Bài tập Bài toán thực tiễn liên quan lớp 11 (có lời giải)
25 câu hỏi
Người ta trồng 3003 cây theo một hình tam giác như sau: Hàng thứ nhất có 1 cây, hàng thứ hai có 2 cây, hàng thứ ba có 3 cây, … Hỏi có bao nhiêu hàng?
21;
77;
60;
58.
Đáp án đúng là: B
Theo giả thiết, coi số cây có ở mỗi hàng của hình tam giác là một dãy số un.
Ta có: u1 = 1; u2 = 2; u3 = 3; …
Dãy số un có thể được viết dưới dạng công thức tổng quát: un = n.
Do đó: 3003 = u1 + u2 + u3 + … + un = 1 + 2 + 3 + … + n = .
Giải phương trình bậc hai ta tìm được nghiệm của n là: 77.
Một trò chơi dược tổ chức trên truyền hình theo phương thức:
- Nếu người chơi trả lời đúng câu đầu tiên thì được thưởng 1 triệu đồng.
Tiếp đến, nếu mỗi câu sau trả lời đúng thì được cộng thêm 500 000 đồng.
- Trò chơi được chấm dứt khi bị vướng vào câu trả lời sai.
Hỏi số câu trả lời đúng tối thiểu là bao nhiêu để người chơi đạt số tiền tối thiểu là 10 triệu đồng?
21;
20;
18;
19.
Đáp án đúng là: D
Coi số tiền của người chơi khi tham gia là một dãy số un.
Sau câu trả lời đúng đầu tiên: u1 = 1 (triệu đồng).
Sau câu trả lời đúng thứ hai: u2 = u1 + 0,5 = 1,5 (triệu đồng).
Sau câu trả lời đúng thứ ba: u3 = u2 + 0,5 = 2 (triệu đồng).
…
Từ đó, ta nhận thấy un có thể được viết dưới dạng tổng quát: un = 1 + 0,5.(n – 1).
Xét biểu thức: un = 1 + 0,5.(n – 1) ≥ 10.
Biểu thức có nghiệm: n ≥ 19.
Do đó n = 19 là nghiệm thỏa mãn yêu cầu đề bài.
Khi ký hợp đồng làm việc 10 năm với các công nhân được tuyển dụng. Công ty A đề xuất phương án trả lương cho người lao động như sau: Người lao động sẽ nhận 36 triệu đồng cho năm làm việc đầu tiên và kể từ năm thứ hai mức lương sẽ tăng thêm 3 triệu đồng mỗi năm. Mức lương của người lao động ở năm cuối cùng của hợp đồng là
63 triệu đồng;
60 triệu đồng;
69 triệu đồng;
73 triệu đồng.
Đáp án đúng là: A
Coi mức lương của người lao động theo từng năm là một dãy số un.
Ta có: u1 = 36; u2 = u1 + 3 = 39; u3 = u2 + 3 = 42; …
⟹ (un) có thể được viết dưới dạng công thức tổng quát: un = 36 + 3.(n – 1).
Do đó, mức lương của người lao động ở năm cuối cùng của hợp đồng là:
u10 = 36 + 3.(10 – 1) = 63 (triệu đồng).Khi ký hợp đồng làm việc 8 năm với các công nhân được tuyển dụng. Công ty B đề xuất phương án trả lương cho người lao động như sau: Người lao động sẽ nhận 7 triệu đồng cho quý làm việc đầu tiên và kể từ quý thứ hai mức lương sẽ tăng thêm 500 000 đồng mỗi quý. Mức lương của người lao động ở quý thứ 9 của hợp đồng là
11 triệu đồng;
17 triệu đồng;
10 triệu đồng;
21 triệu đồng.
Đáp án đúng là: A
Coi mức lương của người lao động theo từng quý là một dãy số un.
Ta có: u1 = 7; u2 = u1 + 0,5 = 7,5; u3 = u2 + 0,5 = 8; …
⟹ (un) có thể được viết dưới dạng công thức tổng quát: un = 7 + 0,5.(n – 1).
Do đó, mức lương của người lao động ở quý thứ 9 của hợp đồng là:
u9 = 7 + 0,5.(9 – 1) = 11 (triệu đồng).
Người ta thiết kế một tòa tháp 11 tầng, theo cấu trúc diện tích mặt sàn tầng trên bằng một nửa diện tích mặt sàn của tầng ngay bên dưới. Hỏi số viên gạch hoa cần dùng để lát nền tầng thứ 10 của tòa tháp là bao nhiêu?Biết diện tích mặt đáy tháp là 50m2 và kích cỡ mỗi viên gạch hoa là 50cm ×50cm.
120000 viên;
124000 viên;
104200 viên;
102400 viên.
Đáp án đúng là: A
Coi diện tích nền mỗi tầng của tòa tháp là một dãy số un.
Có: u1 = 50; u2 = 2u1; u3 = 2u2 = 4u1; u4 = 2u3 = 8u1; …
Ta có công thức tổng quát của dãy số: un = 2n–1.u1 = 2n–1.50
Diện tích nền tầng 10 là: u10 = 210–1.50 = 25600 (m2).
Diện tích mỗi viên gạch: 50.50 = 2500 (cm2) = 0,25 m2.
Do đó, số viên gạch cần để lát nền tầng 10 là:
25600 : 0,25 =102400 (viên).
Ông An có 200 triệu đồng gửi ngân hàng theo thể thức lãi kép với lãi suất 8%/năm. Sau 5 năm ông An thu được cả vốn lẫn lãi là a (triệu đồng). Giá trị của a gần nhất với giá trị nào sau đây?
300 triệu đồng;
310 triệu đồng;
260 triệu đồng;
290 triệu đồng.
Đáp án đúng là: D
Coi số tiền nhận được sau mỗi năm là một dãy số: un .
Ta có:
• Sau năm thứ nhất: u1 = 200.1,08 = 216 (triệu đồng)
• Sau năm thứ hai: u2 = u1.1,08 = 233,28 (triệu đồng)
• Sau năm thứ ba: u3 = u2.1,08 = 252,9424 (triệu đồng)
…
Ta suy ra được công thức tổng quát số tiền ta có sau mỗi năm:
un = 200.1,08n (triệu đồng) (n ≤ 5)
Do đó, sau năm năm ông An thu được số tiền:
u5 = 200.1,085 = 293,866 (triệu đồng).
Một học sinh vừa tốt nghiệp cấp 3 ra trường làm công nhân cơ khí, bạn ấy được lĩnh lương khởi điểm là 2,3 triệu đồng/tháng. Cứ 6 tháng bạn ấy lại được tăng lương thêm 7%. Hỏi sau 4 năm làm việc bạn ấy có mức lương là bao nhiêu?
4 triệu đồng;
3,5 triệu đồng;
3,69 triệu đồng;
3,9 triệu đồng.
Đáp án đúng là: C
Coi mức lương của người công nhân trong 6 tháng là một dãy số un.
Các số hạng của un lần lượt là:
u1 = 2,3; u2 = u1.1,07; u3 = u2.1,07 = u1.1,072; …
Ta rút được công thức số hạng tổng quát của un là: un = 2,3.1,07n–1
Sau 4 năm mức lương của người công nhân là:
u8 = 2,3.1,077 = 3,69 (triệu đồng)
Trên lưới ô vuông, mỗi ô cạnh 1 đơn vị, người ta vẽ 8 hình vuông và tô màu khác nhau như Hình vẽ. Dãy số biểu diễn độ dài cạnh của 8 hình vuông đó từ nhỏ đến lớn là:

un = n;
\[\left\{ \begin{array}{l}{u_1} = 1\\{u_{n + 2}} = {u_{n + 1}} + {u_n}\end{array} \right.\](n ≤ 6);
\[\left\{ \begin{array}{l}{u_1} = 1\\{u_{n + 2}} = {u_{n + 1}} + {u_n}\end{array} \right.\];
un = 2n + 1.
Đáp án đúng là: B
Ta có: u8 = 21; u7 = 13; u6 = 8; u5 = 5; u4 = 3; u3 = 2; u2 = 1.
Nhận thấy: un+2 = un+1 + un ⟹ u1 = 1.
Do đó, ta có thể rút ra được công thức truy hồi của dãy số thỏa mãn đề bài:
\[\left\{ \begin{array}{l}{u_1} = 1\\{u_{n + 2}} = {u_{n + 1}} + {u_n}\end{array} \right.\](n ≤ 6).
Một chồng cột gỗ được xếp thành các lớp, hai lớp liên tiếp hơn kém nhau 1 cột gỗ. Gọi u1 = 25 là số cột gỗ có ở hàng dưới cùng của chồng cột gỗ, un là số cột gỗ có ở hàng thứ n tính từ dưới lên trên. Chồng gỗ trên có thể có tối đa bao nhiêu hàng?

20;
25;
30;
22.
Đáp án đúng là: B
Từ giả thiết, ta có: un+1 = un – 1.
Công thức tổng quát của số hạng un = u1 – (n – 1) = 25 – n + 1 = 26 – n(n < 26)
Do đó n = 25 là số hàng tối đa của chồng gỗ.
Một chồng cột gỗ được xếp thành các lớp, hai lớp liên tiếp hơn kém nhau 1 cột gỗ. Gọi v1 = 14 là số cột gỗ có ở hàng trên cùng của chồng cột gỗ, vn là số cột gỗ có ở hàng thứ n tính từ trên xuống dưới. Giả sử tồn tại một hàng có 29 cột gỗ thì đó là hàng thứ bao nhiêu?
16;
17;
15;
20.
Đáp án đúng là: A
Từ giả thiết, ta có: un+1 = un + 1.
Ta suy ra được công thức tổng quát của số hạng un = u1 + (n – 1) = 13 + n.
Do đó, hàng có 29 cột gỗ là: n = 29 – 13 = 16.
Vậy hàng có 29 cột gỗ là hàng 16.
Một công ty môi trường đô thị lên kế hoạch thu gom rác thải nhựa tại một bãi biển trong đúng 1 tuần (7 ngày). Ngày đầu tiên thu gom được 50 kg. Kể từ ngày thứ hai trở đi, mỗi ngày lượng rác thu gom được đều tăng thêm đúng 5 kg so với ngày liền trước đó. Khẳng định nào sau đây về dãy số (un) biểu diễn lượng rác thu gom được qua các ngày là đúng?
(un) là một dãy số vô hạn.
(un) là một dãy số hữu hạn gồm 7 số hạng.
(un) là một dãy số giảm.
Số hạng đầu tiên của dãy số là u1 = 5.
Đáp án đúng là: B
Kế hoạch thu gom diễn ra trong đúng 1 tuần (7 ngày) nên hành trình này có điểm kết thúc. Do đó, dãy số (un) là một dãy số hữu hạn gồm chính xác 7 số hạng.
Một trang trại bắt đầu nuôi một giống thỏ mới. Tháng đầu tiên (tháng 1) ghi nhận có 20 cá thể thỏ. Kể từ tháng thứ hai trở đi, do tốc độ sinh sản, số lượng thỏ của mỗi tháng đều tăng lên gấp đôi so với tháng liền trước đó. Ký hiệu un là số lượng thỏ của trang trại ở tháng thứ n. Hệ thức truy hồi mô tả quy luật của dãy số này là:
\(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{u_1} = 20}\\{{u_{n + 1}} = {u_n} + 2\quad (\forall n \ge 1)}\end{array}} \right.\).
\(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{u_1} = 20}\\{{u_{n + 1}} = 20 + {u_n}\quad (\forall n \ge 1)}\end{array}} \right.\) .
\(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{u_1} = 20}\\{{u_{n + 1}} = 2{u_n}\quad (\forall n \ge 1)}\end{array}} \right.\).
\(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{u_1} = 2}\\{{u_{n + 1}} = 20{u_n}\quad (\forall n \ge 1)}\end{array}} \right.\).
Đáp án đúng là: C
Tháng 1 có u1 = 20.
Tháng sau tăng gấp đôi tháng trước nghĩa là số lượng cá thể của tháng n + 1 bằng số lượng của tháng n nhân với 2 => un + 1 = 2un.
Vậy \(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{u_1} = 20}\\{{u_{n + 1}} = 2{u_n}\quad (\forall n \ge 1)}\end{array}} \right.\).
Một rạp hát thiết kế các hàng ghế xếp theo hình vòng cung thu hẹp dần về phía sân khấu. Hàng ghế xa sân khấu nhất (hàng 1) có 120 chỗ ngồi. Kể từ hàng thứ hai trở đi, mỗi hàng đều có ít hơn hàng ngay trước nó đúng 4 chỗ ngồi. Công thức số hạng tổng quát tính số chỗ ngồi un ở hàng ghế thứ n là:
un = 120 – 4n.
un = 124 – 4n.
un = 120 + 4n.
un = 116 – 4n.
Đáp án đúng là: B
Hàng 1 có \({u_1} = 120\);
Hàng 2 có \({u_2} = 120 - 4 = 116\);
Hàng 3 có \({u_3} = 116 - 4 = 112\).
Thử công thức phương án B: un = 124 – 4n.
Với n = 1 => u1 = 120 (thỏa mãn).
Với n = 2 => u2 = 116 (thỏa mãn).
Với n = 3 => u3 = 112 (thỏa mãn).
Một người thả một quả bóng cao su rơi tự do từ độ cao 8 m xuống một mặt sàn phẳng. Mỗi lần chạm đất, quả bóng lại nảy lên một độ cao bằng \(\frac{3}{4}\) độ cao của lần rơi ngay trước đó. Ký hiệu hn (mét) là độ cao tối đa quả bóng đạt được ở lần nảy thứ n (với n ∈ ℕ*). Khẳng định nào sau đây mô tả đúng về dãy số (hn)?
Dãy số (hn) là dãy số tăng.
Dãy số (hn) không tăng, không giảm.
Dãy số (hn) là dãy số giảm.
Dãy số (hn) là dãy hằng.
Đáp án đúng là: C
Độ cao ban đầu là 8 m.
Độ cao nảy lên lần lượt là: \({h_1} = 8 \cdot \frac{3}{4} = 6{\rm{ m}}\); \({h_2} = 6 \cdot \frac{3}{4} = 4,5{\rm{ m}}\); \({h_3} = 4,5 \cdot \frac{3}{4} = 3,375{\rm{ m}}...\) Ta thấy h1 > h2 > h3 > …> hn. Số hạng càng về sau càng nhỏ nên đây là một dãy số giảm.
Một hồ thủy điện ban đầu (ngày 0) đang tích trữ 5000 m3 nước. Mỗi ngày, do nắng nóng làm lượng nước bốc hơi tự nhiên mất đi 10% lượng nước hiện có của ngày hôm trước, đồng thời các dòng suối thượng nguồn cũng đổ về hồ cố định một lượng nước mới là 600 m3. Lượng nước trong hồ sau n ngày vận hành tuân theo hệ thức truy hồi\({u_{n + 1}} = 0,9{u_n} + 600\) (với u0 = 5000). Xét tính bị chặn của dãy số (un), khẳng định nào sau đây là chính xác?
Dãy số (un) chỉ bị chặn dưới bởi 0, không bị chặn trên.
Dãy số (un) là dãy số giảm và bị chặn trên bởi 5000 m.
Dãy số (un) không bị chặn.
Dãy số (un) là dãy số tăng và bị chặn trên bởi 6000 m3.
Đáp án đúng là: D
\({u_0} = 5000\)
\({u_1} = 0,9 \cdot 5000 + 600 = 4500 + 600 = 5100\)
\({u_2} = 0,9 \cdot 5100 + 600 = 4590 + 600 = 5190\)
\({u_3} = 0,9 \cdot 5190 + 600 = 4671 + 600 = 5271\)
Nhìn nhận xu hướng: \({u_0} < {u_1} < {u_2} < {u_3} < \ldots \) Đây là một dãy số tăng.
Để xét xem dãy số tăng này bị chặn trên bởi số nào, ta giả sử khi \(n\) lớn vô hạn, lượng nước đạt đến trạng thái cân bằng \(L\): \(L = 0,9L + 600 \Leftrightarrow 0,1L = 600 \Leftrightarrow L = 6000\).
Vì dãy số bắt đầu từ 5000 và tăng dần tiến về phía 6000 nên \(5000 \le {u_n} < 6000\).
Do đó dãy số bị chặn trên bởi \(6000{\rm{ }}{{\rm{m}}^3}\).
Để chuẩn bị cho một giải chạy việt dã, một vận động viên lập kế hoạch luyện tập: Ngày đầu tiên chạy 3 km. Kể từ ngày thứ hai trở đi, mỗi ngày vận động viên này đều chạy nhiều hơn ngày liền trước đúng 0,5 km. Gọi un là quãng đường chạy (km) của vận động viên trong ngày thứ n.
Ba số hạng đầu tiên của dãy số lần lượt là u1 = 3; u2 = 3,5; u3 = 4 .
Mối liên hệ giữa hai số hạng liên tiếp là un+1 = un + 0,5.
Quãng đường vận động viên chạy trong ngày thứ 5 là 5,5 km.
Dãy số (un) đã cho là một dãy số tăng và không bị chặn trên.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Đúng. u1 = 3; u2 = 3 + 0,5 = 3,5; u3 = 3,5 + 0,5 = 4.
b) Đúng. Ngày sau bằng ngày trước cộng lượng tăng thêm cố định 0,5 km.
Khi đó un+1 = un + 0,5.
c) Sai. Ta có u4 = 4 + 0,5 = 4,5; u5 = 4,5 + 0,5 = 5 km.
d) Đúng. Khoảng cách tăng liên tục nên dãy tăng. Khi n càng lớn thì un càng lớn. Do đó dãy không bị chặn trên.
Một cơ sở y tế theo dõi một mẫu thử chứa chất phóng xạ y tế. Tại thời điểm ban đầu (giờ thứ 0), khối lượng chất phóng xạ là 16 mg. Cứ sau mỗi giờ, khối lượng chất phóng xạ này lại bị phân rã tự nhiên và giảm đi một nửa so với giờ liền trước đó. Gọi mn (mg) là khối lượng chất phóng xạ còn lại sau n giờ theo dõi (n ∈ ℕ*).
Khối lượng chất phóng xạ còn lại sau 3 giờ là 2 mg.
Công thức tính số hạng tổng quát của dãy số này là \({m_n} = 16 \cdot {\left( {\frac{1}{2}} \right)^n}\).
Dãy số (mn) là một dãy số tăng.
Dãy số (mn) là một dãy số bị chặn.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Đúng. Lượng chất phóng xạ ban đầu giờ 0 là 16.
Sau 1 giờ (m1): \(\frac{{16}}{2} = 8{\rm{ mg}}\).
Sau 2 giờ (m2): \(\frac{8}{2} = 4{\rm{ mg}}\).
Sau 3 giờ (m3): \(\frac{4}{2} = 2{\rm{ mg}}\).
b) Đúng. Theo quy luật chia đôi liên tiếp từ mốc gốc 16: \({m_n} = 16 \cdot {\left( {\frac{1}{2}} \right)^n}\).
c) Sai. Số hạng nhỏ dần qua từng giờ (\(8 > 4 > 2 > 1...\)) nên đây phải là dãy số giảm.
d) Đúng. Vì khối lượng luôn dương nên \({m_n} > 0\).
Số hạng đầu tiên lớn nhất m1 = 8 => mn ≤ 8. Vậy 0 < mn ≤ 8, dãy số bị chặn.
Một kỹ sư sinh học theo dõi sự phát triển chiều cao của một mầm cây trong 5 tuần đầu tiên. Tuần thứ nhất mầm cây cao 4 cm. Kể từ tuần thứ hai, mỗi tuần cây cao thêm một lượng bằng đúng một nửa lượng tăng trưởng của tuần liền trước đó. Gọi hn (cm) là chiều cao tổng của mầm cây ở cuối tuần thứ \(n\).
Chiều cao của mầm cây ở cuối tuần thứ hai đạt giá trị bằng 6 cm.
Số hạng tổng quát biểu diễn chiều cao của cây ở cuối tuần thứ n là \({h_n} = 8 - \frac{8}{{{2^n}}}\).
Dãy số chiều cao (hn) là một dãy số giảm.
Dãy số (hn) bị chặn trên bởi giá trị 8 cm.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Đúng. Tuần 1 cao 4 cm.
Tuần 2 cao thêm 4.0,5 = 2 cm. Chiều cao tổng cuối tuần 2 là 4 + 2 = 6 cm.
b) Đúng. Ta có
h1 = 4
h2 = 4 + 2 = 6
h3 = 4 + 2 + 1 = 7
…
\({h_n} = 4 + 2 + 1 + \ldots + \frac{4}{{{2^{n - 1}}}} = 4 \cdot \frac{{1 - {{\left( {\frac{1}{2}} \right)}^n}}}{{1 - \frac{1}{2}}} = 8\left[ {1 - {{\left( {\frac{1}{2}} \right)}^n}} \right] = 8 - \frac{8}{{{2^n}}}\).
c) Sai. Mặc dù lượng cao thêm hằng tuần ít đi, nhưng cây vẫn cao thêm nên tổng chiều cao tổng thể \({h_n}\) luôn tăng theo thời gian (4 < 6 < 7 <…). Đây phải là dãy số tăng.
d) Đúng. Vì biểu thức \({h_n} = 8 - \frac{8}{{{2^n}}} < 8\) với mọi n ∈ ℕ*, nên chiều cao mầm cây bị chặn trên bởi 8 cm.
Một người gửi tiết kiệm ngân hàng số tiền 200 triệu đồng với kỳ hạn 1 năm, lãi suất 6,5% một năm. Nhà ngân hàng áp dụng quy tắc tính lãi kép tích lũy: Hết kỳ hạn 1 năm, nếu người gửi không đến rút tiền thì tiền lãi tự động cộng gộp vào tiền vốn để tính gốc cho năm kế tiếp. Ký hiệu An (triệu đồng) là tổng số tiền người đó có được sau n năm gửi.
Sau 2 năm gửi, tổng số tiền người đó tích lũy được là 226 triệu đồng.
Hệ thức truy hồi tính số tiền giữa hai năm liên tiếp là An = 1,065.An – 1 (với A0 = 200).
Số tiền người đó nhận được sau \(n\) năm gửi biểu diễn theo công thức tổng quát là \({A_n} = 200 \cdot {(1,065)^n}\).
Dãy số (An) là một dãy số tăng và bị chặn trên bởi mức 500 triệu đồng.
Đáp án: a) Sai. b) Đúng. c) Đúng. d) Sai.
a) Sai. Hết năm 1: \(200 \cdot 1,065 = 213\) triệu.
Hết năm 2: \(213 \cdot 1,065 = 226,845\) triệu đồng.
b) Đúng. Tiền năm sau bằng tiền năm trước nhân hệ số gốc cộng lãi: \((1 + 6,5\% ) = 1,065\) nên An = 1,065.An – 1.
c) Đúng. Có A1 = 200.1,065; A2 = A1.1,065 = 200.(1,065)2; …
An = 200.(1,065)n.
d) Sai. Đây là dãy số tăng tăng trưởng theo hàm mũ, khi n càng lớn thì số tiền càng lớn, không bị chặn trên.
Một bệnh nhân cần duy trì nồng độ một loại thuốc tim mạch trong máu. Mỗi ngày vào lúc 7 giờ sáng, bệnh nhân được uống một viên thuốc chứa 60 mg dược chất. Sau mỗi 24 giờ, cơ thể đào thải tự nhiên làm nồng độ thuốc giảm đi 60% so với ngày hôm trước (tức là chỉ giữ lại 40%), đồng thời bệnh nhân lại uống bổ sung viên mới của ngày tiếp theo. Ký hiệu dn (mg) là lượng thuốc tích tụ trong cơ thể ngay sau khi uống viên thuốc ngày thứ n.
Lượng thuốc trong cơ thể bệnh nhân ngay sau khi uống viên thuốc ngày thứ hai là 84 mg.
Hệ thức truy hồi của dãy số lượng thuốc này là dn = 60 + 0,4dn – 1 (với d1 = 60).
Giá trị số hạng d3 tính được bằng 93,6 mg.
Dãy số (dn) là một dãy số tăng và bị chặn trên bởi giá trị 100 mg.
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Đúng. d) Đúng.
a) Đúng. Ngày 1: d1 = 60.
Ngày 2 lượng cũ còn lại 60.0,4 = 24, cộng thêm viên mới 60 mg.
Suy ra d2 = 24 + 60 = 84 mg.
b) Đúng. Hệ thức mô tả chính xác quy luật đào thải 60% (còn giữ 40% = 0,4) và nạp thêm 60 mỗi ngày là dn = 60 + 0,4dn – 1.
c) Đúng. Ta có d3 = 60 + 0,4d2 = 60 + 0,4.84 = 93,6 mg.
d) Đúng. Xét các số hạng ta có d1 < d2 < d3 < … . Dãy số tăng.
Khi n càng lớn, trạng thái cân bằng lượng thuốc đạt ngưỡng L = 0,4L + 60 ⇔ L = 100 mg.
Do đó lượng thuốc luôn nhỏ hơn 100 mg, dãy bị chặn trên.
Một công ty xây dựng lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời theo sơ đồ bậc thang đứng cho một tòa nhà. Hàng dưới cùng (hàng 1) lắp đặt đúng 80 tấm pin. Do diện tích thu hẹp dần, kể từ hàng thứ hai trở lên, mỗi hàng được lắp đặt ít hơn hàng ngay dưới nó đúng 3 tấm pin. Hỏi ở hàng thứ 11, người ta lắp đặt bao nhiêu tấm pin năng lượng mặt trời?
Đáp án: 50
Hàng 1: u1 = 80
Hàng 2: u2 = 80 – 3 = 77
Hàng 3: u3 = 77 – 3 = 74
...
Quy luật số hạng tổng quát của dãy số này có dạng: un = 80 – (n – 1).3 = 83 – 3n.
Thay n = 11 ta có u11 = 83 - 3.11 = 50 tấm pin.
Một quần thể động vật trong khu bảo tồn thiên nhiên có số lượng cá thể ở năm đầu tiên hoạt động là 500 con. Do môi trường sống lý tưởng, kể từ năm thứ hai trở đi, số lượng cá thể của quần thể ở cuối mỗi năm luôn tăng thêm đúng 10% so với số lượng cá thể của năm liền trước đó. Hãy tính số lượng cá thể của quần thể này ở cuối năm thứ 3 hoạt động.
Đáp án: 605
Cuối năm 1: u1 = 500 con.
Cuối năm 2: u2 = 500 + 500.10% = 550 con.
Cuối năm 3: u3 = 550 + 550.10% = 605 con.
Một xưởng sản xuất sợi thủy tinh thử nghiệm tính chịu lực của một loại dây cáp đặc biệt. Lần thử đầu tiên dây chịu được lực kéo tối đa là 64 kN. Kể từ lần thử thứ hai trở đi, do cấu trúc sợi bị mỏi, lực kéo tối đa dây chịu được ở mỗi lần kế tiếp luôn giảm đi một nửa so với lần thử ngay trước đó. Hỏi ở lần thử thứ mấy thì lực kéo tối đa dây chịu được giảm xuống còn đúng 2 KN?
Đáp án: 6
Lần 1: u1 = 64 kN.
Lần 2: \({u_2} = \frac{{64}}{2} = 32{\rm{ kN}}\)
Lần 3: \({u_3} = \frac{{32}}{2} = 16{\rm{ kN}}\)
Lần 4: \({u_4} = \frac{{16}}{2} = 8{\rm{ kN}}\)
Lần 5: \({u_5} = \frac{8}{2} = 4{\rm{ kN}}\)
Lần 6: \({u_6} = \frac{4}{2} = 2{\rm{ kN}}\)
Vậy ở lần thử thứ 6, lực kéo dây chịu được giảm xuống còn đúng \(2{\rm{ kN}}\).
Một người công nhân nông trường thu hoạch mủ cao su, sản lượng thu hoạch tăng dần theo năng suất cây trồng qua các khu vực ô đất lân cận. Khu vực thứ nhất thu hoạch được \(15{\rm{ lít}}\) mủ, khu vực thứ hai thu hoạch được \(19{\rm{ lít}}\) mủ, khu vực thứ ba thu hoạch được \(23{\rm{ lít}}\) mủ, khu vực thứ tư thu hoạch được \(27{\rm{ lít}}\) mủ. Quy luật tăng đều này diễn ra liên tục cho các khu vực tiếp theo. Hỏi khu vực thứ bao nhiêu sẽ thu hoạch được chính xác \(95{\rm{ lít}}\) mủ cao su?
Đáp án: 21
Liệt kê dãy sản lượng mủ: u1 = 15; u2 = 19; u3 = 23; u4 = 27; …
Quy luật của dãy số này là số hạng sau luôn hơn số hạng trước đúng 4 đơn vị
=> un = 15 + (n – 1).4 = 11 + 4n.
Khi đó ta có 11 + 4n = 95 ⇔ n = 21.
Vậy đó là khu vực thứ 21.
Một thiết bị lọc dầu tuần hoàn của một nhà máy hóa chất lúc đầu chứa trong bể 2000 lít dầu thô. Mỗi ngày, quy trình công nghệ rút ra 20% lượng dầu hiện có ở ngày hôm trước để đưa đi chế biến, đồng thời hệ thống tự động cũng bơm bù vào bể thêm đúng 300 lít dầu thô mới. Tính lượng dầu (đơn vị: lít) còn lại trong bể của thiết bị sau đúng 2 ngày vận hành quy trình trên.
Đáp án: 1820
Ban đầu bể chứa: u0 = 2000 lít.
Sau ngày 1: Thiết bị lấy đi 20% (còn giữ 80%) rồi bơm thêm 300 lít mới:
u1 = 2000.0,8 + 300 = 1900 lít
Sau ngày 2: u2 = 1900.0,8 + 300 = 1820 lít
Vậy lượng dầu còn lại sau đúng 2 ngày vận hành là 1820 lít.








