điểm
Tác giả thể hiện tình cảm, thái độ gì qua đoạn trích trên?
Xem đáp án

Qua đoạn trích, tác giả thể hiện tình cảm, thái độ:

- Đồng cảm, xót thương đối với những người phụ nữ hồng nhan, bạc mệnh nói riêng và thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung.

- Lên án những bất công của xã hội phong kiến chà đạp thân phận con người.

- Thể hiện ước mơ về một xã hội mà ở đó người phụ nữ được đối xử công bằng.

27. Tự luận
• 1 điểm

Theo anh/chị, quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung có còn đúng với xã hội hiện nay không? Vì sao?

Xem đáp án

HS bày tỏ ý kiến về quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Sau đây là một hướng trả lời:

- Quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung không còn đúng với xã hội hiện đại ngày nay.

Lí giải: Vì xã hội hiện đại ngày này đề cao quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Người phụ nữ không phải chịu những bất công, áp bức như trong thời kì xã hội phong kiến mà được làm chủ cuộc sống, số phận của mình. Người phụ nữ trong xã hội hiện đại đã và đang phát huy vai trò, giá trị của mình không chỉ trong gia đình mà còn ngoài xã hội, được nam giới và toàn xã hội ghi nhận.

Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Mười ngày đã tới ải Đồng,

Minh mông(1) biển rộng đùng đùng sóng xao.

Đêm nay chẳng biết đêm nào,

Bóng trăng vằng vặc bóng sao mờ mờ.

Trên trời lặng lẽ như tờ,

Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn.

Than rằng: “Nọ nước kìa non,

Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?”

Quân hầu đều đã ngủ lâu,

Lén ra mở bức rèm châu một mình:

“Vắng người có bóng trăng thanh,

Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.

Vân Tiên anh hỡi có hay?

Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng”.

Than rồi lấy tượng vai mang,

Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.

                (Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu, trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1980)

* Chú thích:

(1) Minh mông: mênh mông (phát âm theo tiếng miền Nam)

* Bối cảnh đoạn trích: Kiều Nguyệt Nga được Lục Vân Tiên cứu khỏi đám cướp đã đem lòng yêu mến, tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên… Nghe tin Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng oán thù, tâu vua bắt Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. 

Đoạn trích trên ghi lại tâm trạng của Kiều Nguyệt Nga trên đường đi cống giặc Ô Qua.
28. Tự luận
• 1 điểm

Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Xem đáp án

Thể thơ: lục bát

29. Tự luận
• 1 điểm
Xác định thời gian được miêu tả trong đoạn trích.
Xem đáp án

Thời gian: đêm khuya/ ban đêm

30. Tự luận
• 1 điểm
Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích.
Xem đáp án

Các từ láy xuất hiện trong đoạn trích: mờ mờ, lặng lẽ, minh mông, đùng đùng, vội vàng.  

31. Tự luận
• 1 điểm

Hai câu thơ Than rằng: “Nọ nước kìa non/ Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?” cho thấy tâm sự gì của Kiều Nguyệt Nga?

Xem đáp án

Tâm sự của Kiều Nguyệt Nga qua hai câu thơ: Than rằng: “Nọ nước kìa non/ Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?”: Nỗi niềm tự thương bản thân, rồi nay không biết tương lai sẽ về đâu.

32. Tự luận
• 1 điểm

Bút pháp nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong đoạn trích là gì?

Xem đáp án

Bút pháp nghệ thuật của đoạn trích: Tâm trạng của nhân vật chủ yếu được thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình.

33. Tự luận
• 1 điểm

Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả không gian nơi mà Kiều Nguyệt Nga đang ở và nêu ý nghĩa, tác dụng của những từ ngữ, hình ảnh ấy?

Xem đáp án

- Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả không gian nơi mà Kiều Nguyệt Nga đang ở: Minh mông biển rộng, Bóng trăng vằng vặc, bóng sao mờ mờ, trời lặng lẽ như tờ, bóng trăng thanh.

- Ý nghĩa, tác dụng: Gợi không gian đêm yên tĩnh, vắng lặng đến mênh mông, ánh trăng sáng vằng vặc như soi tỏ nỗi buồn, nỗi cô đơn và tấm lòng chung thủy của Nguyệt Nga.

34. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga qua đoạn trích.

Xem đáp án

Vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích: đó là người con gái trọng tình nghĩa, son sắt, thủy chung và tiết hạnh, thà chết để “thủ tiết” với người cô yêu. Đó là tâm hồn cao quý, đáng ngợi ca.

35. Tự luận
• 1 điểm

Qua nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích, em có suy nghĩ gì về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến?

Xem đáp án

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

- Họ là những người phụ nữ đức hạnh, đẹp người đẹp nết nhưng số phận chịu nhiều bất hạnh trong xã hội phong kiến.

- Họ không được quyền làm chủ hạnh phúc của đời mình, bị xã hội phong kiến chà đạp về nhân phẩm, danh dự,…

- Họ là nạn nhân của những quan niệm phong kiến lạc hậu, khắt khe: trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức.

36. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích một tác phẩm thơ.

Xem đáp án

Trong nền thơ hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Khuyến có một vị trí thật vẻ vang. Ông là nhà thơ của những bài thơ Việt Nam đích thực, những bài thơ mà ở đó, những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ Việt Nam thuần khiết, giản dị và đẹp đẽ. Trong những bài thơ ấy, cần phải nói (tên một bài thơ không mấy ai không biết: bài Khóc Dương Khuê).

Xét cho cùng, tình bạn giữa hai người Nguyễn Khuyến và Dương Khuê vốn không phải là một tình bạn thật hoàn toàn như ý. Tuy đỗ cử nhân cùng khoa thi với Nguyễn Khuyến, rồi đỗ tiến sĩ, cùng làm quan cho triều Nguyễn, nhưng sau năm 1884, năm đất nước thật sự mất vào tay thực dân Pháp, Dương Khuê lại không có được cái chí như Nguyễn Khuyến. Không cáo quan về làng, Dương Khuê tiếp tục làm quan cho triều đình tay sai thực dân cho đến tận lúc qua đời ở tuổi 64 (1902).

Tuy vậy, nói thế là để nhìn rõ hết mọi chuyện. Người Việt Nam ta vẫn có câu: nghĩa tử là nghĩa tận. Cái chết đột ngột của Dương Khuê đã thật sự li: một nỗi đau cho Nguyễn Khuyến. Lúc ấy, quên hết mọi điều, ông chỉ còn biết một điều duy nhất: ông đã mất một người bạn thân, mất một nguồn tình cảm quý giá không thế lấy gì thay thế được. Lúc ấy, tự đáy lòng, từ nột tình bạn mà hình như chính ông cũng không thể đo lường hết chiều sâu, Nguyễn Khuyến đã chợt kêu lên những tiếng kêu thảng thốt:

Bác Dương thôi đã, thôi rồi,

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta.

Hầu như không có một chút văn chương chữ nghĩa nào trong hai dòng thơ trên, đặc biệt là dòng thơ thứ nhất. Chỉ có nỗi đau, nỗi đau chân thành, trọn vẹn, tự mình thể hiện ra thành lời. Hai tiếng “thôi” dân dã và tự nhiên, cứ như bật lên từ lời nói của một người dân quê bình dị nào đó.

Đặt câu thơ này vào trong hoàn cảnh xã hội mà sự “cao nhã“ luôn luôn được coi là một yêu cầu hàng đầu của văn chương, ta càng thấy ở đây sự chân được nhà thơ coi trọng đến chừng nào. Nói đến cái chết, ông không dám động đến từ “chết”. Trời đất cao dày ơi lẽ nào chuyện ấy đã đến thật rồi sao? “Thôi đã... thôi rồi”! Thế là hết! Thật thế rồi! Một kẻ quyền quý ngày xưa khi lỡ tay làm rơi mất viên ngọc lưu li độc nhất vô nhị trong thiên hạ, có lẽ cũng chỉ kêu lên đau đớn đến như thế là cùng. Không đau nỗi đau thật, làm sao có thể khóc một tiếng khóc thật như thế được.

Có điều là, với nỗi đau, Nguyễn Khuyến không thét lên, tiếng khóc của người là khóc với mình, khóc cho tự mình nghe, tiếng khóc lắng vào lòng. Tâm hồn vốn giản dị, ông chúa ghét sự ồn ào. Lúc này ông muốn ngồi một mình, đối diện với bạn, cùng nhắc lại tình bạn, cùng bạn ôn lại những gì đã từng có giữa hai người. Đã có bao nhiêu là kỉ niệm. Từ những ngày tưởng đã rất xa xôi:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Những sớm hôm tôi bác cùng nhau,

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời

Đó là kỉ niệm khi hai người vừa mới lần đầu gặp nhau trong khoa thi Hương và cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến quê ở Bình Lục, Hà Nam, Dương Khuê quê ở Vân Đình, Hà Đông, hai người vốn chẳng quen biết gì nhau. Thế mà, cứ như duyên trời định sẵn, tình bạn đã bắt đầu gắn bó từ đây.

Chữ nghĩa của Nguyễn Khuyến sao mà bình dị đến thế, nôm na, thân mật đến thế! Nào là “lúc sớm hôm”, rồi là "tôi bác", với những “cùng nhau”... Nhà thơ cũng xác định cái nhìn đầu tiên của mình về người bạn: đó là lòng kính yêu trọn vẹn, “kính yêu từ trước đến sau". Cùng với giọng kể lể chân thành như thế, nhà thơ nhắc lại với bạn về những kỉ niệm khác:

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo

Có khi từng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Kỉ niệm giữa đôi bạn như thế quả là rất nhiều, rất đậm. Họ đã từng cùng trải qua những giờ phút thú vị, chứng tỏ họ là những người bạn ý hợp tâm đầu, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui thanh cao của kẻ tao nhân mặc khách. Nhắc lại những kỉ niệm đó, tâm hồn nhà thư như còn rung cảm vì tiếng suối “róc rách lưng đèo nơi “dặm khách” xa xôi.

Nhà thơ như cùng đang sống lại với những cảm giác thích thú “nơi từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn, tiếng hát của các đào nương. Có người sẽ hỏi: nhà thơ Nguyễn Khuyến mà cũng đi hát ả đào sao? Thi có gì đâu mà nhà thơ không đi hát ả đào! Hát ả đào là một thú vui trong xã hội phong kiến. Có lúc thú vui này bị người ta lợi dụng (thì trên đời thiếu gì điều tốt đẹp bị người ta lợi dụng).

Tuy vậy, đối với đa số nhà Nho, đó lại là nơi để thưởng thức cái đẹp của lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, cũng là nơi di dưỡng tâm hồn sau những tháng ngày gò mình trong khuôn khổ của chốn công danh, vốn được sáng tác để cho các đào nương hát lên đó sao?

Nguyễn Khuyến không có những bài thơ như vậy, nhưng rõ ràng là ông đã không thể quên “thứ vui con hát”, bởi đó là thú vui được “lựa chiều cầm xoang”, trải lòng mình theo tiếng đàn, tiếng hát. Là đôi bạn đến với nhau, thân nhau vì lòng mến mộ lẫn nhau, tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê thật là chỗ tri âm tri kỉ, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”:

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp,

Chén quỳnh tương ăm áp bầu xuân,

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau.

Nói về việc cùng bạn uống rượu mà nhà thơ dùng từ "nháp”, lại “cùng nháp” thì thật chính xác và tinh tế, bởi đây là việc uống rượu của người “uống cho vui”, chứ không phải kiểu uống của các bợm rượu. Nhà thơ có lần đã tự nói về khả năng uống rượu của mình:

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè.

(Thu ẩm)

Chén các cụ dùng uống rượu ngày xưa là loại chén rất nhỏ, thường được gọi là “chén hạt mít”. Nói “nhấp” tức là uống từng hớp nhỏ, như chỉ vừa chạm môi vào, vừa uống vừa ngẫm nghĩ, vừa uống vừa thưởng thức cái vị đậm, cái mùi thơm của rượu. Rượu uống chỉ như thế nhưng lại “ăm áp bầu xuân”.

Bầu xuân này là bầu rượu và cũng là “bầu thơ“, bầu rượu đầy cho bầu thơ càng thêm lai láng. Hai tiếng “ăm ắp” mà nhà thơ dành cho bầu xuân” thật gợi cảm và sảng khoái. ‘‘Người thanh cái tiếng cũng thanh”, đến cách chơi cũng cho ta biết được bản chất con người, không phải bất kì ai cũng có được cái “rượu ngon cùng nhấp” ấy, nhất là cái căm nhận “ăm áp bầu xuân” ấy.

Thật là những ngày vui. Nhưng cũng có những ngày buồn, rất buồn. Đó là những ngày nước mất. Là nhà Nho, cùng phụng sự cho một triều đại, đôi bạn cùng chung chia sẻ nỗi đau của thời đại mình:

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn

Phận đấu thăng chẳng dám than trời

Bác già, tôi cũng già rồi

Biết thôi thôi thế thì thôi mới là!

Những câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc lên nghe thật buồn bã, ngao ngán. Nói “buổi dương cửu” để chỉ thời kì loạn lạc khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà thơ coi đó như là một vận hạn mà đất nước và con người phải trải qua. Không làm gì được trước vận hạn ấy, nhà thơ chỉ còn một cách lựa chọn là rời bỏ công danh, chẳng còn dám tham cái lộc trời “thăng đấu” của kẻ làm quan. Nhà thơ nói như một kẻ an phận mà nghe ra thật đau đớn.

Ông cảm thấy mình bất lực, cảm thấy mình đã già. Đặc biệt câu thơ cuối đoạn, có đến ba từ "thôi” trùng diệp, khác nghĩa nhau mà như cùng một nghĩa, bổ sung cho nhau, tạo ra ấn tượng về một tâm trạng cam chịu thật nặng nề: Biết thôi- thôi - thế thì thôi. Đúng là tâm trạng của nhà thơ khi cáo quan về làng và cho đến cả những năm sau này: đau buồn trước cảnh nước mất nhưng không có thể làm gì cho đất nước ngoài việc từ quan để khỏi làm việc cho kẻ thù.

Qua 16 dòng thơ, Nguyễn Khuyến đã nhắc lại một cách cô đọng và đầy đủ về mối quan hệ bạn bè giữa đôi bạn Nguyễn Khuyến - Dương Khuê, đặc biệt là độ sâu, độ bền của tình bạn đó. Những kỉ niệm đã được nhà thơ nói tới mọt cách giản dị nhưng đầy trân trọng. Nhắc lại những kỉ niệm ấy, ôn lại và ngẫm nghĩ về tình bạn ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi đau mà mình phải chịu hôm nay thật là một điều vô lí. Ông chưa bao giờ hình dung ra sự mất mát có thể xảy đến vào lúc này. Nhà thơ nhớ lại:

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác

Trước ba năm gặp bác một lần

Cầm tay hỏi hết xa gần

Mừng rằng bác hãy tinh thần chưa can.

Xét về mặt văn chương, bốn dòng thơ trên không phải là những câu thơ thật mới lạ sắc sảo, bởi những câu thơ ấy sao mà nôm na bình thường, nào la “tuổi già thêm nhác”, rồi lại “hỏi hết xa gần”, với lại “tinh thần chưa can”, cứ như lời lẽ cua một ông lão quê mùa nào đó ở vùng đất Hà Nam. Thì đúng vậy, Nguyễn Khuyến có làm văn chương đâu, ông chỉ bộc lộ nỗi niềm của mình! Nhà thơ còn tự mình lí sự với mình:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác

Tôi lại đau trước bác mấy ngày

Làm sao bác vội về ngay

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời!

Chỉ khi người ta đau đớn thật lòng, người ta mới có kiểu lí sự như vậy. Như thế có khác gì nói rằng: Tại sao bác lại chết trước tôi nhỉ? Người chết trước lẽ ra phải là tôi chứ? Chính từ những lí sự này, mấy tiếng cuối cùng của đoạn thơ nổi lên thật chân thành và ai oán: Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời! Trước nỗi đau dã là sự thật, nhà thơ đành chấp nhận nồi đau và càng thấy điều này là thật vô lí:

Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua.

Cái chết là một quy luật không ai có thể phủ nhận được. Tuy vậy, trong trường hợp này, Nguyễn Khuyến vẫn tìm thấy sự vô lí: Cái chết của người bạn đã đến một cách vội vã quá, nó cướp mất của ông một người bạn hiền và như thế, cũng cướp mất của ông tất cả mọi niềm vui. Câu thơ của ông nói về trường hợp riêng của mình, nghe thật giản dị mà vang lên nhơ một chân lí về tình bạn đích thực ở đời:

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Trong hai dòng thơ, từ “không” xuất hiện đến năm lần như những cái lắc đầu buồn bã. Không còn bạn, không còn thiết uống rượu, bởi không còn người để chia sẻ vị ngon của rượu. Không còn bạn, không còn hứng thú làm thơ, bởi vì sao?

Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa?

Lắc đầu bằng những tiếng “không”, đến đây nhà thơ tiếp tục lắc đầu bằng những câu hỏi. Hỏi cũng là để nói “không”. Thơ viết ra mà không có người thưởng thức được, cảm thông được, thì còn viết làm gì? Âm “iết” láy đi láy lại trong hai dòng thơ, rồi hai tiếng “ai”, hai tiếng “đưa” trung điệp (đưa ai - ai biết - mà đưa” cứ mở ra, khép lại, rồi lại mở ra, như một nỗi day dứt khôn nguôi.

Nhà thơ nghĩ đến những mối tình bạn mà sách vở xưa kia đã từng ca ngợi, coi nhơ tuyệt đỉnh của tình bạn: Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi bạn ra về thì treo giường lên, không để cho ai ngồi vào cái giường chỉ dành riêng để tiếp bạn; Bá Nha sau khi Chung Tử Kì chết thì quyết bỏ không chơi đàn bởi thấy không còn ai hiểu được tiếng đàn. Ông thay mối tình giữa ông với Dương Khuê chính là một tình bạn như thế; sự mất mát của ông sau cái chết của Dương Khuê đúng là sự mất mát như thế:

Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn

Có thể lấy gì để bù đắp vào sự mất mát này không? Nhà thơ đã khẳng định rằng không. Chỉ còn một cách, như người ta vẫn thường làm, là tìm cho mình một cách an ủi. Rằng người chết không còn có thể sống lại được, rằng nước mắt xót thương cũng sẽ chẳng giúp được gì... Nguyễn Khuyến muốn dùng cái lẽ thường ấy của đời sống để tự an ủi mình:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở

Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương

Nhà thơ còn tự khuyên bảo mình:

Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Nhà thơ khuyên mình không nên khóc, bởi tuổi già còn ít nước mắt lắm, chỉ như những hạt sương mong manh thôi, làm sao có thể ép cho nước mắt tuôn chảy thành hai hàng chứa chan được. Nhưng nói như thế là nói lí. Tự nhà thơ vẫn hiểu rằng không thể “lấy nhớ làm thương” được, và càng hiểu ràng hai hàng nước mắt chứa chan của ông lúc này đâu phải do ông “ép lấy”. Mỗi chữ trong thơ ông đều đẫm đầy nước mắt, những hạt lệ từ một nỗi đau lớn, từ một tình bạn lớn.

Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt giản dị, tự nhiên, đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.

37. Tự luận
• 1 điểm
Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học.
Xem đáp án

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi của nhà thơ không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vang xa trên thi đàn thế giới. Sở dĩ tác giả đạt được niềm vinh quang đó là vì ông đã có một sự nghiệp sáng tác giá trị, trong đó xuất sắc nhất là Truyện Kiều – tác phẩm lớn nhất của nền văn học Việt Nam. Cảm hứng nhân đạo và vẻ đẹp ngôn từ của truyện thơ này đã chinh phục trái tim bao thế hệ bạn đọc trong gần hai trăm năm qua. Đọc đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, chúng ta càng cảm phục bút pháp miêu tả cảnh vật giàu chất tạo hình và man mác xúc cảm của tác giả:

“Ngày xuân con én đưa thoi,

……

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Bên cạnh nghệ thuật tả người, nghệ thật tả cảnh là một thành công đặc biệt của “Truyện Kiều”. Bút pháp ước lệ tuy nghiêng về sự gợi tả, kích thích trí tưởng tượng của người đọc nhưng vẫn giú ta hình dung rất rõ về bức tranh thiên nhiên mùa xuân tười đẹp và tâm trạng của người du xuân trong giây phút trở về. Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian của một cuộc du xuân. Bốn dòng thơ đầu là khung cảnh mùa xuân. Tám dòng thơ tiếp theo là cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Và sáu dòng thơ cuối là cảnh và nỗi lòng của chị em Thúy Kiều lúc bóng chiều buông xuống.

Mở đầu, Nguyễn Du đã phác họa một bức tranh mùa xuân thật ấn tượng. Không gian, thời gian hiện ra trong hai dòng thơ khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc:

“Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.

Khung cảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Giữa bầu trời cao rộng, từng đàn chim én rộn ràng bay lượn như chiếc thoi trên khung dệt vải. Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi bước đi của mùa xuân tương tự cách nói trong dân gian “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa / Hết mưa lại nắng, hết ngày lại đêm”. Xung quanh tràn ngập “ánh thiều quang” – ánh sáng tươi đẹp – đang rọi chiếu lên toàn cảnh vật. Ánh nắng mùa xuân có nét riêng, không nóng bức như mùa hè cũng không dịu buồn như mùa thu mà trái lại, tạo một cảm giác tươi vui, trẻ trung, mới mẻ trong sự nồng ấm của những ngay đầu năm. Thời gian đầu năm trôi qua thật nhanh làm sao! Cho nên cả hai câu thơ vừa miêu tả cảnh thiên nhiên tươi sáng đồng thời thể hiện niềm tiếc nuối trước sự trôi nhanh của thời gian. Thoắt một cái đã cuối xuân rồi, cái đẹp của mùa mở đầu một năm sắp hết.

Chỉ bằng một câu thơ lục bát, bức họa xuân hiện ra đẹp đến không ngờ

“Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Cách viết của Nguyễn Du khiến ta không phân biệt được đâu là thơ, đâu là họa nữa. Thảm cỏ xanh non trải ra mênh mang đến “tận chân trời” là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền xanh mượt mà ấy được điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Đây chính là cái hồn, cái thần, là nét vẽ trung tâm của bức tranh. Tiếp thu từ câu thơ cổ trung Quốc: “Phương thảo liên thiên bích / Lê chi sổ điểm hoa” (Cỏ thơm liền với trời xanh / Trên cành lê có mấy bông hoa), Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo khi thêm màu trắng vào câu thơ. Cả một không gian xuân hiện lên khoáng đạt, trong trẻo vô cùng. Màu sắc có sự hài hòa đến mức tuyệt diệu. Chỉ hai màu thôi mà có thể gợi nên vẻ mới mẻ, tinh khôi, tươi sáng, trẻ trung đầy thanh khiết đến như vậy. Tính từ “trắng” kết hợp với động từ “điểm” đã thể hiện được cái đẹp, cái sống động của câu thơ lẫn bức tranh xuân, gợi hình ảnh lay động của hoa làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh lại. Những đường nét mềm mại, thanh nhẹ, sắc màu không sặc sỡ mà hài hòa, không tả nhiều mà vẫn gợi được vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Phải là người sống chan hòa với thiên nhiên, cỏ cây và nhất là có tâm hồn rung động tinh tế, thi nhân mới có thể viết được những câu thơ nhẹ nhàng mà đầy biểu cảm tuyệt vời đến thế. Dường như Nguyễn Du đã thay mặt tạo hóa dùng ngòi bút để chấm phá bức tranh nghệ thuật cho riêng mình. Nhà thơ Hàn Mặc Tử trong bài “Mùa xuân chín” cũng đã ít nhiều ảnh hưởng Nguyễn Du khi vẽ cảnh mùa xuân:

“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,

Bao cô thiếu nữ hát trên đồi”.

Đoạn thơ có sự chuyển tiếp nhịp nhàng, tự nhiên. Từ khung cảnh mùa xuân tươi mới, êm đềm ấy, nét bút của Nguyễn Du bắt đầu tập trung khắc họa những hoạt động của con người. Họ là những người đi tảo mộ, đi chơi xuân ở miền quê kiểng. Và trong lễ hội dập dìu đó có những nhân vật của Nguyễn Du – chị em Thúy Kiều – đang thong thả chơi xuân:

“Thanh minh trong tiết tráng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.

Tiết Thanh minh vào đầu tháng ba, khí trời mát mẻ, trong trẻo. Người người đi viếng, quét dọn, sửa sang và lễ bái, khấn nguyện trước phần mộ tổ tiên. Sau “lễ tảo mộ” là đến “hội đạp thanh”, khách du xuân giẫm lên cỏ xanh – một hình ảnh quen thuộc trong các cuộc chơi xuân đầy vui thú ở chốn làng quê. Cách sử dụng điệp từ “lễ là”, “hội là” gợi ấn tượng về sự diễn ra liên tiếp của các lễ hội dân gian, niềm vui tiếp nối niềm vui.

Không khí lễ hội rộn ràng, huyên náo bỗng hiện ra thật sinh động trong từng dòng thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu:

“Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngừa xe như nước áo quần như nêm”.

Tài năng của Nguyễn Du được thể hiện qua cách báo mà còn giúp người đọc cảm nhận được những trông mong, chờ đợi của chị em Kiều. Trong lễ hội mùa xuân, nhộn nhịp nhát là những am thanh nữ tú, trai thanh gái lịch vai sánh vai, chận nối chân nhịp bước. Họ chính là linh hồn của ngày hội. Cặp tiểu đối “tài tử”/”giai nhân”, “ngựa xe như nước”/”áo quần như nêm” đã khắc họa rõ nét sự hăm hở của tuổi trẻ. Họ đến với hội xuân bằng tất cả niềm vui sống của tuổi xuân. Trong đám tài tử giai nhân ấy có ba chị em Thúy Kiều. Có lẽ, Nguyễn Du đã miêu tả cảnh lễ hội bằng đôi mắt và tâm trạng của hai cô gái “đến tuổi cập kê” trước cánh cửa cuộc đời rộng mở nên cái náo nức, dập diu từ đó mà ra. Toàn bộ dòng người đông vui, tưng bừng đó tấp nập ngựa xe như dòng nước cuốn, áo quần đẹp đẽ, thướt tha đống đúc “như nêm” trên các nẻo đường. Thật là một lễ hội tưng bừng, sang trọng và phong lưu.

Cái hay, cái khéo của Nguyễn Du còn được thể hiện ở chỗ chỉ bằng vài nét phác thảo, nhà thơ đã làm sống lại những nét đẹp văn hóa ngàn đời của người Phương Đông nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Lễ tảo mộ, hội đạp thanh không chỉ là biểu hiện đẹp của lòng biết ơn tổ tiên, của tình yêu con người trước cảnh sắc quê hương, đất nước mà còn gợi lên một vẻ đẹp của đời sống tâm linh với phong tục dân gian cổ truyền:

“Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”.

Người đã khuất và người đang sống, quá khứ và hiện tại như được kéo gần lại. Ta nhận ra một niềm cảm thông sâu sắc mà Nguyễn Du đã gởi vào những dòng thơ: có thể hôm nay, sau hơn hai trăm năm, suy nghĩ của chúng ta có ít nhiều thay đổi trước cảnh: “Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay” thế nhưng giá trị nhân đạo được gửi gắm vào những vần thơ của Nguyễn Du vẫn làm ta thực sự xúc động.

“Ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Cuộc vui nào rồi cũng đến lúc tàn. Buổi du xuân vui vẻ cũng dã tới chỗ phải nói lời tạm biệt. Vẫn là cảnh mùa xuân, vẫn là không khí của ngày hội lễ, nhưng bây giờ là giây phút cuối ngày:

“Tà tà bóng ngả về tây,

…………

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.

Nếu câu thơ mở đầu của “Cảnh ngày xuân” chan hòa ánh sáng “thiều quang” thì đến đây, hoàng hôn dường như bắt đầu nhuốm dần xuống phong cảnh và con người. Hội đã hết, ngày đã tàn nên nhịp thơ không còn cái rộn ràng, giục giã mà trái lại thật chậm rãi, khoan thai. Cảnh vật vì thế mang cái vẻ nên thơ, diu êm, vắng lặng trong ánh nắng nhạt dần. Dòng khe có chiếc cầu nho nhỏ cuối ghềnh tạo thành đường nét thể hiện linh hồn của bức tranh một buổi chiều xuân. Nhịp chân có chút tâm tình man mác nên “thơ thẩn” và đến đây là “bước dần”, chẳng có gì nao nức, vội vàng. Các từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nho nhỏ”, “nao nao” góp phần làm nên sự yên ắng và nỗi buồn của cảnh vật, của con người. Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút phá ước lệ cổ điển nhưng vẫn gợi cho người đọc cảm giác gần gũi, thân quen vì nó đã thấm hồn dân tộc, mang bóng dáng cảnh sắc quê hương Việt Nam.

Rõ ràng, cảnh ở đây được nhìn qua tâm trạng nhân vật tham gia vào lễ hội. Hai chữ “nao nao” (Nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Dòng nước nao nao, trôi chậm lưu luyến bên chân cầu nho nhỏ, phải chăng cũng là nỗi lưu luyến, tiếc nuối của lòng người khi ngày vui chóng qua? Nguyễn Du đã từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”. Vì vậy, khi vào lễ hội, người vui thì cảnh sắc rộn ràng tươi mới. Lúc lễ hội tan rồi, người về sao tránh khỏi sự xao xuyến, cảnh sắc sao tránh khỏi màu ảm đạm! Dường như có một nỗi niềm man mác, bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn vốn đa tình, đa cảm như Thúy Kiều. Và ở sáu dòng cuối này, Nguyễn Du không chỉ nhằm nói tâm trạng buồn tiếc khi lễ hội vừa tàn, mà hình như, ông chuẩn bị đưa nhân vật của mình vào một cuộc gặp gỡ khác, một thế giới khác. Như ta đã biết, ngay sau buổi Thanh minh, Nguyễn Du đã sắp đặt để Thúy Kiều gặp Đạm Tiên và Kim Trọng. Vì thế, cảnh vật trong hoàng hôn này cũng là một dự báo, một linh cảm cho đoạn trường mà đời kiều sắp phải bước qua. Tả cảnh, tả tình như thế thật khéo, cách chuyển ý cũng thật tinh tế, tự nhiên.

Nhà thơ, ngôn ngữ như chạm khắc, như thoát khỏi khuôn khổ trói buộc của công thức, ước lệ để làm sống lại bức tranh xuân và tâm trạng con người. Cả một khung cảnh xuân thơ mộng, tràn đầy ấy như hiện ra trước mắt. Ta bỗng nhớ đến những ngày ngây thơ, trong sáng của kiều rồi ngẫm lại chẵng đường trôi dạt mười lăm năm của người phụ nữ tài sắc ấy mà cảm thương cho số phận một con người. Bỗng nhớ tới lời thơ của Chế Lan Viên đến nao lòng:

“Ta yêu những Hịch, những Bình Ngô gọi lòng ra hỏa tuyến,

Nhưng không quên ngọn lau trắng bên đường Kiều thôi lại tự xa xưa.”

38. Tự luận
• 1 điểm

Viết văn bản thuyết minh về một danh lam thắng cảnh.

Xem đáp án

Nói đến Thủ đô Hà Nội thân yêu của chúng ta, có thể nhắc đến Chùa Một Cột — dáng sen vươn lên từ bùn lầy nghìn năm Bắc thuộc — tiêu biểu cho ý thức tự cường của dân tộc. Hay Khuê Văn Các — viên ngọc minh châu kết tinh của một nền khoa học ngàn đời. Nhưng chúng ta vẫn nghe nhắc đến Hồ Gươm nhiều hơn cả. Nằm trong lòng Hà Nội, thành phố ngàn năm văn hiến, thành phố vì hòa bình, nơi đây có Tháp Rùa tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Đài Nghiên, Tháp Bút nhắc đến nền văn vật lâu đời. Chỉ với ba biểu tượng đó, hồ Hoàn Kiếm đã xứng đáng là trái tim của Thủ đô rồi!

Hồ Gươm không chỉ là thắng cảnh tô điểm thêm vẻ xinh tươi, duyên dáng cho Thủ đô, mà còn là một trong những dấu ấn tiêu biểu của lịch sử ngàn năm văn hiến đất kinh kì Tháng Long — Đông Đô - Hà Nội. Để đến tham quan Hồ Gươm, chúng ta có thể đi từ nhiều con đường khác nhau như Hàng Bài, Tràng Thi, Hàng Khay hay các khu phố cổ, Hồ Gươm nằm ở trung tâm quận Hoàn Kiếm, là nơi kết nối giữa các phô" cổ với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch lại cách đây hơn một thế kỉ. Chắc hẳn chúng ta đều biết Hồ Gươm chính là một dòng chảy còn sót lại của sông Hồng. Cách đây hàng trăm năm về trước, Hồ Gươm ăn thông với sông Hồng, là một nhánh nhận nước của sông Hồng, chạy dài qua các phô" Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lí Thường Kiệt, Hàng Chuối,.. Từ thê" kỉ XIX, khi nước ta đang bị thực dân Pháp cai trị, do sông Hồng đổi dâng nên Hồ Gươm chỉ còn là một sông nhỏ chạy qua Hàm Cá Mập (bến tàu điện một thời). Vì thê", để qua sông, người Pháp đã bắc một chiếc cầu bằng gỗ và dần dần san đất. Và ngày nay, nơi đó chính là phô" cầu Gỗ mà ai cũng biết.

Từ xưa đến nay, Hồ Gươm đã trải qua lịch sử với bao nhiêu tên gọi khác nhau. Cách đây khoảng sáu thê" kỉ, Hồ Gươm gồm hai phần chạy dài từ phô" Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, rồi tới phố Hàng Chuối. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên trước kia Hồ Gươm được gọi là Hồ Lục Thủy. Sau đó là cái tên Tả Vọng để phân biệt với Hữu Vọng. Sau khi các triều đại chọn Thăng Long làm kinh đô, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thủy quân. Tương truyền vào thê" kỉ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng, ghi lại thắng lợi của cuộc chiến đấu chống giặc Minh xâm lược dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi (1427). Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) có một người đánh cá là Lê Thận (sau khi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn) đã kéo được một lưỡi gươm, sau đó Lê Lợi lại nhặt được chuôi gươm ở trên cây, khi ghép chuôi gươm và lưỡi gươm lại thành thanh gươm, đặt tên là "Thuận Thiên" có nghĩa là "thuận theo ý trời". Gươm báu đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chông giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền ở hồ Lục Thủy, bỗng một con rùa xuất hiện, nổi lên khỏi mặt nước. Lê Thái Tổ rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ. Chắc hẳn ai cũng biết hồi tháng 5 âm lịch 2010, khi Hà Nội kỉ niệm 583 năm vua Lê chiến thắng giặc Minh, chúng ta đã được chứng kiến hình ảnh Cụ Rùa bò lên mặt nước... Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng và càng tin hơn vào sự linh thiêng của Hồ Gươm — viên ngọc xanh giữa lòng Thủ đô này...

Hồ Gươm rất đặc biệt. Nó có một màu sắc riêng, khác hẳn các hồ khác. Hồ Gươm xưa kia trong lắm, đẹp lắm, có màu nước xanh biêng biếc... Các bạn có biết màu xanh ấy là do đâu khống? Trong lớp bùn của Hồ Gươm, có sự sinh sông của một loài tảo. Nhờ sự quang hợp của loài tảo đó mà Hồ Gươm có màu xanh như vậy! Đã có lần, các nhà khoa học đã thử lấy thứ tảo ấy đem đi nơi khác trồng nhưng chúng không sống được! Phải chăng Hồ Gươm có một điều đặc biệt khác?... Nhưng bây giờ, màu xanh trong trẻo ấy đã bị ô nhiễm mà nguyên nhân chính là do con người gây ra. Chính những người dân không ý thức, vứt rác bừa bãi xuống hồ và Nhà nước không có biện pháp làm sạch hồ thường xuyên nên đã làm cho nước hồ đục hơn và bên bờ hồ vương vãi những túi rác mà người dân đã vứt xuống. Điều đó sẽ dẫn đôn hậu quả gì? Trước hết, Hồ Gươm đã không còn đẹp như trước nữa mà đã mất đi vẻ tự nhiên của nó. Và hậu quả thứ hai là những Cụ Rùa đã bị tổn thương vì môi trường quá bẩn. Ngày trước, Cụ Rùa chỉ nổi lên vào những dịp lễ, còn thời gian gần đây, Cụ Rùa nổi lên rất thường xuyên và mọi người đã nhìn thấy những vết thương trên thân Cụ Rùa. Có lẽ nào những người vứt rác xuống hồ không thể hiểu được những điều này? Và vài ba năm trước, việc làm sạch Hồ Gươm đã bắt đầu được chú trọng. Tất cả chúng ta đều đã nhận thây một điều rằng, mặc dù Nhà nước và Chính phủ đã đưa ra những biện pháp để giải quyết vấn đề này nhưng thực sự là nước hồ ngày càng bẩn thêm. Vi vậy, điều quan trọng vẫn là ý thức của người dân, chúng ta phải giữ gìn hồ sạch sẽ để không làm mất đi vẻ đẹp của Hồ Gươm nói riêng và vẻ đẹp của Thủ đô Hà Nội và hình ảnh tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung.

Ở Hồ Gươm, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy Đài Nghiên và Tháp Bút được danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1864. Thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" nghĩa là "Viết lên trời xanh", ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn được gọi là Đài Nghiên, trên đó có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, ba chân kê nghiên là hình tượng ba con ếch. Sở dĩ có ba con ếch đội là bởi vì nhà thơ Nguyễn Văn Siêu muốn nhắc chúng ta đừng kiêu căng rồi dẫn đến hậu quả khó lường như trong truyện ngụ ngôn Ech ngồi đáy giếng và Nguyễn Văn Siêu cũng muốn viết lên trời xanh khát vọng hòa bình, truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Có một điểm đặc biệt giữa Tháp Bút và Đài Nghiên. Đó là vào những buổi trưa hè, nhìn từ cổng ngoài di vào có hai bức tường đứng hai bên, cả hai bức tường cao quý ấy đều khắc tên những người đỗ đạt, khiến cho các sĩ tử đi qua đều cố gắng học hành. Đi tiếp vào trong ta sẽ thấy cầu Thê Húc. cầu Thê Húc được làm bằng gỗ rất thô sơ và được sơn màu đỏ. cầu được thiết kế cong cong và uốn lượn như hình con tôm. cầu Thê Húc hướng về phía Đông, phía mặt trời mọc để đón được toàn vẹn nguồn dưỡng khí và những tia nắng đầu tiên. Với ý nghĩa ấy, cây cầu mang màu đỏ — màu của sự sống, màu của hạnh phúc, của sự cao quý, của ước vọng truyền đời từ thời cổ đại đến ngày nay - cây cầu Thê Húc — đó chính là biểu tượng của thần Mặt Trời! Tên của cây cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm". Đi sâu vào trong, chúng ta sẽ đến với đền Ngọc Sơn linh thiêng. Ngôi đền được xây dựng trên đảo Ngọc. Cả khu đền được lợp ngói đỏ trông tươi tắn với hình ảnh cong cong trạm trổ tinh tế. Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Văn Xương Đế Xuân — vị thánh trụ trì việc văn chương khoa cử. Ngoài hiên có tủ kính với Cụ Rùa được đặt bên trong khi các nhà khoa học vớt lên vào những thập niên sáu mươi của thế kỉ XX. Cụ Rùa có tuổi thọ khoảng 500 - 600 tuổi. Không chỉ có một Cụ Rùa mà dưới Hồ Gươm còn có vài Cụ Rùa khác.

Hồ Gươm được du khách coi là một danh lam thắng cảnh. Quanh hồ là những loài cây trông lộng lẫy như: cây phượng, cây bằng lăng, cây liễu sư. Ngoài ra còn có nhiều loài hoa được trồng và được ghép thành hình chữ ở bên bờ hồ. Ngày nay, chúng ta đều thấy rất nhiều du khách nước ngoài cũng như trong nước và người dân Hà Nội đi dạo quanh hồ. Họ chụp ảnh, họ bàn tán và họ cũng cảm thấy thanh thản... Chắc chắn là như vậy!... Bên Hồ Gươm không chỉ có du khách đi dạo, chúng ta còn thấy cả các cụ già ngồi chơi cờ, còn các bác, các cô thì tập thể dục cho cơ thể săn chắc, khỏe mạnh. Những đứa trẻ cũng thường ra bờ hồ đùa nghịch, vui chơi tận hưởng không khí thoáng mát. Từ Hồ Gươm, chúng ta cũng có thể nhìn được những địa điểm nổi tiếng của Hà Nội như Tượng đài Lý Thái Tể, Bưu điện Hà Nội với đồng hồ cổ kính được đặt ở trên nóc hay những khu phố cổ,... Như vậy, chúng ta có thể thấy được Hồ Gươm đẹp thế nào, phong phú về màu sắc thế nào...

Rủ nhau xem cảnh Kiêm Hồ,

Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,

Đài Nghiến, Tháp Bút chưa mòn,

Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

Hồ Gươm có thể từ nhiều thế kỉ trước, có thể có nhiều tên gọi nhưng với tôi, Hồ Gươm chỉ mới hơn mười ba tuổi. Dù có thế nào, Hồ Gươm mãi mãi là một phần trong trái tim tôi.

39. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích một tác phẩm truyện.

Xem đáp án

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Với vốn am hiểu sâu sắc và gắn bó với nông thôn và người nông dân nên truyện của ông thường xoay quanh những nếp sinh hoạt, cảnh ngộ, phong tục truyền thống của người nông dân Bắc Bộ. Nguyên Hồng nhận xét: Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với "đất" với "người" với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống nông thôn.

Truyện ngắn "Làng" (1948) là một minh chứng tiêu biểu cho lời nhận xét đó của Nguyên Hồng. Bằng việc khai thác đề tài tình yêu làng, lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động bằng một thứ ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

Trước hết, truyện ngắn "Làng" đã được Kim Lân xây dựng trên tình huống gay cấn để bộc lộ tình yêu làng, tình yêu đất nước sâu sắc ở nhân vật ông Hai. Đó là tin làng ông theo giặc lập tề mà chính ông nghe được từ miệng của những người tản cư dưới xuôi lên. Tình huống ấy đã đẩy câu chuyện vào chỗ thắt nút khi mà ông Hai - một con người vốn yêu làng, luôn khoe và hãnh diện về làng thì nay lại hay tin là theo giặc. Vì thế ông đau đớn, xót xa và cảm thấy tủi hổ, bẽ bàng. Trong thế giới nội tâm nhân vật có sự đấu tranh xung đột giữa tình yêu làng và tình yêu nước mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, song tình yêu nước, tinh thần kháng chiến rộng lớn, bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng cuối cùng, cũng từ tình huống ấy đã mở nút cho câu chuyện khi mà ông nhận được tin cải chính về làng. Tình huống này đã khẳng định ông Hai và làng chợ Dầu luôn trung thành tuyệt đối với kháng chiến với cụ Hồ, với dân tộc.

Cũng qua tình huống truyện, người đọc còn nhận ra tài năng khắc họa, miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo của nhà văn Kim Lân qua nhân vật ông Hai. Có thể nói, dưới tác động của tình huống, sự việc khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, tâm lý nhân vật ông Hai đã có những diễn biến phức tạp và nhà văn đã trực tiếp nhập vai vào nhân vật để nói bằng tiếng nói nhân vật, mô tả sự giằng xé trong thế giới nội tâm với những mâu thuẫn, xung đột gay gắt, dữ dội. Cũng như biết bao người dân quê khác, ông Hai gắn bó sâu lặng với nơi chôn rau cắt rốn của mình - làng chợ Dầu. Tình yêu ấy của ông thật đặc biệt, biểu hiện của nét tâm lí đó là luôn tự hào và thích khoe về làng. Nhưng có một sự kiện bất ngờ đã xảy ra với ông, từ phòng thông tin bước ra đang rất phấn khởi, náo nức vì những tin vui của kháng chiến, gặp người tản cư, nghe họ nhắc tới tên làng, ông Hai quay phát lại, lắp bắp hỏi, hi vọng được nghe những tin tốt lành về làng, nào ngờ lại hay tin: cả làng chợ Dầu theo giặc. Trước tin dữ ấy, ông Hai sững sờ chết lặng "Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được". Từ niềm vui, niềm tin hi vọng, ông Hai rơi xuống vực thẳm đau buồn, xót xa, tuyệt vọng. Ông cố gắng trấn tĩnh bản thân và tìm cách lảng ra về, muốn che giấu đi tâm trạng ấy nhưng nỗi tủi hổ, bẽ bàng, lo lắng khiến ông "cúi gằm mặt mà đi", còn văng vẳng tiếng chửi "giống Việt gian bán nước".

Khi về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, rồi tủi thân khi nhìn đàn con nhỏ: "nước mắt ông lão cứ dàn ra". Những dòng độc thoại nội tâm trong ông thể hiện nỗi day dứt, đau đớn: "Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...". Ông căm giận lũ người theo giặc, phản bội làng nước, ông lão nắm chặt hai tay mà rít lên: "Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này". Nhưng sau đó, ông lại cảm thấy "ngờ ngợ" như lời của mình không được đúng lắm. Niềm tin và nỗi thất vọng đang giằng xé trong ông. "Ông kiểm điểm từng người trong óc" thấy họ đều là những người có tinh thần kháng chiến, một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy được. Trong hoàn cảnh giặc giã thì tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; còn phản bội là điều xấu xa ô nhục nhất. Vì thế từ khi nghe tin làng mình theo giặc, nó đã trở thành nỗi ám ảnh, day dứt trong tâm trí của ông, khiến ông ba bốn hôm nay không dam bước chân ra đến ngoài. Suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng binh tình. "Một đám đông túm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng nói xa xa ông cũng chột dạ", lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý , đang bàn tán đến "cái chuyện ấy"; cứ thoáng nghe những tiếng Tây, cam nhông , Việt gian là ông lại lủi thủi ra một góc nhà nín thít... "Thôi lại chuyện ấy rồi!". Ông luôn thu mình lại, cảm thấy xấu hổ, đau xót và dường như cảm thấy chính mình cũng có tội vậy. Ông rời vào tình trạng tuyệt vọng khi mà bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi vì "nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này, không cho ở nữa". Ông Hai không biết đi đâu, cũng không thể quay lại trở về làng vì về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, "về làng tức là chụy quay lại làm nô lệ cho thằng Tây". Trong ông Hai diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt và dứt khoát lựa chọn theo cách của mình "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù". Tình yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng. Song ông không thể vứt bỏ tình yêu làng nên ông Hai càng đau xót, tủi hổ. Trong tâm trạng bị dồn nén, không biết giải tỏa như thế nào, ông Hai chỉ còn biết trút lòng mình với đứa con nhỏ. Cuộc đối thoại giữa ông và đứa con trai đã bộc lộ thật cảm động tấm lòng gắn bó sâu sắc với làng quê, với đất nước và với kháng chiến của ông Hai. Ông nói với con mà như tự nói với chính mình, tự mình oan, tự chiêu tuyết cho mình. Đoạn thoại, vừa chất chứa nỗi đau đớn, xót xa, lại vừa thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt với kháng chiến, với cách mạng, với cụ Hồ.

Có lẽ, nếu không nhận được tin cải chính thì cả đời ông Hai sẽ chết dần, chết mòn trong nỗi đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng về cái làng của mình mất. Những sau đó, chính quyền làng ông đã lên cải chính cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Nhận được tin, ông Hai như sống lại, niềm vui tràn ngập trong ông: quần áo chỉnh tề, mặt tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy, nói bô bô, mua quà cho các con.... Đặc biệt là hành động ông chạy đi khoe với tất cả mọi người cái tin vui ấy. Niềm vui sướng, hạnh phúc dâng trào khiến ông cứ múa tay lên mà khoe. Và lạ thay, câu đầu tiên ông khoe không phải là việc làng ông không theo giặc mà là "Tây nó đốt nhà tôi rồi... đốt nhẵn!". Với người nông dân, căn nhà là cả cơ nghiệp của họ mà cả đời họ làm lụng vất vả mới có được. Nhưng ông Hai không hề tiếc căn nhà của mình bởi nó là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc và trên hết là nó như là sự "đóng góp" của gia đình ông với kháng chiến. Điều đó, một lần nữa càng khẳng định rõ ràng hơn tình yêu làng, tình yêu nước và sự trung thành với kháng chiến ở ông Hai.

Đến đây, chúng ta thấy được sức sáng tạo độc đáo của Kim Lân trong nghệ thuật tạo tình huống, thực sự gay cấn, kịch tính với những thử thách của nội tâm nhân vật, từ đó bộc lộ chiều sâu đời sống bên trong, tình cảm, tư tưởng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, rất cụ thể, gợi cảm qua thế giới nội tâm với các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt, nhà văn đã diễn tả rất đúng, rất ấn tượng về sự ám ảnh day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc con người và những nét tâm lí vôn có của người nông dân Việt Nam sau lũy tre làng.

Thông qua tác phẩm, người đọc còn nhận ra ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, nhất là ngôn ngữ nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của ông Hai, dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại vừa mang đậm cá tính của nhân vật, rất sinh động, chân thực, gần gũi.

Tóm lại, "Làng" của Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc, khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kháng chiến: tình yêu quê hương, đất nước; trong đó, nhân vật ông Hai là nhân vật có tính chất đại diện điển hình cho nét tâm lí, tình cảm đó của người nông dân Việt Nam trong thời kì tiến công cách. mạng. Qua tác phẩm chúng ta thấy được tài năng độc đáo trong nghệ thuật tạo tình huống, xây dựng hình tượng nhân vật có tính chất đại diện điển hình với thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, sinh động; ngôn ngữ truyện mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống, xen lẫn giữa độc thoại và đối thoại đan xen... tất cả đã làm nên sự thành công độc đáo, hấp dẫn cho thiên truyện ngắn.

40. Tự luận
• 1 điểm
Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết.
Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết.
Xem đáp án

Thiên nhiên luôn tươi đẹp, hùng vĩ, lớn lao trong mắt nhìn của mỗi người. Con người không thể sống mà thiếu đi mặt trời, mặt trăng. Nhờ thiên nhiên ban tặng cho ta sự sống, ta phải biết ơn và giữ gìn bảo vệ tính nguyên sơ của thiên nhiên. Mỗi cá nhân phải có tình yêu tha thiết, tình cảm đặc biệt với thiên nhiên, phải ý thức được tầm quan trọng đó và tự xây dựng lối sống hòa hợp với thiên nhiên.

Thiên nhiên là gì? Chúng ta cùng làm rõ khái niệm về thiên nhiên. Thiên nhiên có hai khái niệm khác nhau. Theo kiểu khoa học thiên nhiên được hiểu rộng chỉ tất cả những gì sẵn có, hiện diện tồn tại xung quanh chúng ta, từ những loại vật chất nhỏ bé đến những thể tồn tại to lớn như mặt trăng, mặt trời, vũ trụ. Thiên nhiên hiểu theo cách thông thường, đơn giản gắn liền với thực tại thiên nhiên là tất cả những vật chất bao quanh con người, không phải do con người tự tạo ra mà do hình thành sẵn có trong tự nhiên dưới sự tác động qua lại lẫn nhau tạo nên các thực thể tự nhiên thường thấy: Ao, hồ, sông, suối, rừng cây, danh lam thắng cảnh đồi núi hùng vĩ mà tạo hóa ban tặng.

Tình yêu thiên nhiên là gì? Những biểu hiện thể hiện tình yêu thiên nhiên? Tình yêu thiên nhiên sự yêu mến và trân trọng thiên nhiên đã bao bọc và mang lại cho ta cuộc sống trong lành. thể hiện ở cách sống hòa hợp, gắn bó, rung động trước những cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ đó, biết giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên.

Những nhu cầu cần thiết của cuộc sống đều được khai thác từ nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Để có được nguồn đất đai giàu mỡ để tạo điều kiện cho con người trồng trọt, chăn nuôi, tạo ra của cải vật chất ngay trên mảnh đất mà tạo hóa thiên nhiên ban tặng. Để có nguồn nước ngọt sinh hoạt, ăn uống nuôi sống chúng ta cũng là do thiên nhiên tạo nên, đó là nguồn nước từ dòng sông, suối, mạch nước ngầm để có nước sạch ta sử dụng hằng ngày. Rừng cũn từ thiên nhiên cho ta môi trường trong xanh giúp thanh lọc không khí mát mẻ, trong lành, cung cấp oxy, chống xói mòn, lũ lụt. Rừng là nơi trú ẩn tuyệt vời cho các loài động vật quý hiếm, hoang dã, tồn tại nhiều sinh vật tạo nên đa dạng sinh học. Thiên nhiên biển là nơi chứa các loại hải sản đa dạng phong phú mang giá trị dinh dưỡng, cũng như giá trị kinh tế, mang lại thu nhập cho ngư dân, là nơi thích hợp được chọn xây dựng các địa điểm du lịch.

Thiên nhiên ngoài cung ứng các nhu cầu về vật, nuôi sống con người từ bao đời nay thì hiên nhiên cung cấp cho con người những giá trị mỹ quan, làm phong phú thêm đời sống tinh thần.Thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp biết bao, thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Trái Đất những cảnh sắc đẹp tuyệt vời khiến loài người phải ngất ngây. Từ châu Âu đến châu Á, mỗi địa điểm lại mang vẻ đẹp thiên nhiên riêng biệt. Các khu du lịch nghiêng về các giá trị tự nhiên ngày càng được nhân rộng để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, nhu cầu khám phá của con người. Sống trong một môi trường tràn ngập bóng mát cây xanh, sắc hoa sặc sỡ tô điểm thêm cuộc sống thêm màu nhiều màu sắc, tâm hồn con người cũng trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, thư thái hơn. Thiên nhiên là niềm cảm hứng bất tận trong thơ ca, nhạc họa; là người bạn tâm giao của các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ thời bấy giờ. Chính những giá trị vô cùng to lớn mang đến cho con người thì thiên nhiên được xem người bạn tốt của con người, chúng ta cần biết yêu thiên nhiên.

Hiện nay, có rất nhiều tấm gương tiêu biểu thể hiện tình yêu thiên nhiên, bảo vệ và gìn giữ tình yêu đó và lan tỏa đến tất cả mọi người. Tình yêu thiên nhiên trong văn học được tác giả xây dựng hình ảnh, miêu tả chân thực sâu sắc để làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên trong cuộc sống

Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam bằng những nốt nhạc, tạo cho đời ca khúc nổi tiếng. Trong bài “Nhớ về Cúc Phương,” ông viết: “Nhớ một thuở hồng hoang rừng chưa có tên; Mưa nắng thiên thu rừng cây non thành rừng đại ngàn; Rừng bao nhiêu tuổi rừng đâu có nhớ; Sao ta mãi gọi là em khi đất nước đặt tên cho rừng. Ơi Cúc Phương ơi! Mà nghe xao xuyến tên em ơi hương sắc; Rừng Việt Nam cho đất nước một kỳ quan; Bên em một lần để rồi xa nhớ mãi tình rừng xanh; Ngàn thu trầm dâng câu hát yêu thương về vui giữa đời…”. Tình yêu thiên nhiên được nhà văn khắc họa rõ nét qua từng câu chữ trong bài “Nhớ về Cúc Phương với một tình yêu to lớn, thiêng liêng, niềm tự hào về trước vẻ đẹp của núi rừng, lòng biết ơn mà thiên nhiên đem lại.

Các bạn biết đó con người và thiên nhiên có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời. Thiên nhiên bảo vệ, che chở cho con người và cung cấp những thứ cần thiết, quý báu để giúp con người có thể sinh tồn tới ngày hôm nay. Thiên nhiên mang đến cho con người tâm hồn thư thái, thoải mái, an nhiên sau những ngày bận rộn, bộn bề cuộc sống. Con người biết sống hòa hợp với thiên nhiên giúp ta tinh thần sảng khoái, sức khỏe bình phục lại sau những ngày vất vả, bận rộn với công việc. Thiên nhiên chính là môi trường sống của con người. Không có thiên nhiên, con người không thể tồn tại được. Bởi vậy, thiên nhiên được xem là tài sản chung vô giá của dân tộc và của cả nhân loại. Nếu thiên nhiên bị tàn phá sẽ làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống con người. Một khi trái đất mất cân bằng sinh thái, thiên tai sẽ xảy đến, chất lượng cuộc sống và tồn tại của con người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

Tình yêu thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên là trách nhiệm của mỗi người. Chúng ta có ý thức giữ gìn bảo vệ và tránh làm những điều gây tổn hại đến thiên nhiên. Bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ chính sự sống trên trái đất và bảo vệ chính bản thân chúng ta.

Thiên nhiên mà giận dữ thì sẽ phải đón nhận hậu quả khôn lường như thiên tai, lũ lụt, hiện tượng băng tan, đe dọa đến sự sinh tồn của mọi sinh vật trên trái đất. Thiên nhiên là ngôi nhà chung của con người và tất cả các sinh vật trên trái đất. Mỗi một không gian cho con người và sinh vật trên trái đất đều được bao bọc bởi môi trường tự nhiên. Chính vì vậy mà sự tác động của con người lên không gian sống đó thì chúng ta đang trực tiếp phá hủy cuộc sống của chính mình. Thiên nhiên cung cấp đầy đủ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đời sống. Tất cả tài nguyên thiên nhiên là những vật chất sản sinh bởi quá trình tự nhiên. Ngày nay việc khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và những biến đổi về khí hậu. Nếu con người chỉ biết khai thác thiên nhiên mà không bảo vệ chúng thì khó có thể tồn tại lâu dài được.

Bên cạnh những hành động bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, có ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên. Song song tồn tại không ít những người vô ý thức, tắc trách và chỉ vì lợi ích vật chất trước mắt mà phá hủy, hủy hoại, lãng phí thiên nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho loài người. Họ ngang nhiên chặt cây, đốt phá rừng đầu nguồn, đánh bắt khai thác kiệt quệ tài nguyên khoáng sản, đánh bắt giết các động vật hoang dã bán để kiếm tiền. Chính những hành động thờ ơ, phá hủy thiên nhiên đã gây ra những hậu quả lớn, hằng năm thiên nhiên giận dỗi, nhiều quốc gia đối mặt với những trận lũ lụt lớn, sóng thần lịch sử thiệt hại nặng nề về người, mùa màng, tài sản của con, cuộc sống yên bình của trái đất vốn dĩ ngày nào đang bị đe dọa,..

Nhiều người cũng không phục hồi thiên nhiên sau khi đã lấy đi nhiều giá trị từ nó. Nhiều người không có cảm xúc gì trước vẻ tươi đẹp của thiên nhiên. Cuộc sống của họ thường đơn điệu và nhàm chán không có tầm nhìn xa, chỉ đam mê chạy theo lợi ích cá nhân mà bỏ mặc công lao gìn giữ bảo vệ thiên nhiên của ông cha ta từ xưa tới nay. Những hành động phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hủy ngôi nhà sinh tồn của trái đất cần được phê phán, phản ảnh mạnh mẽ, có những quy định về luật xử phạt nghiêm minh cho những hành động trên. Các bạn hãy sống hòa hợp với thiên nhiên, vì nó mang lại cho con người cảm giác bình yên và hạnh phúc, đừng bao giờ làm tổn hại đến thiên nhiên.

Học sinh cần làm gì để có tình yêu thiên nhiên và luôn sống hòa hợp với thiên nhiên? Trước hết mỗi học sinh là chủ nhân tương lai của đất nước, các bạn phải yêu mến và tôn trọng những gì thuộc về thiên nhiên, sử dụng tiết kiệm, không lãng phí những gì mà thiên nhiên đem lại. Biết yêu mến từ những điều đơn giản nhất từ cái cây, ngọn có, dòng sông, đồi núi, biển cả, nguồn nước,… Những điều đơn giản như tiết kiệm điện, tiết kiệm nước đó cũng là hành động thể hiện tình yêu với thiên nhiên rồi. Các bạn biết đó môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm, nhiều cây xanh, rừng cây bị chặt phá, nhiều rừng đầu nguồn bị phá hoại làm ảnh hưởng đến mạch nước ngầm cũng dần ít đi và khan hiếm. Đừng nghĩ điện nước là vô hạn, bởi dùng và khai thác quá mức không biết tiết kiệm thì cũng sẽ trở thành có hạn và dần dần tính dồi dào vốn có thiên nhiên sẽ dần mất đi bởi chính bàn tay hành động lãng phí của con người.

Chúng ta thử thả tâm hồn mình hòa hợp với thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ và thưởng thức những cái đẹp từ thiên nhiên. Sống gắn bó và gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên. Hãy tự tạo không gian thoải mái, thư thái, hãy đưa thiên nhiên đến gần với cuộc sống của mình. Hằng ngày tạo thói quen chăm sóc cây, trồng hoa, nuôi cá, tạo thêm không gian xanh cho ngôi nhà nhỏ của mình. Hoặc tổ chức những cuộc dã ngoại tham quan các danh lam thắng cảnh, những khu vườn quốc gia, cùng chung tay góp một phần công sức vào công cuộc bảo vệ môi trường tự nhiên. Hãy luôn giữ gìn màu xanh của bầu trời, màu xanh của biển, màu xanh của của núi rừng, màu xanh của niềm hy vọng về một cuộc sống chan hòa với thiên nhiên, một không gian xanh sạch đẹp. Học sinh phải biết bảo vệ thiên nhiên. Kiên quyết và kịp thời phê phán, chống lại mọi hành động tàn phá thiên nhiên. Biết khai thác từ thiên nhiên những gì có lợi cho con người và khắc phục. Không ngừng phục hồi bồi đắp các giá trị đã khai thác. Hạn chế những tác hại do thiên nhiên gây ra.

Thiên nhiên là nguồn cội, ngôi nhà chung của con người, thiên nhiên được biết đến là những điều tươi đẹp, hùng vĩ. Thiên nhiên mang lại không khí trong lành, tạo điều kiện sống, giúp con người sinh tồn và phát triển. Chúng ta nên có trách nhiệm với bản thân, với những người xung quanh và thế hệ tương lai, cùng nhau chung tay bảo vệ, gìn giữ và dành những tình cảm yêu thương, lòng biết ơn sâu sắc với thiên nhiên.