Bài tập Bài toán thực tiễn gắn với phép tính lôgarit lớp 11 (có lời giải)
25 câu hỏi
Biết rằng khi độ cao tăng lên, áp suất không khí sẽ giảm và công thức tính áp suất dựa trên độ cao làa = 15 500(5 – logp),trong đó a là độ cao so với mực nước biển (tính bằng mét) và p là áp suất không khí (tính bằng pascal). Áp suất không khí ở đỉnh Everest có độ cao 8 850 m so với mực nước biển là bao nhiêu?
26 855,44 pascal;
26 855,45pascal;
28 855,44 pascal;
28 855,45pascal.
Đáp án đúng là: A
Ta có đỉnh Everest có độ cao 8 850 m so với mực nước biển nên a = 8 850.
Khi đó: 15 500(5 – log p) = 8 850
Vậy áp suất không khí ở đỉnh Everest xấp xỉ 26 855,44 pascal.
Bác An gửi tiết kiệm ngân hàng 100 triệu đồng kì hạn 12 tháng, với lãi suất không đổi là 6% một năm. Khi đó sau n năm gửi thì tổng số tiền bác An thu được (cả vốn lẫn lãi) cho bởi công thức sau:A = 100.(1 + 0,06)n (triệu đồng).Hỏi sau ít nhất bao nhiêu năm, tổng số tiền bác An thu được không dưới 150 triệu đồng?
5 năm;
6 năm;
7 năm;
8 năm.
Đáp án đúng là: C
Ta có: A = 100.(1 + 0,06)n = 100.1,06n.
Với A = 150, ta có: 100.1,06n = 150 hay 1,06n = 1,5, tức là n = log1,06 1,5 ≈ 6,96.
Vì gửi tiết kiệm kì hạn 12 tháng (tức là 1 năm) nên n phải là số nguyên.
Do đó ta chọn n = 7.
Vậy sau ít nhất 7 năm thì bác An nhận được số tiền ít nhất là 150 triệu đồng.
Tốc độ của gió S (dặm/giờ) gần tâm của một con lốc xoáy được tính bởi công thức S = 93logd + 65, trong đó d (dặm) là quãng đường cơn lốc xoáy đó di chuyển được.Tính quãng đường cơn lốc xoáy đã di chuyển được, biết tốc độ của gió ở gần tâm bằng 140 dặm/giờ (làm tròn kết quả đến hàng phần mười).
6,5 dặm;
6,4 dặm;
6,3 dặm;
6,1 dặm.
Đáp án đúng là: B
Ta có: S = 93logd + 65, trong đó d (dặm) là quãng đường cơn lốc xoáy đó di chuyển được.
Với S = 140 (dặm/giờ) suy ra: 93logd + 65 = 140
(dặm).
Vậy khi tốc độ của gió ở gần tâm bằng 140 dặm/giờ thì cơn lốc xoáy di chuyển được quãng đường gần bằng 6,4 dặm.
Độ pH của một dung dịch được tính theo công thức pH = –log x, trong đó x là nồng độ ion H+ của dung dịch đó tính bằng mol/L. Biết rằng độ pH của dung dịch A lớn hơn độ pH của dung dịch B là 0,7. Dung dịch B có nồng độ ion H+ gấp bao nhiêu lần nồng độ ion H+ của dung dịch A?
3;
4;
5;
6.
Đáp án đúng là: C
Ta có: pHA = – log xA; pHB = – log xB
Khi đó pHA – pHB = –logxA + logxB =
Do đó (lần).
Vậy dung dịch B có nồng độ ion H+ gấp 5 lần nồng độ ion H+ của dung dịch A.
Với nước biển có nồng độ muối 30%, nhiệt độ T (oC) của nước biển được tính bởi công thức T = 7,9ln(1,0245 – d) + 61,84, ở đó d (g/cm3) là khối lượng riêng của nước biển. Biết vùng biển khơi mặt ở một khu vực có nồng độ muối 30% và nhiệt độ là8 °C. Tính khối lượng riêng của nước biển ở vùng biển đó (làm tròn kết quả đến hàng phần chục nghìn).
1,0234 (g/cm3);
1,0235 (g/cm3);
1,0324 (g/cm3);
1,0325 (g/cm3).
Đáp án đúng là: A
Do vùng biển khơi mặt ở một khu vực có nồng độ muối 30% và nhiệt độ là8oC nên ta có T = 8. Suy ra: 7,9ln(1,0245 – d) + 61,84 = 8
Vậy khối lượng riêng của nước biển ở vùng biển đó là d ≈ 1,0234 (g/cm3).
Một người gửi tiết kiệm 100 triệu đồng vào ngân hàng theo thể thức lãi kép kì hạn 6 tháng với lãi suất 8% một năm. Giả sử lãi suất không thay đổi. Hỏi sau bao lâu người đó nhận được ít nhất 120 triệu đồng?
A. 31 tháng;
B. 30 tháng;
C. 32 tháng;
D.28 tháng.
31 tháng;
30 tháng;
32 tháng;
28 tháng.
Đáp án đúng là: B
Vì lãi suất 8% một năm nên lãi suất kì hạn 6 tháng sẽ là r = 4% = 0,04.
Thay P = 100; r = 0,04 và A = 120 vào công thức A = P(1 + r)N , ta được:
120 = 100(1 + 0,04)N ⇔ 1,2 = 1,04N ⇔ N = log1,04 1,2 ≈ 4,65.
Vì gửi tiết kiệm kì hạn 6 tháng nên N phải là số nguyên.
Do đó ta chọn N = 5.
Vậy sau 5 kì gửi tiết kiệm kì hạn 6 tháng, tức là sau 30 tháng, người đó sẽ nhận được ít nhất 120 triệu đồng.
Người ta nuôi cấy vi khuẩn Bacillus subtilis trong nồi lên men và thu được số liệu sau: Lúc ban đầu, số tế bào/1 ml dịch nuôi là 2.102. Sau 13 giờ, số tế bào/1 ml dịch nuôi là 3,33.109. Biết vi khuẩn Bacillus subtilis sinh trưởng trong điều kiện tối ưu và sinh sản theo hình thức tự nhân đôi. Hỏi sau bao nhiêu phút, vi khuẩn Bacillus subtilis tự nhân đôi một lần (làm tròn kết quả đến hàng đơn vị)?
30;
31;
32;
33.
Đáp án đúng là: D
Hướng dẫn giải
Đổi 13 giờ = 780 phút.
Gọi T (phút) là thời gian để vi khuẩn Bacillus subtilis tự nhân đôi một lần.
Gọi M0 là số tế bào/1 ml dịch nuôi của vi khuẩn Bacillus subtilis tại thời điểm ban đầu (t = 0). Theo bài ra ta có: M0 = 2.102.
Gọi Mt là số tế bào/1 ml dịch nuôi của vi khuẩn Bacillus subtilis tại thời điểm t.
Sau 13 giờ, số tế bào/1 ml dịch nuôi là 3,33.109 nên ta có: M780 = 3,33 . 109.
Do vi khuẩn Bacillus subtilis sinh trưởng trong điều kiện tối ưu và sinh sản theo hình thức tự nhân đôi nên ta có:
Suy ra:
Vậy sau gần 33 phút vi khuẩn Bacillus subtilis tự nhân đôi một lần.
Cường độ của một trận động đất, kí hiệu là M (độ Richter), được cho bởi công thức M = logA – logA0, ở đó A là biên độ rung chấn tối đa đo được bằng địa chấn kế và A0 là biên độ chuẩn (hằng số phụ thuộc vào từng khu vực).
Vào hồi 12 giờ 14 phút trưa ngày 27/07/2020, tại khu vực huyện Mộc Châu, Sơn La xảy ra trận động đất thứ nhất với cường độ 5,3 độ Richter. Trong vòng 20 tiếng đồng hồ, Sơn La đã xảy ra liên tiếp 7 trận động đất. Đến 8 giờ 26 phút sáng 28/07/2020, trận động đất thứ bảy xảy ra với cường độ 4 độ Richter.
Biết rằng biên độ chuẩn được dùng cho cả tỉnh Sơn La. Hỏi biên độ rung chấn tối đa của trận động đất thứ nhất gấp khoảng mấy lần biên độ rung chấn tối đa của trận động đất thứ bảy (làm tròn kết quả đến hàng đơn vị)?
11;
15;
20;
21.
Đáp án đúng là: C
Gọi A1, M1, A7, M7 lần lượt là biên độ rung chấn tối đa và độ Richter của trận động đất thứ nhất và trận động đất thứ bảy.
Ta có: M1 = logA1 – logA0 = 5,3 và M7 = logA7 – logA0 = 4.
Do đóM1–M7= logA1 – logA0–logA7 + logA0
⇒ 5,3 – 4 = logA1–logA7
Vậy biên độ rung chấn tối đa của trận động đất thứ nhất gấp khoảng 20 biên độ rung chấn tối đa của trận động đất thứ bảy.
Đồng vị phóng xạ Uranium – 235 (thường được sử dụng trong điện hạt nhân) có chu kỳ bán rã là T = 703 800 000 năm. Theo đó, nếu ban đầu có 100 gam Uranium – 235 thì sau t năm, do bị phân rã, lượng Uranium – 235 còn lại được tính bởi công thức (g). Sau thời gian bao lâu thì lượng Uranium – 235 còn lại bằng 90% so với ban đầu?
106 979 777 năm;
106 979 776 năm;
106 979 779 năm;
106 979 780 năm.
Đáp án đúng là: A
Lượng Uranium – 235 còn lại bằng 90% so với ban đầu là 90 g.
Khi đó M = 90 g, ta có phương trình:
(năm).
Vậy sau khoảng 106 979 777 năm thì lượng Uranium-235 còn lại bằng 90% so với ban đầu.
Để tính độ tuổi của mẫu vật bằng gỗ, người ta đo độ phóng xạ có trong mẫu vật tại thời điểm t (năm) (so với thời điểm ban đầu t = 0), sau đó sử dụng công thức tính độ phóng xạ (đơn vị là Becquerel, kí hiệu Bq) với H0 là độ phóng xạ ban đầu (tại thời điểm t = 0); là hằng số phóng xạ, T = 5 730 (năm). Khảo sát một mẫu gỗ cổ, các nhà khoa học đo được độ phóng xạ là 0,215 Bq. Biết độ phóng xạ của mẫu gỗ tươi cùng loại là 0,250 Bq. Xác định độ tuổi của mẫu gỗ cổ đó (làm tròn kết quả đến hàng đơn vị).
1246 năm;
1247 năm;
1248 năm;
1249 năm.
Đáp án đúng là: B
104,5 pascal.
104,6 pascal.
104,7 pascal.
104,8 pascal.
Hướng dẫn giải:
Đáp án đúng là: B
Thay độ cao a = 6200 m vào công thức đã cho, ta có: 6200 = 15500(5 – log p)
⇒ 5 – log p = \(\frac{{6200}}{{15500}}\) ⇔ 5 – log p = 0,4 ⇔ log p = 5 – 0,4 = 4,6
⇔ p = 104,6 (pascal).
5 năm.
6 năm.
7 năm.
8 năm.
Hướng dẫn giải:
Đáp án đúng là: B
Ta có: A = 200(1 + 0,07)n = 200⋅1,07n
Với A = 300, ta có: 200⋅1,07n = 300 hay 1,07n = 1,5; tức là n = log1,071,5 ≈ 5,99.
Vì gửi tiết kiệm kì hạn 12 tháng (tức 1 năm) nên n phải là số nguyên.
Do đó ta chọn n = 6.
Vây sau ít nhất 6 năm thì bác An nhận được số tiền ít nhất là 300 triệu đồng.
3,96.
3,98.
4,32.
4,56.
Hướng dẫn giải:
Đáp án đúng là: B
Ta có công thức tính độ pH dựa vào nồng độ ion H+ là: pH = –log[H+] ⇒ [H+] = 10–pH
Gọi nồng độ ion H+ của nước chanh là [H+]chanh. Vì nước chanh có pH = 2,4 nên:
[H+]chanh = 10–2,4
Gọi nồng độ ion H+ của giấm là [H+]giấm. Vì giấm có pH = 3 nên: [H+]giấm = 10–3
Tỉ số nồng độ H+ của nước chanh so với giấm là:
\(\frac{{{{\left[ {{H^ + }} \right]}_{chanh}}}}{{{{\left[ {{H^ + }} \right]}_{gi\^a m}}}}\) = \(\frac{{{{10}^{ - 2,4}}}}{{{{10}^{ - 3}}}}\) = 10–2,4–(–3) = 100,6 ≈ 3,98.
20 giờ.
6 giờ.
12 giờ.
8 giờ.
Hướng dẫn giải:
Đáp án đúng là: D
Thay số lượng vi khuẩn ban đầu S0 = 40 và số lượng vi khuẩn sau đó S = 671088640 vào công thức S = S0 ⋅ 2n, ta có: 671088640 = 40 ⋅ 2n
⇒ Số lần nhân đôi n là: 2n = \(\frac{{671088640}}{{40}}\) = 16777216
⇒ n = log2(16777216) = log2224 = 24
Vì cứ sau 20 phút vi khuẩn lại nhân đôi một lần, nên tổng thời gian để vi khuẩn đạt số lượng trên là: t = 24 ⋅ 20 = 480 (phút) = \(\frac{{480}}{{60}}\) = 8 (giờ).
106 979 777 năm;
106 979 776 năm;
106 979 779 năm;
106 979 780 năm.
Hướng dẫn giải:
Đáp án đúng là: A
Theo đề bài, lượng Uranium –235 ban đầu là 100 g. Để lượng còn lại bằng 90% so với ban đầu thì khối lượng lúc sau là: M = 100 ⋅ 90% = 90 (g)
Thay M = 90 và T = 703 800 000 vào công thức đề bài cho, ta có:
90 = 100 ⋅ \({\left( {\frac{1}{2}} \right)^{\frac{t}{{703800000}}}}\) ⇔ \({\left( {\frac{1}{2}} \right)^{\frac{t}{{703800000}}}}\) = \(\frac{{90}}{{100}}\) = 0,9
Lấy lôgarit cơ số \(\frac{1}{2}\) cả hai vế, ta được: \(\frac{t}{{703800000}}\) = \({\log _{\frac{1}{2}}}(0,9)\)
⇔ t = 703 800 000 ⋅ \({\log _{\frac{1}{2}}}(0,9)\) ≈ 106 979 777,2 (năm) ≈ 106 979 777 (năm).
Mức cường độ âm L (tính bằng decibel, kí hiệu là dB) của một âm có cường độ âm I (W/m2) được xác định bởi công thức L = 10log\(\frac{I}{{{I_0}}}\), trong đó I0 = 10–12 W/m2 là cường độ âm chuẩn. Biết rằng cường độ âm của một cuộc trò chuyện bình thường là I1 = 10–7 W/m2 và cường độ âm của tiếng xe máy chạy trên đường là I2 = 10–4 W/m2. Xét tính đúng hay sai của các khẳng định sau:
Mức cường độ âm của cuộc trò chuyện bình thường là 50 dB.
Mức cường độ âm của tiếng xe máy chạy trên đường là 40 dB.
Mức cường độ âm của tiếng xe máy chạy trên đường lớn hơn mức cường độ âm của cuộc trò chuyện bình thường là 30 dB.
Một xưởng cơ khí có tiếng ồn với cường độ âm đạt I = 10–2 W/m2 thì mức cường độ âm tại đó là 100 dB.
Hướng dẫn giải:
Đáp án: a) Đúng. b) Sai. c) Đúng. d) Đúng.
a) Đúng. Thay I0 = 10–12 W/m2, I1 = 10–7 W/m2 vào công thức, ta được:
L1 = 10log\(\frac{{{{10}^{ - 7}}}}{{{{10}^{ - 12}}}}\) = 10log(105) = 10 ⋅ 5 = 50 dB.
b) Sai. Thay I0 = 10–12 W/m2, I2 = 10–4 W/m2 vào công thức, ta được:
L2 = 10log\(\frac{{{{10}^{ - 4}}}}{{{{10}^{ - 12}}}}\) = 10log(108) = 10 ⋅ 8 = 80 dB ≠ 40 dB.
c) Đúng. Theo câu a), L1 = 50 dB, L2 = 80 dB
⇒Mức cường độ âm của tiếng xe máy chạy trên đường so với mức cường độ âm của cuộc trò chuyện bình thường là: 80 – 50 = 30 dB.
d) Đúng. Thay I = 10–2 W/m2 vào công thức, ta được:
L = 10log\(\frac{{{{10}^{ - 2}}}}{{{{10}^{ - 12}}}}\) = 10log(1010) = 10 ⋅ 10 = 100 dB
Vậy mức cường độ âm tại xưởng cơ khí là 100 dB.
Biết rằng độ pH của một dung dịch được tính theo công thức pH = –log[H+] với [H+] là nồng độ ion Hydrogen (mol/lít). Cho các khẳng định sau:
Dung dịch có nồng độ ion [H+] = 10–7 mol/lít thì có pH = 7.
Nước cất có độ pH bằng 7 là dung dịch có tính acid.
Nếu độ pH của dung dịch giảm đi 1 đơn vị thì nồng độ ion [H+] tăng lên 10 lần.
Dung dịch A có pH = 3, dung dịch B có pH = 5. Khi đó nồng độ ion [H+] của dung dịch A gấp 2 lần nồng độ ion [H+] của dung dịch B.
Hướng dẫn giải:
Đáp án: a) Đúng. b) Sai. c) Đúng. d) Sai.
a) Đúng. Thay [H+] = 10–7 vào công thức, ta có: pH = –log(10–7) = 7.
b) Sai. Dung dịch có:
pH < 7: có tính axit.
pH = 7: trung tính.
pH > 7: có tính bazơ.
Nước cất có pH = 7 nên là dung dịch trung tính, không phải dung dịch có tính axit.
c) Đúng. Giả sử pH2 = pH1 – 1 ⇒ –log[H+]2 = –log[H+]1 – 1
⇒ log[H+]2 = log[H+]1 + 1 = log(10 ⋅ [H+]1) ⇒ [H+]2 = 10[H+]1.
d) Sai. Ta có:
Với dung dịch A, thay pH = 3 vào công thức:
⇒ −log[H+]A = 3 ⇔ log[H+]A = −3 ⇔ [H+]A = 10−3 (mol/lít).
Với dung dịch B, thay pH = 5 vào công thức:
⇒ −log[H+]B = 5 ⇔ log[H+]B = −5 ⇔ [H+]B = 10−5 (mol/lít).
Do đó, \(\frac{{{{[{H^ + }]}_A}}}{{{{[{H^ + }]}_B}}}\) = \(\frac{{{{10}^{ - 3}}}}{{{{10}^{ - 5}}}}\) = 10−3−(−5) = 102 = 100
⇒ [H+]A = 100[H+]B.
Vậy nồng độ ion [H+] của dung dịch A gấp 100 lần nồng độ ion [H+] của dung dịch B, không phải gấp 2 lần.
Biết rằng khi độ cao tăng lên, áp suất không khí sẽ giảm và công thức tính áp suất dựa trên độ cao là a = 15500(5 – log p), trong đó a là độ cao so với mực nước biển (tính bằng mét) và p là áp suất không khí (tính bằng pascal). Xét tính đúng hay sai của các phát biểu sau:
Ở mực nước biển (độ cao bằng 0 m), áp suất không khí bằng 100000 pascal.
Ở độ cao 15500 m, áp suất không khí tính theo công thức trên bằng 10000 pascal.
Nếu áp suất không khí đo được là 25000 pascal thì độ cao tương ứng nhỏ hơn 7000 m.
Khi độ cao tăng thêm 15500 m thì áp suất không khí bằng \(\frac{1}{{10}}\) so với ban đầu.
Hướng dẫn giải:
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Đúng. Thay a = 0 vào công thức a = 15500(5 – log p) ⇒ 15500(5 – log p) = 0
⇒ log p = 5 ⇒ p = 105 = 100000 (pascal).
b) Đúng. Thay a = 15500 vào công thức a = 15500(5 – log p):
⇒ 15500(5 – log p) = 15500 ⇒ 5 – log p = 1 ⇒ log p = 4
⇒ p = 104 = 10000 (pascal).
c) Sai. Thay p = 25000 vào công thức a = 15500(5 – log p):
⇒ a = 15500(5 – log 25000) ≈ 15500(5 – 4,398) = 15500 ⋅ 0,602 = 9331 m > 7000 m.
d) Đúng. Ta có a2 – a1 = 15500 ⇒ 15500(5 – log p2) – 15500(5 – log p1) = 15500
⇒ (5 – log p2) – (5 – log p1) = 1 ⇒ 5 – log p2 – 5 + log p1 = 1
⇒ log p1 – log p2 = 1 ⇒ log\(\left( {\frac{{{p_1}}}{{{p_2}}}} \right)\) = 1 ⇒ p1 = 10p2, tức là áp suất mới còn bằng \(\frac{1}{{10}}\) so với ban đầu.
Công thức log x = 11,8 + 1,5M cho biết mối liên hệ giữa năng lượng x tạo ra (tính theo erg, 1 erg tương đương 10–7 J) với độ lớn M theo thang Richter của một trận động đất. Xét tính đúng sai của các khẳng định sau:
Trận động đất có độ lớn 2 độ Richter tạo ra năng lượng khoảng 6,3⋅1034 erg.
Trận động đất có độ lớn 3 độ Richter tạo ra năng lượng khoảng 2⋅109 J.
Trận động đất có độ lớn 5 độ Richter tạo ra năng lượng gấp 100 lần so với trận động đất có độ lớn 3 độ Richter.
Một trận động đất có độ lớn 7 độ Richter tạo ra năng lượng gấp 1000 lần so với trận động đất có độ lớn 5 độ Richter.
Hướng dẫn giải:
Đáp án: a) Sai. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Sai. Thay M = 2 vào công thức, ta có:
log x = 11,8 + 1,5⋅2 = 14,8 ⇒ x = 1014,8 = 100,8⋅1014 ≈ 6,3⋅1014 erg.
Vậy khẳng định trên sai.
b) Đúng. Thay M = 3 vào công thức, ta có:
log x = 11,8 + 1,5 ⋅ 3 = 16,3
⇒ x = 1016,3 = 100,3⋅1016 ≈ 2⋅1016 erg.
Vì 1 erg = 10−7 J ⇒ x = 2 ⋅ 1016 ⋅ 10−7 = 2 ⋅ 109 (J).
c) Sai. Gọi x3 và x5 lần lượt là năng lượng tạo ra bởi trận động đất 3 độ Richter và 5 độ Richter. Ta có:
Với M = 5: log x5 = 11,8 + 1,5 ⋅ 5 (1)
Với M = 3: log x3 = 11,8 + 1,5 ⋅ 3 (2)
Lấy (1) trừ (2), ta được:
log x5 – log x3 = (11,8 + 1,5 ⋅ 5) – (11,8 + 1,5 ⋅ 3)
⇔ log\(\left( {\frac{{{x_5}}}{{{x_3}}}} \right)\) = 1,5(5 – 3) = 1,5 ⋅ 2 = 3
⇒ \(\frac{{{x_5}}}{{{x_3}}}\) = 103 = 1000
Như vậy, trận động đất có độ lớn 5 độ Richter tạo ra năng lượng gấp 1000 lần chứ không phải 100 lần so với trận động đất có độ lớn 3 độ Richter.
d) Đúng. Gọi x7, x5 lần lượt là năng lượng của trận động đất có độ lớn 7 độ Richter và 5 độ Richter. Ta có:
Với M = 7: log x7 = 11,8 + 1,5 ⋅ 7 (3)
Với M = 5: log x5 = 11,8 + 1,5 ⋅ 5 (4)
Lấy (3) trừ (4), ta được: log x7 – log x5 = (11,8 + 1,5 ⋅ 7) – (11,8 + 1,5 ⋅ 5)
⇔ log\(\left( {\frac{{{x_7}}}{{{x_5}}}} \right)\) = 1,5(7 – 5) ⇔ log\(\left( {\frac{{{x_7}}}{{{x_5}}}} \right)\) = 1,5 ⋅ 2 ⇔ log\(\left( {\frac{{{x_7}}}{{{x_5}}}} \right)\) = 3
⇔ \(\frac{{{x_7}}}{{{x_5}}}\) = 103 = 1000
Vậy trận động đất 7 độ Richter tạo ra năng lượng gấp 1000 lần trận động đất 5 độ Richter.
Ở độ cao 19,4 km so với mực nước biển, áp suất khí quyển đo được là 76 mmHg.
Một nhà leo núi đang ở độ cao mà áp suất khí quyển đo được là 380 mmHg thì độ cao của người đó xấp xỉ 5,84 km (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).
Ở độ cao 9,7 km so với mực nước biển, áp suất khí quyển đạt 380 mmHg.
Từ công thức đã cho, ta có thể biểu diễn áp suất khí quyển P theo độ cao h qua công thức P = 760⋅\({10^{ - \frac{h}{{19,4}}}}\)
Hướng dẫn giải:
Đáp án: a) Đúng. b) Đúng. c) Sai. d) Đúng.
a) Đúng. Thay h = 19,4 km vào công thức ta được:
19,4 = 19,4log\(\frac{{760}}{P}\) ⇔ log\(\frac{{760}}{P}\) = 1 ⇔ \(\frac{{760}}{P}\) = 101 = 10 ⇔ P = 76 (mmHg).
b) Đúng. Thay P = 380 mmHg vào công thức, ta được
h = 19,4log\(\frac{{760}}{{380}}\) = 19,4log2 ≈ 19,4 ⋅ 0,3 ≈ 5,84 (km).
c) Sai. Thay h = 9,7 km vào công thức, ta được:
9,7 = 19,4log\(\frac{{760}}{P}\) ⇔ log\(\frac{{760}}{P}\) = \(\frac{{9,7}}{{19,4}}\) = 0,5
⇔ \(\frac{{760}}{P}\) = 100,5 ⇔ \(\frac{{760}}{P}\) = \(\sqrt {10} \) ⇔ P = \(\frac{{360}}{{\sqrt {10} }}\) = 36\(\sqrt {10} \)≈ 113,8 (mmHg) ≠ 380 mmHg.
d) Đúng. Ta có: h = 19,4log\(\frac{{760}}{P}\). Chia cả 2 vế cho 19,4, ta được:
log\(\frac{{760}}{P}\) = \(\frac{h}{{19,4}}\) ⇔ \(\frac{{760}}{P}\) = \({10^{\frac{h}{{19,4}}}}\) ⇔ P = \(\frac{{760}}{{{{10}^{\frac{h}{{19,4}}}}}}\) = 760⋅\({10^{ - \frac{h}{{19,4}}}}\).
Trong thiên văn học, Định luật Kepler thứ ba về chu kì chuyển động của các hành tinh có thể biểu diễn qua công thức: log T = 1,5log d, trong đó T là chu kì quay quanh Mặt Trời của một hành tinh (tính bằng năm Trái Đất) và d là khoảng cách trung bình từ hành tinh đó đến Mặt Trời (tính bằng đơn vị thiên văn AU). Biết rằng khoảng cách trung bình từ Sao Hỏa đến Mặt Trời là 1,52 AU. Tính chu kì quay quanh Mặt Trời của Sao Hỏa (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).
Hướng dẫn giải:
Đáp án: 1,87
Thay khoảng cách d = 1,52 AU vào công thức ta được:
log T = 1,5log1,52 ⇔ log T ≈ 1,5 ⋅ 0,18184 ⇔ log T ≈ 0,27276
⇔ T = 100,27276 ≈ 1,87 (năm Trái Đất)
Vậy chu kì quay quanh Mặt Trời của Sao Hỏa là 1,87 năm Trái Đất.
Một dung dịch nước tạp chất có nồng độ ion Hydrogen [H+] = 4,5 ⋅ 10–6 mol/lít. Tính độ pH của dung dịch nước này (làm tròn kết quả đến hàng phần mười).
Hướng dẫn giải:
Đáp án: 5,3
Ta có: pH = –log[H+].
Thay [H+] = 4,5 ⋅ 10–6: pH = –log(4,5 ⋅ 10–6) = –(log 4,5 + log 10–6) = –[log 4,5 + (–6)]
= 6 – log 4,5 ≈ 6 – 0,65 ≈ 5,3.
Độ Richter của một trận động đất được tính theo công thức M = log\(\frac{A}{{{A_0}}}\), trong đó A là biên độ tối đa của trận động đất và A0 là biên độ chuẩn. Cho biết một trận động đất có biên độ tối đa A lớn gấp 250000 lần biên độ chuẩn A0. Hãy tính độ Richter của trận động đất đó (làm tròn đến hàng phần mười).
Hướng dẫn giải:
Đáp án: 5,4
Theo đề bài, ta có: \(\frac{A}{{{A_0}}}\) = 250000
Thay vào công thức tính độ Richter ta được: M = log 250000 ≈ 5,4.
Vậy độ Richter của trận động đất đó là khoảng 5,4 độ Richter.
Cường độ âm L từ một loa phát thanh đặt ngoài trời đo được có giá trị cường độ âm I = 2,5 ⋅ 10–4 W/m2. Tính mức cường độ âm L đó theo đơn vị decibel (dB) với cường độ âm chuẩn là I0 = 10–12 W/m2. Biết mức cường độ âm L = 10log\(\left( {\frac{I}{{{I_0}}}} \right)\) (dB). (làm tròn kết quả đến hàng đơn vị).
Hướng dẫn giải:
Đáp án: 84
Thay I = 2,5 ⋅ 10–4 W/m2, I0 = 10–12 W/m2 vào công thức, ta có:
L = 10log\(\left( {\frac{{2,5 \cdot {{10}^{ - 4}}}}{{{{10}^{ - 12}}}}} \right)\) = 10log(2,5 ⋅ 108) = 10(log 2,5 + log108)
L = 10(log 2,5 + 8) ≈ 10(8 + 0,3979) ≈ 83,979 ≈ 84 dB.
Khi gửi tiết kiệm P (đồng) theo hình thức lãi kép định kỳ với lãi suất mỗi kỳ là r thì số tiền A (cả vốn lẫn lãi) nhận được sau t kỳ gửi được tính theo công thức:
A = P(1 + r)t. Ông C gửi tiết kiệm số tiền ban đầu là 100 triệu đồng vào ngân hàng với kỳ hạn 1 năm, lãi suất cố định là r = 5,5%/năm. Biết rằng ông C không rút tiền ra và tiền lãi của mỗi năm được nhập vào vốn để tính lãi cho năm tiếp theo. Hãy áp dụng công thức trên để tính số năm cần thiết để tổng số tiền ông C nhận được (gồm cả gốc và lãi) gấp đôi số tiền ban đầu.
Hướng dẫn giải:
Đáp án: 13
Ta có: Thay P = 100 (triệu đồng), r = 5,5% = 0,055 vào công thức, ta được:
A = 100⋅(1 + 0,055)t.
Để số tiền ông C nhận được (gồm cả gốc và lãi) gấp đôi số tiền ban đầu ⇒ A = 200 (triệu đồng)
⇒ 100⋅(1 + 0,055)t = 200 hay 100(1,055)t = 200
⇔ (1,055)t = \(\frac{{200}}{{100}}\) = 2. Lấy lôgarit hai vế:
⇒ log1,055t = log2 ⇔ t⋅log1,055 = log2 ⇔ t = \(\frac{{\log 2}}{{\log 1,055}}\) ≈ \(\frac{{0,3010}}{{0,0233}}\) ≈ 12,95
Vì tiền được tính theo kì hạn 1 năm, nên t phải là số nguyên
Do đó, t = 13
Vậy sau 13 năm thì ông C nhận được số tiền (gồm cả gốc và lãi) gấp đôi ban đầu.








