54 bài tập Hàm số bậc hai và giải bài toán bằng cách lập phương trình có lời giải
54 câu hỏi
Một vật rơi từ trên đỉnh núi ở độ cao so với mặt đất là 100 mét. Quãng đường chuyển động \(S\) (mét) của vật rơi phụ thuộc vào thời gian \(t\) (giây) bởi công thức \(S = 4{t^2}\).
a) Sau 2 giây vật này cách mặt đất bao nhiêu mét?
b) Sau bao lâu vật này tiếp đất?
a) Sau 2 giây vật này chuyển động được số mét là: \(S = {4.2^2} = 16(\;{\rm{m}})\).
Vậy sau 2 giây vật này cách mặt đất số mét là: \(100 - 16 = 84(\;{\rm{m}})\).
b) Vật này tiếp đất sau khi đi được quãng đường bằng độ cao của vật so với mặt đất nên thời gian để vật tiếp đất là \(t\) thì \(100 = 4{{\rm{t}}^2} \Leftrightarrow {{\rm{t}}^2} = 25 \Leftrightarrow {\rm{t}} = 5\) (do \({\rm{t}} > 0\) ).
Vậy vật sẽ tiếp đất sau 5 giây.
Một hòn đá rơi xuống một cái hang, khoảng cách rơi xuống h (tính bằng mét) được cho bởi công thức \({\rm{h}} = 9,8.{{\rm{t}}^2}\), trong đó t là thời gian rơi (tính bằng giây).
a) Hãy tính độ sâu của hang nếu mất 3 giây để hòn đá chạm đáy.
b) Nếu hang sâu 156,8 mét thì phải mất bao lâu để hòn đá chạm tới đáy.
a) Áp dụng công thức \({\rm{h}} = 9,8.{{\rm{t}}^2}\) ta có: \({\rm{t}} = 3\;{\rm{s}} \Rightarrow {\rm{h}} = 9,{8.3^2} = 88,2(\;{\rm{m}})\).
Vậy hang này sâu \(88,2\;{\rm{m}}\).
b) Áp dụng công thức \(h = 9,8.{{\rm{t}}^2}\) ta có: \({\rm{h}} = 156,8(\;{\rm{m}}) \Rightarrow {{\rm{t}}^2} = \frac{{156,8}}{{9,8}} = 16 \Rightarrow {\rm{t}} = 4\) (s)
Vậy mất 4 giây để hòn đá chạm đất.
Lực \(F\) (tính bằng đơn vị N ) của gió thổi vào cánh buồm tỷ lệ với vận tốc của gió \(({\rm{km}}/{\rm{h}})\) bằng công thức \(F = k.{v^2}\). Biết nếu vận tốc của gió là \(5\;{\rm{km}}/{\rm{h}}\) thì lực của gió thổi vào cánh buồm là 100 N.
a) Tìm hệ số \(k\).
b) Cánh buồm chỉ chịu được lực tối đa là 3000 N. Hỏi nếu vận tốc gió là \(30\;{\rm{km}}/{\rm{h}}\) thì thuyền có thể ra khơi
được không?
a) Vì \({\rm{v}} = 5\;{\rm{km}}/{\rm{h}}\) thì \({\rm{F}} = 100\;{\rm{N}}\). Suy ra: \(100 = k \cdot {5^2} \Rightarrow k = 4\).
Vậy \(F = 4.{v^2}\)
b) Cho v=30km \(/{\rm{h}} \Rightarrow {\rm{F}} = {4.30^2} = 3600(\;{\rm{N}})\)
Vì \(3600\;{\rm{N}} > 3000\;{\rm{N}}\) nên thuyền không thể ra khơi.
Biết rằng nhiệt lượng tỏa ra trên dây dẫn được tính bởi công thức: \({\rm{Q}} = 0,24{\rm{R}}{{\rm{I}}^2}{\rm{t}}\). Trong đó \(Q\) là nhiệt lượng tính bằng \({\rm{J}},{\rm{R}}\) là điện trở tính bằng ôm \((\Omega )\), I là cường độ dòng điện tính bằng ampe \(({\rm{A}}),{\rm{t}}\) là thời gian tính bằng giây \(({\rm{s}})\). Dòng điện chạy qua một dây dẫn có điện trở \({\rm{R}} = 10\Omega \) trong thời gian 5 giây. Tính cường độ dòng điện khi nhiệt lượng tỏa ra là 180 J. (Làm tròn các kết quả đến chữ số thập phân thứ hai).
Thay \({\rm{R}} = 10,{\rm{t}} = 5\) vào hàm số ta được: \({\rm{Q}} = 0,24 \cdot 10 \cdot {{\rm{I}}^2} \cdot 5 = 12{{\rm{I}}^2}\)
Cường độ dòng điện khi tỏa nhiệt \(180{\rm{J}}\) là:
\({\rm{Q}} = 12{{\rm{I}}^2} \Rightarrow {{\rm{I}}^2} = \frac{{\rm{Q}}}{{12}} = \frac{{180}}{{12}} = 15 \Rightarrow {\rm{I}} = 3,87\)(nhận) hoặc \({\rm{I}} = - 3,87\) (loại)
Vậy cường độ dòng điện khoảng 3,87A.
Vận tốc lăn \(v\) (tính bằng \({\rm{m}}/{\rm{s}})\) của một vật thể nặng \({\rm{m}}\)(tính bằng kg ) được tác động một lực \({{\rm{E}}_{\rm{k}}}\) (gọi là năng lượng Kinetic Energy, ký hiệu \({{\rm{E}}_{\rm{k}}}\), tính bằng J ) được cho bởi công thức: \({{\rm{E}}_{\rm{k}}} = \frac{{\rm{m}}}{2}{{\rm{v}}^2}\)
a) Hãy tính vận tốc của một quả banh bowling nặng 3 kg khi một người tác động một lực \({{\rm{E}}_{\rm{k}}} = 18\;{\rm{J}}\)?
b) Muốn lăn một quả bowling nặng 3 kg với vận tốc \(6\;{\rm{m}}/{\rm{s}}\), thì cần sử dụng năng lượng Kinetic \({{\rm{E}}_{\rm{k}}}\) bao nhiêu Joule?
a) Thay \({E_k} = 18,m = 3\) vào công thức \({E_k} = \frac{m}{2}{v^2}\), ta được: \(\frac{3}{2} \cdot {v^2} = 18 \Rightarrow v = 2\sqrt 3 \approx 3,46\;{\rm{m}}/{\rm{s}}\).
Vậy vận tốc của một quả banh bowling là \(3,46\;{\rm{m}}/{\rm{s}}\).
b) Thay \({\rm{v}} = 6,\;{\rm{m}} = 3\) vào công thức \({{\rm{E}}_{\rm{k}}} = \frac{{\rm{m}}}{2}{{\rm{v}}^2}\), ta được: \({{\rm{E}}_{\rm{k}}} = \frac{3}{2} \cdot {6^2} = 54\;{\rm{J}}\).
Vậy cần sử dụng năng lượng Kinetic \({{\rm{E}}_{\rm{k}}} = 54\;{\rm{J}}\).
\({\rm{P}}\) là công suất (tính theo watt) cho một mạch điện được cho bởi công thức \({\rm{P}} = \frac{{{{\rm{V}}^2}}}{{\rm{R}}}\), trong đó điện áp V (tính theo volt) và \({\rm{R}}\) là điện trở trong (tính theo ohm).
a) Bóng đèn B có điện áp bằng 110 volt, điện trở trong là 88 ohm có công suất bao nhiêu?
b) Cần bao nhiêu volt để thắp sáng một bóng đèn A có công suất 100 watt và điện trở của mỗi bóng đèn là 80 ohm? (làm tròn các kết quả đến hàng đơn vị).
a) Ta có: \({\rm{P}} = \frac{{{{\rm{V}}^2}}}{{\rm{R}}} = \frac{{{{110}^2}}}{{88}} = 137,5 \simeq 138\)
Vậy công suất của bóng đèn B khoảng 138 watt.
b) Ta có: \(P = \frac{{{V^2}}}{R} \Rightarrow {V^2} = PR = 100.80 = 8000 \Rightarrow \left[ {\begin{array}{*{20}{l}}{V = 40\sqrt 5 {\rm{ }}({\rm{nh\^a n}})}\\{V = - 40\sqrt 5 {\rm{ (loai) }}}\end{array}} \right.\)
Vậy điện áp cần để thắp sáng bóng đèn A khoảng \(40\sqrt 5 \simeq 89\) volt.
Sóng thần (tsunami) là một loạt các đợt sóng tạo nên khi một thể tích lớn của nước đại dương bị dịch chuyển chớp nhoáng trên một quy mô lớn. Động đất cùng những dịch chuyển địa chất lớn bên trên hoặc bên dưới mặt nước, núi lửa phun và va chạm thiên thạch đều có khả năng gây ra sóng thần. Con sóng thần khởi phát từ dưới đáy biển sâu, khi còn ngoài xa khơi, sóng có biên độ (chiều cao sóng) khá nhỏ nhưng chiều dài của cơn sóng lên đến hàng trăm km. Con sóng đi qua đại dương với tốc độ trung bình 500 dặm một giờ. Khi tiến tới đất liền, đáy biển trở nên nông, con sóng không còn dịch chuyển nhanh được nữa, vì thế nó bắt đầu "dựng đứng lên" có thể đạt chiều cao một tòa nhà sáu tầng hay hơn nữa và tàn phá khủng khiếp.
Chiều sâu của đại dương và tốc độ của con sóng liên hệ bởi công thức \({\rm{d = }}\frac{{{{\rm{s}}^{\rm{2}}}}}{{\rm{g}}}\). Trong đó \({\rm{g}} = 9,81\;{\rm{m}}/{{\rm{s}}^2},\)\(\;{\rm{d}}\left( {{\rm{deep}}} \right)\)là chiều sâu đại dương tính bằng\(m\),\(s\)là vận tốc của sóng thần tính bằng \({\rm{m/s}}\).
a) Biết độ sâu trung bình của đại dương trên trái đất là \({\rm{d}} = 3785\) mét hãy tính tốc độ trung bình của các con sóng thần xuất phát từ đáy các đại dương theo \({\rm{km}}/{\rm{h}}\).
b) Susan Kieffer, một chuyên gia về cơ học chất lỏng địa chất của đại học Illinois tại Mỹ, đã nghiên cứu năng lượng của trận sóng thần Tohoku 2011 tại Nhật Bản. Những tính toán của Kieffer cho thấy tốc độ sóng thần vào xấp xỉ \(225\;{\rm{m}}/{\rm{s}}\). Hãy tính độ sâu của đại dương nơi xuất phát con sóng thần này.(Làm tròn các kết quả đến chữ số thập phân thứ hai).
a) Tốc độ trung bình của các con sóng thần xuất phát từ đáy các đại dương là:
\({\rm{d}} = \frac{{{{\rm{s}}^2}}}{{9,81}} \Rightarrow {{\rm{s}}^2} = 9,81\;{\rm{d}} = 9,81.3785 = 37130,85 \Rightarrow \left[ \begin{array}{l}{\rm{s}} = 192,69{\rm{ (nh\^a n) }}\\{\rm{s}} = - 192,69{\rm{ (loai)}}\end{array} \right.\)
Vậy tốc độ trung bình của các con sóng thần xuất phát từ đáy các đại dương khoảng \({\rm{s}} = 192,69(\;{\rm{m}}/{\rm{s}}) = 192,69.3600 = 693984(\;{\rm{m}}/{\rm{h}}) \approx 693,68(\;{\rm{km}}/{\rm{h}})\)
b) Độ sâu của đại dương nơi xuất phát con sóng thần này là: \(d = \frac{{{{\rm{s}}^2}}}{{9,81}} = \frac{{{{225}^2}}}{{9,81}} \simeq 5160,55\)
Vậy độ sâu của đại dương nơi xuất phát con sóng thần này khoảng \(5160,55\;{\rm{m}}\).
Một bể nước hình hộp chữ nhật có đáy hình vuông cạnh bằng \(x\) mét. Chiều cao của bể bằng 2 m. Kí hiệu \(V(x)\) là thể tích của bể.
a) Tính thể tích \(V(x)\) theo \(x\).
b) Giả sử chiều cao của bể không đổi, hãy tính \(V(1),V(2),V(3)\). Nhận xét khi \(x\) tăng lên 2 lần, 3 lần thì thể tích tương ứng của bể tăng lên mấy lần?
a) Hàm số biểu diễn thể tích của \(V\) theo \(x\) là: \(V(x) = 2{x^2}\left( {\;{{\rm{m}}^3}} \right)\)
b) Vì chiều cao của bể bơi không đổi nên ta có:
\(V(1) = {2.1^2} = 2\)
\(V(2) = {2.2^2} = 8\)
\(V(3) = {2.3^2} = 18\)
Khi cạnh của mặt đáy tăng hai lần thì thể tích tăng gấp \(\frac{8}{2} = 4\) lần,
Khi cạnh của mặt đáy tăng ba lần thì thể tích tăng \(\frac{{18}}{2} = 9\) lần.
Sau những vụ va chạm giữa các xe trên đường, cảnh sát thường sử dụng công thức dưới đây để ước lượng tốc độ \(v\) (đơn vị: dặm/giờ) của xe từ vết trượt trên mặt đường sau khi thắng đột ngột \(d = \frac{1}{{30f}}{v^2}\). Trong đó, \(d\) là chiều dài vết trượt của bánh xe trên nền đường tính bằng feet \(({\rm{ft}}),f\) là hệ số ma sát giữa bánh xe và mặt đường (là thước đo sự "trơn trượt" của mặt đường).
Đường Cao tốc Long Thành - Dầu Giây có tốc độ giới hạn là \(100\;{\rm{km}}/{\rm{h}}\). Sau một vụ va chạm giữa hai xe, cảnh sát đo được vết trượt của một xe là \(d = 185{\rm{ft}}\) và hệ số ma sát mặt đường tại thời điểm đó là \(f = 0,73\). Chủ xe đó nói xe của ông không chạy quá tốc độ. Hãy áp dụng công thức trên để ước lượng tốc độ chiếc xe đó rồi cho biết lời nói của người chủ xe đúng hay sai? (Biết 1 dặm \( = 1609\;{\rm{m}})\). (Làm tròn các kết quả đến chữ số thập phân thứ hai).
Lời giải
1 dặm \( = 1609\;{\rm{m}} = 1,609\;{\rm{km}}\). Tốc độ của người lái xe là:
\(d = \frac{1}{{30f}} \cdot {v^2} \Rightarrow {v^2} = 30fd = 30 \cdot 185 \cdot 0,73 = 4051,5 \Rightarrow \left[ {\begin{array}{*{20}{l}}{v = 63,65{\rm{ (nh\^a n) }}}\\{v = - 63,65{\rm{ (loai) }}}\end{array}} \right.\)
\(v = 63,65 \cdot 1,609 = 102,41(\;{\rm{km}}/{\rm{h}})\)
Vì \(102,41 > 100\) (km/giờ) nên người chủ xe chạy quá tốc độ.
Vậy người chủ xe nói sai.
Một quả bóng được thả rơi từ độ cao \(360m\). Khi bỏ qua sức cản của không khí, độ cao của quả bóng so với ví trí đứng thả (tính bằng mét) có thể mô tả bởi phương trình: \(s = a{t^2},a > 0\).
a) Xác định hệ số \(a\) biết sau 2 giây, bóng rơi được \(22m\).
b) Sau 5 giây, bóng cách đất bao nhiêu mét?
c) Quãng đường bóng đi được trong 2 giây cuối?
a) Khi \({\rm{t}} = 2,\;{\rm{s}} = 22\) ta có: \(22 = a \cdot {2^2} \Rightarrow a = 5,5\) (nhận).
Vậy phương trình quãng đường bóng rơi có dạng \({\rm{s}} = 5,5{{\rm{t}}^2}\).
b) Với \(t = 5\) ta có: \({\rm{s}} = 5,{5.5^2} = 137,5(\;{\rm{m}})\).
Khoảng cách của bóng cách đất lúc này là: \(360 - 137,5 = 222,5(\;{\rm{m}})\)
c) Với \({\rm{s}} = 360\) ta có \(360 = 5,5{{\rm{t}}^2} \Rightarrow {\rm{t}} = 8(\;{\rm{s}})\).
Quãng đường bóng rơi được trước 2 giây cuối là: \({\rm{s}} = 5,5 \cdot {{\rm{t}}^2} = 5,5 \cdot {(8 - 2)^2} = 198(\;{\rm{m}})\).
Vậy quãng đường bóng đi được trong 2 giây cuối là: \(360 - 198 = 162\;{\rm{m}}\).
Để tính toán chiều dài của dây đu trong thời gian một chu kỳ đong đưa (một chu kỳ đong đưa dây đu được tính từ lúc dây đu bắt đầu được đưa lên cao đến khi dừng hẳn người ta sử dụng công thức: \(L = \frac{g}{{4{\pi ^2}}}{T^2}\). Trong đó, \(T\) là thời gian một chu kỳ đong đưa \(({\rm{s}}),{\rm{L}}\) là chiều dài của dây đu \((\;{\rm{m}}),{\rm{g}} = 9,81\;{\rm{m}}/{{\rm{s}}^2},\pi \approx 3,14\).
a) Một người muốn thiết kế một dây đu sao cho một chu kỳ đong đưa kéo dài 3 giây. Hỏi người đó phải làm một sợi dây đu dài bao nhiêu?
b) Một sợi dây đu có chiều dài 8 m, hỏi chu kỳ đong đưa dài bao nhiêu giây?
(Làm tròn các kết quả đến hàng đơn vị).
a) Độ dài của sợi dây đu là: \(L = \frac{g}{{4{\pi ^2}}}{T^2} = \frac{{9,81}}{{4 \cdot 3,{{14}^2}}} \cdot {3^2} \simeq 7,029 \simeq 7\)
Vậy chiều dài sợi dây đu khoảng 7 m.
b) Ta có: \(L = \frac{g}{{4{\pi ^2}}}{T^2} \Rightarrow {T^2} = \frac{{4 \cdot 3,{{14}^2} \cdot 8}}{{9,81}} \simeq 32,16 \Rightarrow \left[ {\begin{array}{*{20}{l}}{T = 5,6({\rm{ nh\^a n }})}\\{T = - 5,6({\rm{ loai) }}}\end{array}} \right.\)
Vậy chu kì của sợi dây này khoảng 5,6 giây.
Với thiết kế độc đáo, cổng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội được xây dựng cách đây khoảng 50 năm và đã từng là niềm tự hào của tri thức thế hệ mới. Chiếc cổng có chiều cao \(7,6\;{\rm{m}}\) và khoảng cách giữa hai chân cổng là \({\rm{AB}} = 9\;{\rm{m}}\). Một bạn sinh viên đứng cách chân cổng một đoạn \({\rm{AE}} = 0,5\;{\rm{m}}\) thì đỉnh đầu bạn ấy vừa chạm vào cổng. Hỏi bạn đó cao bao nhiêu.
Phương trình parabol của cổng trường có dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
\({\rm{OA}} = \frac{{{\rm{AB}}}}{2} = \frac{9}{2} = 4,5\;{\rm{m}};{\rm{OE}} = {\rm{OA}} - {\rm{AE}} = 4,5 - 0,5 = 4\;{\rm{m}}\). Vì \({\rm{OS}} = 7,6\;{\rm{m}} \Rightarrow {\rm{A}}(4,5; - 7,6)\).
\({\rm{A}}(4,5; - 7,6) \in (P):y = a{x^2} \Rightarrow - 7,6 = a \cdot {(4,5)^2} \Rightarrow a = \frac{{ - 7,6}}{{4,{5^2}}} = - \frac{{152}}{{405}}\)
Vậy \((P):y = - \frac{{152}}{{405}}{x^2}\)
Thay \(x = 4\) vào \((P):y = - \frac{{152}}{{405}}{x^2}\), ta có: \(y = - \frac{{152}}{{405}}{4^2} \approx - 6\)
\( \Rightarrow {\rm{HM}} = 6\;{\rm{m}} \Rightarrow {\rm{ME}} = {\rm{HE}} - {\rm{HM}} = 7,6 - 6 = 1,6\;{\rm{m}}\)
Vậy bạn sinh viên đó cao \(1,6\;{\rm{m}}\).
Từ lan can một tòa nhà cách mặt đất \(18m\) bạn An ném một chiếc máy bay đồ chơi theo phương ngang xuống đất. Biết máy bay rơi xuống theo quỹ đạo là một đường parabol và sau 6 giây kể từ vị trí cao nhất đó, máy bay rơi chạm mặt đất. Tìm hàm số biểu thị quỹ đạo nhảy của máy bay đồ chơi. Suy ra độ cao của máy bay sau 3 giây.
Quỹ đạo máy bay là parabol có dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
Sau 6 giây kể từ vị trí cao nhất đó, máy bay rơi xuống đất nên khi \(y = - 18\) thì \(x = 6\).
Khi đó \( - 18 = a{.6^2} \Rightarrow a = \frac{{ - 18}}{{36}} = \frac{{ - 1}}{2}\).
Vậy hàm số biểu thị quỹ đạo của máy bay đồ chơi là: \((P):y = - \frac{1}{2}{x^2}\).
Thay \(x = 3\) vào \((P):y = - \frac{1}{2}{x^2} \Rightarrow y = - \frac{1}{2} \cdot {3^2} = - 4,5\)
\( \Rightarrow {\rm{MB}} = 4,5\;{\rm{m}} \Rightarrow {\rm{MH}} = {\rm{BH}} - {\rm{MB}} = 18 - 4,5 = 13,5\;{\rm{m}}\)
Vậy sau 3 giây thì máy bay cách mặt đất \(13,5\;{\rm{m}}\).
Cá heo có thể nhảy cao tới 25 feet và thực hiện các thủ thuật như nhảy qua vòng, lộn nhào trong không trung. Giả sử quỹ đạo nhảy của cá heo là parabol và sau 2 giây kể từ vị trí cao nhất đó, cá heo rơi chạm mặt nước. Tìm hàm số biểu thị quỹ đạo nhảy của cá heo. Hỏi sau mấy giây kể từ vị trí cao nhất đó thì cá heo cách mặt nước 10 feet. (kết quả làm tròn đến hàng phần chục)
Phương trình chuyển động của cá heo là parabol có dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
Sau 2 giây kể từ vị trí cao nhất đó, cá heo rơi chạm mặt nước nên khi \(y = - 25\) thì \(x = 2\).
Khi đó \( - 25 = a{.2^2} \Rightarrow a = \frac{{ - 25}}{4}\).
Vậy hàm số biểu thị quỹ đạo của cá heo là \(y = \frac{{ - 25}}{4}{x^2}\).
Khi cá heo cách mặt nước 10 feet thì \({\rm{ME}} = 10\) feet \({\rm{HM}} = {\rm{HE}} - {\rm{ME}} = 25 - 10 = 15\) feet
\( \Rightarrow {\rm{M}}\left( {{x_{\rm{M}}}; - 15} \right) \in (P):y = \frac{{ - 25}}{4}{x^2} \Rightarrow - 15 = \frac{{ - 25}}{4}x_{\rm{M}}^2 \Rightarrow x_{\rm{M}}^2 = \frac{{ - 15.4}}{{ - 25}} = 2,4\)
\( \Rightarrow {x_{\rm{M}}} = \sqrt {2,4} \approx 1,6\) giây.
Vậy sau 1,6 giây thì cá heo cách mặt nước 10 feet.
Một cây cầu treo có trọng lượng phân bố đều dọc theo chiều dài của nó. Cây cầu có trụ tháp đôi cao \(80m\) so với mặt của cây cầu và cách nhau \(440m\). Dây cáp treo có hình dạng đường parabol và được treo trên các đỉnh tháp và chạm mặt cầu ở vị trí chính giữa của cây cầu. Tìm chiều cao của dây cáp tại điểm cách điểm chính giữa của cây cầu \(130m\) (giả sử mặt của cây cầu là bằng phẳng).
Chọn hệ trục tọa độ \(Oxy\) như sau: Trục \(Ox\) dọc theo mặt của cây cầu, trục \(Oy\) vuông góc với trục \(Ox\) tại tâm của cây cầu. Khi đó các dây cáp có hình dạng đường parabol có bề lõm hướng lên trên và đáy của parabol là gốc \(O(0;0)\). Vì thế hàm số biểu diễn Parabol lúc này có dạng là \(y = a{x^2},a > 0\).
Theo giả thiết, cây cầu có trụ tháp đôi cao 80 m so với mặt của cây cầu và cách nhau 400 m nên ta có các điểm \({\rm{A}}( - 220;80)\) và \({\rm{B}}(220;80)\) thuộc parabol. Khi đó ta có: \(80 = a \cdot {220^2} \Rightarrow a = \frac{1}{{605}}\) ( nhận )
Do đó, phương trình của parabol là: \(y = \frac{1}{{605}}{x^2}\).
Với \(x = 130\) ta có \(y = \frac{1}{{605}}{x^2} = \frac{1}{{605}} \cdot {130^2} \simeq 27,9\).
Vậy chiều cao của dây cáp tại điểm cách tâm của cây cầu 100 m khoảng \(27,9\;{\rm{m}}\).
Một xe tải có chiều rộng là \(2,4\;{\rm{m}}\) chiều cao là \(2,5\;{\rm{m}}\) muốn đi qua một cái cổng hình parabol. Biết khoảng cách giữa hai chân cổng là 4 m và khoảng cách từ đỉnh cổng tới mỗi chân cổng là \(2\sqrt 5 \;{\rm{m}}\) (bỏ qua độ dày của cổng).
a) Trong mặt phẳng tọa độ \(Oxy\) gọi parabol \((P):y = a{x^2}\) với a \( < 0\) là hình biểu diễn cổng mà xe tải muốn đi qua. Chứng minh \(a = - 1\).
b) Hỏi xe tải có đi qua cổng được không? Tại sao?
a) Giả sử trên mặt phẳng tọa độ, độ dài các đoạn thẳng được tính theo đơn vị mét. Do khoảng cách giữa hai chân cổng là 4 m nên \({\rm{MA}} = {\rm{NA}} = 2\;{\rm{m}}\). Theo giả thiết ta có \({\rm{OM}} = {\rm{ON}} = 2\sqrt 5 \).
Xét vuông tại \(A\), ta có: \({\rm{OA}} = \sqrt {{\rm{O}}{{\rm{M}}^2} - {\rm{A}}{{\rm{M}}^2}} = \sqrt {{{(2\sqrt 5 )}^2} - {2^2}} = 4\;{\rm{m}}\).
\( \Rightarrow {\rm{M}}(2; - 4) \in (P):y = a{x^2} \Rightarrow - 4 = a{.2^2} \Rightarrow a = - 1\).
b) Để đáp ứng chiều cao trước hết xe tải phải đi vào chính giữa cổng.
\( \Rightarrow {\rm{AB}} = 2,5\;{\rm{m}} \Rightarrow {\rm{OB}} = {\rm{OA}} - {\rm{AB}} = 4 - 2,5 = 1,5\;{\rm{m}}\)
\(({\rm{HT}}):y = - \frac{3}{2}\)
Đường thẳng này cắt Parabol tại 2 điểm có tọa độ thỏa mãn hệ: \(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{y = - {x^2}}\\{y = - \frac{3}{2}}\end{array}} \right.\)
\( \Rightarrow \left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{x^2} = \frac{3}{2}}\\{y = - \frac{3}{2}}\end{array} \Rightarrow \left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{x = \frac{{3\sqrt 2 }}{2}}\\{y = - \frac{3}{2}}\end{array}} \right.} \right.\) hay \(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{x = - \frac{{3\sqrt 2 }}{2}}\\{y = - \frac{3}{2}}\end{array} \Rightarrow H\left( {\frac{{3\sqrt 2 }}{2}; - \frac{3}{2}} \right),T\left( { - \frac{{3\sqrt 2 }}{2}; - \frac{3}{2}} \right)} \right.\)
\( \Rightarrow {\rm{HT}} = 3\sqrt 2 \approx 4,24\;{\rm{m}} > 2,4\;{\rm{m}}.\)Vậy xe tải có thể đi qua cổng.
Giả sử Cổng Arch tại thành phố St Louis của Mỹ có hình dạng là một parabol (hình vẽ). Biết khoảng cách giữa hai chân cổng bằng 162 m, điểm cao nhất trên cổng cách mặt đất 185,6m. Trên thành cổng, tại vị trí có độ cao 43 m so với mặt đất (điểm M), người ta thả một sợi dây chạm đất (dây căng thẳng theo phương vuông góc với mặt đất). Hỏi vị trí chạm đất của đầu sợi dây này cách chân cổng A một đoạn bao nhiêu mét? (làm tròn đến cm )

Cái cổng có hình dạng là một parabol có phương trình dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
\({\rm{OA}} = \frac{{{\rm{AB}}}}{2} = \frac{{162}}{2} = 81\;{\rm{m}}\) \( \Rightarrow {\rm{A}}(81; - 185,6) \in (P):y = a{x^2} \Rightarrow - 185,6 = a{.81^2} \Rightarrow a = \frac{{ - 185,6}}{{{{81}^2}}} = \frac{{ - 185}}{{6561}}\)
\((P):y = \frac{{ - 185}}{{6561}}{x^2}\)
\({\rm{HM}} = {\rm{EH}} - {\rm{ME}} = 185,6 - 43 = 142,6\;{\rm{m}}\)
\( \Rightarrow {\rm{M}}\left( {{x_{\rm{M}}}; - 142,6} \right) \in (P):y = \frac{{ - 185}}{{6561}}{x^2} \Rightarrow - 142,6 = \frac{{ - 185}}{{6561}}x_{\rm{M}}^2\)
\( \Rightarrow {x_{\rm{M}}}^2 = \frac{{ - 142,6.6561}}{{ - 185}} = \frac{{4677993}}{{925}} \Rightarrow {x_{\rm{M}}} = \sqrt {\frac{{4677993}}{{925}}} \approx 71,11\;{\rm{m}}\)
\( \Rightarrow {\rm{OE}} = 71,11\;{\rm{m}} \Rightarrow {\rm{EA}} = {\rm{OA}} - {\rm{OE}} = 81 - 71,11 = 9,89\;{\rm{m}}.\)
Vậy vị trí chạm đất của đầu sợi dây này cách chân cổng \(A\) một khoảng là \(9,89\;{\rm{m}}\).
Ở một điểm cao trên tháp cách mặt đất \(1,75\;{\rm{m}}\) nhà thiết kế có đặt một vòi phun nước. Biết rằng đường đi của các giọt nước sau khi ra khỏi vòi có dạng đường cong parabol và lên cao nhất được \(4m\). Hỏi nước rơi xuống đất cách chân tháp bao nhiêu mét?
Đường đi của các giọt nước sau khi ra khỏi vòi là parabol có dạng: \((P):y = a{x^2}\quad (a < 0)\).
\({\rm{MH}} = {\rm{HE}} - {\rm{ME}} = 4 - 1,75 = 2,25\)
\( \Rightarrow {\rm{M}}( - 1,5; - 2,25) \in (P):y = a{x^2}\)\( \Rightarrow - 2,25 = a \cdot {( - 1,5)^2} \Rightarrow a = \frac{{ - 2,25}}{{{{( - 1,5)}^2}}} = - 1\)\((P):y = - {x^2}\)
\( \Rightarrow {\rm{A}}\left( {{x_A}; - 4} \right) \in (P):y = - {x^2} \Rightarrow - 4 = - x_{\rm{M}}^2 \Rightarrow x_{\rm{M}}^2 = 4 \Rightarrow {x_{\rm{M}}} = \sqrt 4 = 2\;{\rm{m}}\)
\({\rm{EA}} = {\rm{ES}} + {\rm{SA}} = 2 + 1,5 = 3,5\)
Vậy nước rơi xuống đất cách chân tháp một khoảng là \(3,5\;{\rm{m}}\).
Trong một trận đấu bóng đá, người ta quan sát được quỹ đạo của quả bóng do thủ môn đá lên từ vạch\(5m50\) là một phần của đường cong parabol. Biết rằng, sau 3 giây thì quả bóng lên đến vị trí cao nhất là 9 mét (tham khảo hình vẽ). Hỏi sau mấy giây đầu tiên kể từ khi bóng được đá lên thì đạt độ cao \(5m\).
Khi Đường đi của quả banh là parabol có dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
\({\rm{B}}( - 3; - 9) \in (P):y = a{x^2} \Rightarrow - 9 = a \cdot {( - 3)^2} \Rightarrow a = - 1\)
\((P):y = - {x^2}\)
Khi banh đạt độ cao 5 m thì \({\rm{ME}} = {\rm{HE}} - {\rm{HM}} = 9 - 5 = 4\;{\rm{m}}\)
\( \Rightarrow {\rm{M}}\left( {{x_M}; - 4} \right) \in (P):y = - {x^2} \Rightarrow - 4 = - x_{\rm{M}}^2 \Rightarrow x_{\rm{M}}^2 = 4 \Rightarrow {x_{\rm{M}}} = - \sqrt 4 = - 2\)
Vậy sau 1 giây kể từ khi bóng được đá lên thì đạt độ cao 5 m.
Một cái cổng hình parabol như hình vẽ. Chiều cao \({\rm{GH}} = 4\;{\rm{m}}\), chiều rộng \({\rm{AB}} = 4\;{\rm{m}}\), \({\rm{AC}} = {\rm{BD}} = 0,9\;{\rm{m}}\). Chủ nhà làm hai cánh cổng khi đóng lại là hình chữ nhật CDEF tô đậm giá là 1.200.000 đồng\(/{{\rm{m}}^2}\), còn các phần để trắng làm xiên hoa có giá là 900.000 đồng\(/{{\rm{m}}^2}\). Biết diện tích của toàn bộ cái cổng là \(\frac{{32}}{3}\;{{\rm{m}}^2}\). Tính tổng chi phí để làm cổng?

Hình dạng cái cổng là parabol có dạng: \((P):y = a{x^2}(a < 0)\).
\({\rm{B}}( - 2; - 4) \in (P):y = a{x^2} \Rightarrow - 4 = a \cdot {( - 2)^2} \Rightarrow a = - 1\)
\((P):y = - {x^2}\)
\({\rm{HC}} = {\rm{HA}} - {\rm{HC}} = 2 - 0,9 = 1,1\;{\rm{m}}\)
\( \Rightarrow {\rm{F}}\left( { - 1,1;{y_F}} \right) \in (P):y = - {x^2} \Rightarrow {y_F} = - {( - 1,1)^2} = - 1,21\)
\({\rm{EF}} = 1,21\;{\rm{m}}\);\({\rm{FC}} = {\rm{CE}} - {\rm{EF}} = 4 - 1,21 = 2,79\;{\rm{m}}\)
Do vậy chiều cao \(CF = {\rm{DE}} = f(0,9) = 2,79(\;{\rm{m}});{\rm{CD}} = 4 - 2.0,9 = 2,2(\;{\rm{m}})\).
Diện tích hai cánh cổng là: \({\rm{CD}} \cdot {\rm{CF}} = 2,79.2,2 \approx 6,14\;{{\rm{m}}^2}\).
Diện tích phần xiên hoa là: \(\frac{{32}}{3} - 6,14 = 4,53\).
Chi phí làm cánh cổng là: \(6,14.1200000 = 7368000\) (đồng).
Chi phí làm xiên hoa là: \(4,53.900000 = 4077000\) (đồng).
Vậy tổng chi phí là: \(7368000 + 4077000 = 11445000\) đồng.
Đạp xe là một hình thức tập thể dục đơn giản, rất tốt cho sức khỏe và thân thiện với môi trường. Sáng sớm, Mai dự định đạp xe từ nhà ra Hồ Gươm rồi lại đạp xe về để tập thể dục. Khi ra đến Hồ Gươm, bạn dừng lại nghỉ 3 phút. Do đó để về nhà đúng giờ, bạn phải tăng tốc thêm \(2\;{\rm{km/h}}\). Tính vận tốc dự định và thời gian đi xe đạp của bạn Mai. Biết quãng đường lúc đi và lúc về đều là \(3\;{\rm{km}}\).
Gọi vận tốc dự định của bạn Mai là \(x\) (km/h), điều kiện \(x > 0\).
Thời gian dự kiến bạn Mai đạp xe từ nhà ra Hồ Gươm và quay về nhà là \(\frac{6}{x}\) (giờ).
Thời gian Mai đạp xe từ nhà ra Hồ Gươm là \(\frac{3}{x}\) (giờ).
Vận tốc của bạn Mai khi đạp xe từ Hồ Gươm về nhà là \(x + 2\) (km/h).
Thời gian Mai đạp xe từ Hồ Gươm về nhà là \(\frac{3}{{x + 2}}\) (giờ).
Đổi \(3\) phút \( = \frac{1}{{20}}\) giờ.
Vì bạn Mai về nhà đúng giờ nên ta có phương trình \(\frac{3}{x} + \frac{3}{{x + 2}} + \frac{1}{{20}} = \frac{6}{x}\)
\( \Leftrightarrow \frac{1}{{20}} = \frac{6}{x} - \left( {\frac{3}{x} + \frac{3}{{x + 2}}} \right)\)
\( \Leftrightarrow \frac{1}{{20}} = \frac{3}{x} - \frac{3}{{x + 2}}\)
\( \Leftrightarrow \frac{1}{{60}} = \frac{1}{x} - \frac{1}{{x + 2}}\)
\[ \Leftrightarrow \frac{1}{{60}} = \frac{{x + 2}}{{x\left( {x + 2} \right)}} - \frac{x}{{x\left( {x + 2} \right)}}\]
\[ \Leftrightarrow \frac{1}{{60}} = \frac{{x + 2 - x}}{{x\left( {x + 2} \right)}}\]
\[ \Leftrightarrow \frac{1}{{60}} = \frac{2}{{x\left( {x + 2} \right)}}\]
\[ \Leftrightarrow x\left( {x + 2} \right) = 2.60\]
\[ \Leftrightarrow {x^2} + 2x - 120 = 0\]
\[ \Leftrightarrow {x^2} - 10x + 12x - 120 = 0\]
\[ \Leftrightarrow x\left( {x - 10} \right) + 12\left( {x - 10} \right) = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left( {x + 12} \right)\left( {x - 10} \right) = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x + 12 = 0\\x - 10 = 0\end{array} \right.\]
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = - 12\\x = 10\end{array} \right.\].
So với điều kiện, \(x = 10\) thỏa mãn.
Thời gian đi xe đạp của bạn Mai là \(\frac{3}{{10}} + \frac{3}{{10 + 2}} = \frac{{11}}{{20}}\) (giờ) \( = 33\) (phút).
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định tốc độ tối đa của xe đạp điện là \(25\;{\rm{km/h}}\). Hai bạn Tuấn và Minh cùng xuất phát một lúc để đến khu bảo tồn thiên nhiên trên quãng đường dài \(22\;{\rm{km}}\)bằng phương tiện xe đạp điện. Mỗi giờ Tuấn đi nhanh hơn Minh \(2\;{\rm{km}}\)nên đến nơi sớm hơn \(5\) phút. Hỏi hai bạn đi như vậy có đúng vận tốc quy định hay không?
Đổi 5 phút = \(\frac{1}{{12}}\,\,\left( {\rm{h}} \right)\)
Gọi vận tốc của bạn Minh là \(x\left( {{\rm{km/h}}} \right)\left( {x > 0} \right)\)
Khi đó vận tốc của Tuấn là \(x + 2\;\left( {{\rm{km/h}}} \right)\)
Thời gian Minh đi hết quãng đường là \(\frac{{22}}{x}\,\,\left( {\rm{h}} \right)\)
Thời gian Tuấn đi hết quãng đường là \(\frac{{22}}{{x\, + \,2}}\,\,\left( {\rm{h}} \right)\)
Vì Tuấn đến nơi trước Minh 5 phút nên ta có phương trình:
\[\frac{{22}}{x}\, - \,\frac{{22}}{{x\, + \,2}}\, = \,\frac{1}{{12}}\]
\[ \Rightarrow \,22.\,12.\left( {x\, + \,2} \right)\, - \,22.\,12x\, = \,x\left( {x\, + \,2} \right)\]
\[ \Leftrightarrow \,{x^2} + \,2x\, - 528\, = \,0\]
\[ \Leftrightarrow \,\,\left( {x + 24} \right)\left( {x\, - \,22} \right)\, = \,0\]
\[ \Leftrightarrow \,\left[ \begin{array}{l}{x_1} = \,22\,\,(\,TM)\\{x_2} = \, - 24\,(KTM).\end{array} \right.\]
Với \(x = 22\)thì \(x + 2 = 24\).
Vậy vận tốc của Minh là \(22\;{\rm{km/h}}\)và vận tốc của Tuấn là \(24\;{\rm{km/h}}\)
Do\(22 < 25;\;24 < 25\)nên cả hai bạn đều đi đúng vận tốc quy định.
Quãng đường Thanh Hóa – Hà Nội dài 150 km. Một ôtô từ Hà Nội vào Thanh Hóa, nghỉ lại Thanh Hóa 3 giờ 15 phút, rồi trở về Hà Nội, hết tất cả 10 giờ. Tính vận tốc của ôtô lúc về, biết rằng vận tốc lúc đi lớn hơn vận tốc lúc về là 10 km/h.
Đổi \(3\,{\rm{h}}\,15' = \frac{{13}}{4}{\rm{h}}\)
Gọi vận tốc lúc về của ôtô là \[x\left( {{\rm{km/h}}} \right){\rm{ }}\left( {x{\rm{ }} > {\rm{ }}0} \right)\]
Vận tốc của ôtô lúc đi là \[x + 10{\rm{ }}\left( {{\rm{km/h}}} \right)\]
Thời gian ôtô đi từ HN-TH là \[\frac{{150}}{{x + 10}}\left( {\rm{h}} \right)\]
Thời gian ôtô đi từ TH-HN là \[\frac{{150}}{x}\left( {\rm{h}} \right)\]
Do tổng thời gian đi, về, nghỉ là 10 h nên ta có pt:
\[\frac{{150}}{{x + 10}} + \frac{{150}}{x} + \frac{{13}}{4} = 10\]
Giải phương trình:
Quy đồng và khử mẫu đúng
Đưa được về phương trình: \[9{x^2} - 310x - 2000 = 0\]
Tìm được \[{x_1} = - \frac{{50}}{9}\] (loại), \[{x_2} = 40\] (TM)
Vậy vận tốc lúc về của ôtô là \[40\left( {{\rm{km/h}}} \right)\].
Lúc \[5\] giờ \[15\] phút, một người đi xe máy từ \[A\]đến \[B\]dài \[75\] km với vận tốc dự định. Đến\[B\], người đó nghỉ \[20\] phút rồi quay về \[A\]và đi nhanh hơn lúc đi mỗi giờ \[5\] km. Người đó về đến \[A\] lúc \[12\] giờ \[20\] phút. Tính vận tốc lúc đi của người đó.
Gọi vận tốc lúc đi của người đi xe máy là \(x\) \(\left( {{\rm{km/h}}} \right)\) \(\left( {x > 0} \right)\).
Thời gian người đó đi từ A đến B là \(\frac{{75}}{x}\) \(\left( {\rm{h}} \right)\).
Vận tốc của người đó khi đi từ B về A là \(x + 5\) \(\left( {{\rm{km/h}}} \right)\).
Thời gian người đó đi từ B về A là \(\frac{{75}}{{x + 5}}\) \(\left( {\rm{h}} \right)\).
Ta có : \[12\]giờ \[20\]phút –\[5\]giờ\[\;15\]phút –\[\;20\]phút=\[6\] giờ \[45\]phút = \(\frac{{27}}{4}\) \(\left( {\rm{h}} \right)\).
Theo Câu ra ta có phương trình:
\(\frac{{75}}{x} + \frac{{75}}{{x + 5}} = \frac{{27}}{4}\)
\( \Leftrightarrow 75.4.\left( {x + 5} \right) + 75.4.x = 27.x.\left( {x + 5} \right)\)
\( \Leftrightarrow 300x + 1500 + 300x = 27{x^2} + 135x\)
\( \Leftrightarrow 27{x^2} - 465x - 1500 = 0\)
\( \Leftrightarrow x = 20\,({\rm{tm}})\) hoặc \(x = \frac{{ - 25}}{9}\) (loại).
Vậy vận tốc lúc đi của người đi xe máy là \[20\] \(\left( {{\rm{km/h}}} \right)\).
Một người đi xe đạp từ địa điểm \(A\) đến địa điểm \(B\) cách nhau \(30{\rm{km}}\). Khi đi từ \(B\) về \(A\) người đó chọn con đường khác dễ đi hơn nhưng dài hơn con đường cũ \(6{\rm{km}}\). Vì đi với vận tốc lớn hơn vận tốc lúc đi là \(3{\rm{km/h}}\) nên thời gian về vẫn ít hơn thời gian đi là 20 phút. Tính vận tốc lúc đi.
Gọi vận tốc lúc đi của xe đạp là \(x\,\left( {{\rm{km/h}}} \right)\), \(x > 0\).
Vận tốc lúc về của xe đạp là: \(x + 3\,\,\left( {{\rm{km/h}}} \right)\)
Chiều dài con đường lúc về là: \(30 + 6 = 36\,\left( {{\rm{km}}} \right)\).
Thời gian lúc đi từ \(A\) đến \(B\) là: \(\frac{{30}}{x}\,\left( {\rm{h}} \right)\).
Thời gian lúc về từ \(B\) về \(A\) là: \(\frac{{36}}{{x + 3}}\,\left( {\rm{h}} \right)\).
\(20\)phút \( = \frac{1}{3}\)giờ.
Vì thời gian lúc về ít hơn thời gian lúc đi là 20 phút nên ta có phương trình:
\(\frac{{30}}{x} - \frac{{36}}{{x + 3}} = \frac{1}{3}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{30.3.\left( {x + 3} \right)}}{{3x\left( {x + 3} \right)}} - \frac{{36.3.x}}{{3x\left( {x + 3} \right)}} = \frac{{x\left( {x + 3} \right)}}{{3x\left( {x + 3} \right)}}\)
\( \Rightarrow 90x + 270 - 108x = {x^2} + 3x\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 21x - 270 = 0\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 30x - 9x - 270 = 0\)
\( \Leftrightarrow x\left( {x + 30} \right) - 9\left( {x + 30} \right) = 0\)
\( \Leftrightarrow \left( {x + 30} \right)\left( {x - 9} \right) = 0\)
\( \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x + 30 = 0\\x - 9 = 0\end{array} \right. \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = - 30(loa\"i i)\\x = 9({\rm{tho\^u a ma\~o n}})\end{array} \right.\)
Vậy vận tốc lúc đi của xe đạp là \(9{\rm{km/h}}\).
Lúc \[6\] giờ \[30\] phút sáng, một ca nô xuôi dòng sông từ \[A\] đến \[B\] dài \[48\]km. Khi đến\[B\], ca nô nghỉ \[30\] phút sau đó ngược dòng từ \[B\] về \[A\]lúc \[10\] giờ \[36\] phút cùng ngày. Tìm vận tốc riêng của ca nô biết vận tốc dòng nước là \[3\] km/h.Cho ….
Gọi \(x\)(km/h) là vận tốc riêng của ca nô\[\left( {x > 3} \right)\]
Vận tốc xuôi dòng của ca nô là: \(x + 3\) (km/h)
Vận tốc ngược dòng của ca nô là: \(x - 3\) (km/h)
Thời gian ca nô xuôi dòng từ \(A\) đến \(B\) là: \(\frac{{48}}{{x + 3}}\) (giờ)
Thời gian ca nô ngược dòng từ \(B\) về \(A\) là: \(\frac{{48}}{{x - 3}}\) (giờ)
Thời gian ca nô đi từ \(A\) đến \(B\) rồi từ \(B\) trở về \(A\), không tính thời gian nghỉ là \(3\) giờ \(36\) phút hay \(\frac{{18}}{5}\) giờ nên ta có phương trình: \(\frac{{48}}{{x + 3}} + \frac{{48}}{{x - 3}} = \frac{{18}}{5} \Leftrightarrow \frac{8}{{x + 3}} + \frac{8}{{x - 3}} = \frac{3}{5}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{40\left( {x - 3} \right)}}{{5\left( {x + 3} \right)\left( {x - 3} \right)}} + \frac{{40\left( {x + 3} \right)}}{{5\left( {x + 3} \right)\left( {x - 3} \right)}} = \frac{{3\left( {x + 3} \right)\left( {x - 3} \right)}}{{5\left( {x + 3} \right)\left( {x - 3} \right)}}\)
\( \Rightarrow 40x - 120 + 40x + 120 = 3\left( {{x^2} - 9} \right)\)\( \Leftrightarrow 3{x^2} - 80x - 27 = 0\)
\(\Delta ' = {\left( { - 40} \right)^2} - 3.\left( { - 27} \right) = {41^2} > 0\)
\( \Rightarrow \) Phương trình có hai nghiệm phân biệt: \({x_1} = \frac{{40 + 41}}{3} = 27\) (thỏa mãn);
\({x_2} = \frac{{40 - 41}}{3} = - \frac{1}{3}\) (loại)
Vậy vận tốc riêng của ca nô là\(27\)km/h.
Hai ô tô cùng khởi hành từ A đến B với vận tốc của mỗi xe không đổi trên toàn bộ quãng đường \(AB\)dài \(150\)km. Do vận tốc của ô tô thứ nhất lớn hơn vận tốc của ô tô thứ hai là \(10\)km/h nên ô tô thứ nhất đến sớm hơn ô tô thứ hai \(30\)phút. Tính vận tốc mỗi ô tô.
Gọi vân tốc của ô tô thứ hai là:\[x(x > 0)(km/h)\]
Vận tốc của ô tô thứ nhất là:\[x + 10\,(km/h)\]
Thời gian ô tô thứ hai đi là: \[\frac{{150}}{x}\](giờ)
Thời gian ô tô thứ nhất đi là: \[\frac{{150}}{{x + 10}}\](giờ)
Do ô tô thứ nhất đến sớm hơn ô tô thứ hai 30 phút \[ = \frac{1}{2}\] giờ nên ta có pt:
\[\frac{{150}}{x} - \frac{{150}}{{x + 10}} = \frac{1}{2}\]
\[ \Leftrightarrow \frac{{1500}}{{{x^2} + 10x}} = \frac{1}{2}\]
\[ \Leftrightarrow {x^2} + 10x - 3000 = 0\]
\[ \Leftrightarrow {x^2} - 50x + 60x - 3000 = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left( {x - 50} \right)\left( {x + 60} \right) = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 50\,(TM)\\x = - 60\,\left( {KTM} \right)\end{array} \right.\]
Vậy vận tốc của ô tô thứ hai là \[50\,km/h\]; vận tốc của ô tô thứ nhất là\[60\,{\rm{km/h}}\].
Khoảng cách giữa hai thành phố A và B là 144 km. Một ô tô khởi hành từ thành phố A đến thành phố B với vận tốc không đổi trên cả quãng đường. Sau khi ô tô thứ nhất đi được 20 phút, ô tô thứ hai cũng đi từ thành phố A đến thành phố B với vận tốc lớn hơn vận tốc ô tô thứ nhất là 6km/h (vận tốc không đổi trên cả quãng đường). Biết rằng cả hai ô tô đến thành phố B cùng một lúc.
1. Tính vận tốc của hai xe ô tô
2. Nếu trên đường đó có biển báo cho phép xe chạy với vận tốc tối đa là 50km/h thì hai xe ô tô trên, xe nào vi phạm về giới hạn tốc độ?
a) Gọi vận tốc của xe ô tô thứ nhất là \(x\) (km/h), \(x > 0\).
Vì ô tô thứ hai đi với vận tốc lớn hơn vận tốc của ô tô thứ nhất là 6km/h nên vận tốc của ô tô thứ hai là \[x + 6\] (km/h)
Khi đó, thời gian xe ô tô thứ nhất đi hết quãng đường AB là: \[\frac{{144}}{x}\] (giờ)
Thời gian xe ô tô thứ hai đi hết quãng đường AB là: \[\frac{{144}}{{x + 6}}\] (giờ)
Do ô tô thứ hai xuất phát sau ô tô thứ nhất 20 phút (tức là \[\frac{1}{3}\] giờ) mà hai xe lại đến B cùng một lúc nên ta có phương trình:
\[\frac{{144}}{x} - \frac{{144}}{{x + 6}} = \frac{1}{3}\] \[ \Leftrightarrow \frac{{144(x + 6) - 144x}}{{x(x + 6)}} = \frac{1}{3}\]
\[ \Leftrightarrow \frac{{864}}{{{x^2} + 6x}} = \frac{1}{3}\] \[ \Leftrightarrow {x^2} + 6x = 2592\] \[ \Leftrightarrow {x^2} + 6x - 2592 = 0\] (1)
Ta có: \[\Delta ' = {\rm{ }}{3^2}--{\rm{ }}1.\left( { - 2592} \right) = 9 + 2592 = 2601 > 0 \Rightarrow \sqrt {\Delta '} = 51\].
Phương trình (1) có hai nghiệm phân biệt:
\[{x_1} = 48\] (thỏa mãn điều kiện); \[{x_2} = - 54\](không thỏa mãn)
Vậy vận tốc của xe ô tô thứ nhất là 48km/h
Vậy vận tốc của xe ô tô thứ hai là 48 + 6 = 54 km/h
b) Do vận tốc tối đa cho phép trên quãng đường từ A đến B là 50km/h nên xe ô tô thứ hai đã vi phạm giới hạn về tốc độ (do \[{v_2} = 54 > 50\])
Hai đội công nhân cùng làm một công việc thì làm xong trong \(4\) giờ. Nếu mỗi đội làm một mình xong công việc đó thì đội thứ nhất cần ít thời gian hơn đội thứ hai là \(6\) giờ. Hỏi mỗi đội làm một mình xong công việc đó trong bao lâu.
1) Gọi thời gian làm một mình để xong công việc của đội thứ nhất là: \(x\) (giờ), điều kiện \(x > 4\)
Thì thời gian làm một mình để xong công việc của đội thứ hai là: \(x + 6\) (giờ).
Trong một giờ thì khối lượng công việc mà đội thứ nhất làm được là: \(\frac{1}{x}\) (công việc).
Trong một giờ thì khối lượng công việc mà đội thứ hai làm được là: \(\frac{1}{{x + 6}}\) (công việc ).
Vì hai đội công nhân cùng làm một công việc thì làm xong trong \(4\) giờ nên trong một giờ khối lượng công việc cả hai đội làm được là \(\frac{1}{4}\)(công việc) do đó ta có phương trình:
\({\rm{ }}\frac{1}{x} + \frac{1}{{x + 6}} = \frac{1}{4}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{4\left( {x + 6} \right)}}{{4x\left( {x + 6} \right)}} + \frac{{4x}}{{4x\left( {x + 6} \right)}} = \frac{{x\left( {x + 6} \right)}}{{4x\left( {x + 6} \right)}}\)
\( \Rightarrow 4x + 24 + 4x = {x^2} + 6x\)
\( \Leftrightarrow {x^2} - 2x - 24 = 0\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 4x - 6x - 24 = 0\)
\[ \Leftrightarrow x\left( {x + 4} \right) - 6\left( {x + 4} \right) = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left( {x + 4} \right)\left( {x - 6} \right) = 0\]
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x + 4 = 0\\x - 6 = 0\end{array} \right.\]
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = - 4\\x = 6\end{array} \right.\].
So sánh với điều kiện, \(x = 6\) thỏa mãn.
Vậy thời gian làm một mình để xong công việc của đội thứ nhất là \(6\) (giờ)
Vậy thời gian làm một mình để xong công việc của đội thứ hai là \(12\) (giờ)
Giải toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình
Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây, chi đoàn thanh niên dự định trồng 30 cây trong một thời gian nhất đinh. Do mỗi giờ chi đoàn trồng nhiều hơn dự định 5 cây nên đã hoàn thành công việc trước dự định 20 phút và trồng thêm được 10 cây nữa. Tính số cây mà chi đoàn dự định trồng trong mỗi giờ.
Gọi số cây mà chi đoàn dự định trồng trong mỗi giờ là \[x\] (cây) (ĐK: \[x \in \mathbb{N}*\] )
Số cây chi đoàn trồng được trong mỗi giờ trên thực tế là \[x + 5\] (cây)
Thời gian chi đoàn dự định trồng xong số cây là \(\frac{{30}}{x}\) (h)
Số cây mà chi đoàn trồng được trong thực tế là 30 + 10 = 40 (cây)
Thời gian chi đoàn trồng xong số cây trong thực tế là \(\frac{{40}}{{x + 5}}\) (h)
Do chi đoàn hoàn thành công việc trước dự định là 20 phút = \(\frac{1}{3}\) h nên ta có phương trình:
\(\frac{{30}}{x} - \frac{{40}}{{x + 5}} = \frac{1}{3}\)
\[ \Leftrightarrow \frac{{30.3\left( {x + 5} \right) - 40.3x}}{{3.x\left( {x + 5} \right)}} = \frac{{x\left( {x + 5} \right)}}{{3.x\left( {x + 5} \right)}}\]
\[ \Rightarrow 90\left( {x + 5} \right) - 120x = x\left( {x + 5} \right)\]
\( \Leftrightarrow {x^2} + 35x - 450 = 0\)
\[\Delta = {35^2} - 4.1.\left( { - 450} \right) = 3025\]
Phương trình có 2 nghiệm phân biệt:\[{x_1} = \frac{{ - 35 + \sqrt {3025} }}{{2.1}} = 10\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,{x_2} = \frac{{ - 35 - \sqrt {3025} }}{{2.1}} = - 45\]
\[{x_1} = 10\] (Thỏa mãn điều kiện); \[{x_2} = - 45\] (Loại)
Vậy số cây mà chi đoàn dự định trồng trong mỗi giờ là 10 cây
Để chở hết 60 tấn hàng, một đội xe dự định sử dụng một số xe cùng loại. Trước khi khởi hành, có 2 xe được điều động đi làm việc khác, vì vậy mỗi xe còn lại phải chở nhiều hơn dự định 1 tấn hàng. Hỏi lúc đầu đội dự định dùng bao nhiêu xe?
a) Gọi số xe đội dự định dùng là \(x\) (xe) ( \(x \in \mathbb{N},x > 2\) ).
Số hàng mỗi xe dự định chở là: \(\frac{{60}}{x}\) (tấn).
Số xe thực tế đội dùng là \[x--2\](xe).
Số hàng thực tế mỗi xe chở là: \(\frac{{60}}{{x - 2}}\) (tấn).
Vì mỗi xe phải chở nhiều hơn 1 tấn hàng so với dự định nên ta có phương trình:
\(\frac{{60}}{{x - 2}} - \frac{{60}}{x} = 1\)
\( \Rightarrow 60x - 60\left( {x - 2} \right) = x\left( {x - 2} \right)\)
\( \Leftrightarrow 60x - 60x + 120 = {x^2} - 2x\)
\( \Leftrightarrow {x^2} - 2x - 120 = 0\)
Giải phương trình được \({x_1} = \) 12 (thỏa mãn đk) \({x_2} = - 10\) (Không thỏa mãn đk)
Kết luận số xe dự định dùng là 12 xe.
Giải Câu toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình:
Hưởng ứng phong trào trồng cây xanh vì một môi trường xanh, sạch, đẹp. Một chi đoàn thanh niên dự định trồng 120 cây xanh. Nhưng khi thực hiện, chi đoàn đó đã tăng cường thêm 3 đoàn viên nữa nên mỗi đoàn viên đã trồng ít hơn 2 cây so với dự định. Hỏi lúc đầu chi đoàn thanh niên đó có bao nhiêu đoàn viên? (biết rằng số cây của mỗi đoàn viên trồng là như nhau)
Gọi số đoàn viên ban đầu của chi đoàn thanh niên là: \(x\)(\(x \in {\mathbb{N}^*}\), người)
Số đoàn viên khi thực hiện là \(x + 3\) (đoàn viên)
Vì phải trồng 120 cây nên:
Số cây mỗi đoàn viên dự định trồng là: \(\frac{{120}}{x}\)(cây)
Số cây mỗi đoàn viên thực tế trồng được là: \(\frac{{120}}{{x + 3}}\)(cây)
Vì thực tế mỗi đoàn viên trồng ít hơn dự định \(2\)cây nên ta có phương trình:
\(\frac{{120}}{x} - \frac{{120}}{{x + 3}} = 2\)\( \Leftrightarrow 60.\left( {x + 3 - x} \right) = x\left( {x + 3} \right)\)\( \Leftrightarrow {x^2} + 3x - 180 = 0\)
\(\Delta = {3^2} + 4.180 = 729 > 0 \Rightarrow \sqrt \Delta = 27\)
\({x_1} = 12\) (thỏa mãn) hoặc \({x_2} = - 15\) (không thỏa mãn)
Kết luận: Vậy ban đầu chi đoàn thanh niên đó có \(12\) đoàn viên.
Một đội xe dự định chở \(24\) tấn hàng. Thực tế khi chở đội được bổ sung thêm \(4\) xe nữa nên mỗi xe chở ít hơn dự định \(1\) tấn. Hỏi dự định ban đầu đội có bao nhiêu xe? (Biết khối lượng hàng chở trên mỗi xe như nhau).
Gọi \(x\) (chiếc) là số xe ban đầu của đội (\(x \in \mathbb{N}*\)).
Số tấn hàng mỗi xe dự định chở là \(\frac{{24}}{x}\) (tấn).
Thực tế đội được bổ sung thêm \(4\) xe nên số xe thực tế là \(x + 4\) (chiếc).
Số tấn hàng mỗi xe thực tế phải chở là \(\frac{{24}}{{x + 4}}\) (tấn).
Vì mỗi xe thực tế chở ít hơn dự định \(1\) tấn nên ta có phương trình:
\(\frac{{24}}{x} - \frac{{24}}{{x + 4}} = 1 \Leftrightarrow \frac{{96}}{{x\left( {x + 4} \right)}} = 1 \Leftrightarrow {x^2} + 4x - 96 = 0 \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 8\\x = - 12\end{array} \right.\)
Vì \(x \in \mathbb{N}*\) nên \(x = 8\).
Vậy ban đầu đội có tất cả \(8\) chiếc xe.
Một lâm trường dự định trồng \(75\,{\rm{ha}}\) rừng trong một số tuần. Do mỗi tuần trồng vượt mức \(5\,{\rm{ha}}\) so với kế hoạch nên đã trồng được \(80\,{\rm{ha}}\) và hoàn thành sớm hơn \(1\) tuần. Hỏi mỗi tuần lâm trường dự định trồng bao nhiêu ha rừng?
Gọi số ha rừng mà lâm trường dự định trồng trong mỗi tuần là \(x\)\(\left( {{\rm{ha}};x > 0} \right)\)
Thời gian trồng rừng theo kế hoạch là \(\frac{{75}}{x}\)(tuần)
Thực tế mỗi tuần lâm trường trồng được \(x + 5\)\(\left( {{\rm{ha}}} \right)\)
Thời gian trồng rừng thực tế là \(\frac{{80}}{{x + 5}}\)(tuần)
Vì thực tế lâm trường hoàn thành sớm hơn dự định \(1\) tuần nên ta có phương trình:
\(\frac{{75}}{x} - \frac{{80}}{{x + 5}} = 1\)
\( \Rightarrow 75.\left( {x + 5} \right) - 80.x = x.\left( {x + 5} \right)\)
\( \Leftrightarrow 75x + 375 - 80x = {x^2} + 5x\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 10x - 375 = 0\)
Ta có \(\Delta ' = {b'^2} - ac = 400 > 0\)\( \Rightarrow \sqrt {\Delta '} = 20\)
Phương trình có \(2\) nghiệm phân biệt
\({x_1} = \frac{{ - 5 + 20}}{1} = 15\) (nhận); \({x_2} = \frac{{ - 5 - 20}}{1} = - 25\)(loại).
Vậy số \(ha\) rừng lâm trường dự định trồng mỗi tuần là \(15\)\(\left( {{\rm{ha}}} \right)\).
Để chở hết 120 tấn hàng ủng hộ đồng bào vùng cao biên giới, một đội xe dự định dùng một số xe cùng loại. Lúc sắp khởi hành, họ được bổ sung thêm 5 xe cùng loại của đội, nhờ vậy, so với dự định ban đầu, mỗi xe phải chở ít hơn 2 tấn. Hỏi lúc đầu đội có bao nhiêu xe nếu khối lượng hàng mỗi xe phải chở bằng nhau?
Gọi số xe lúc đầu là \[x\] (xe, \[x \in N*\])
Số tấn hàng mỗi xe phải chở theo dự định là \[\frac{{120}}{x}\] (tấn)
Thực tế được bổ sung 5 xe nên số xe là: \[x + 5\] (xe)
Số tấn hàng mỗi xe phải chở theo thực tế là: \[\frac{{120}}{{x + 5}}\] (tấn)
Vì thực tế thêm 5 xe nên mỗi xe chở ít hơn dự định 2 tấn nên ta có phương trình:
\[\frac{{120}}{x} - \frac{{120}}{{x + 5}} = 2\,\,\]
\[ \Leftrightarrow \,\,\frac{{120\left( {x + 5} \right) - 120x}}{{x\left( {x + 5} \right)}} = \frac{{2x\left( {x + 5} \right)}}{{x\left( {x + 5} \right)}}\]
\[ \Leftrightarrow 120x + 600 - 120x = 2{x^2} + 10x\]
\[ \Leftrightarrow 2{x^2} + 10x - 600 = 0\]\[\left( 1 \right)\]
\[\Delta ' = {5^2} - 2.\left( { - 600} \right) = 1225 > 0\]nên phương trình \[\left( 1 \right)\] có hai nghiệm phân biệt
\[{x_1} = \frac{{ - 5 + \sqrt {1225} }}{2} = 15\] (thỏa mãn)
\[{x_2} = \frac{{ - 5 - \sqrt {1225} }}{2} = - 20\] (không thỏa mãn– loại)
Vậy số xe lúc đầu là 15 xe.
Hai vòi nước cùng chảy vào một bể không có nước thì sau \[2\] giờ \[55\]phút sẽ đầy bể. Nếu để chảy một mình thì vòi thứ nhất chảy đầy bể nhanh hơn hơn vòi thứ hai là \[2\]giờ. Tính thời gian mỗi vòi chảy một mình đầy bể.
Gọi thời gian vòi I chảy một mình đầy bể là \[x\](giờ). ĐK: \(x > \frac{{35}}{{12}}\)
Trong một giờ vòi I chảy được \(\frac{1}{x}\)(bể),
Trong một giờ vòi II chảy được \(\frac{1}{{x + 2}}\)(bể)
Trong một giờ, cả hai vòi chảy được: \(1:\frac{{35}}{{12}} = \frac{{12}}{{35}}\)(bể)
Ta có phương trình: \(\frac{1}{x} + \frac{1}{{x + 2}} = \frac{{12}}{{35}}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{x + 2}}{{x\left( {x + 2} \right)}} + \frac{x}{{x\left( {x + 2} \right)}} = \frac{{12}}{{35}}\)
\( \Rightarrow 35\left( {2x + 2} \right) = 12x\left( {x + 2} \right)\)
\( \Leftrightarrow 12{x^2} - 46x - 70 = 0\)
\( \Leftrightarrow 6{x^2} - 23x - 35 = 0\)
\( \Leftrightarrow 6{x^2} - 30x + 7x - 35 = 0\)
\( \Leftrightarrow \left( {x - 5} \right)\left( {6x + 7} \right) = 0\)
Phương trình có hai nghiệm:
\[\left[ \begin{array}{l}x = 5\\x = \frac{{ - 7}}{6}\end{array} \right.\]
Kết hợp với điều kiện suy ra \[x = 5\]
Vậy thời gian vòi I chảy một mình đầy bể là \(5\) giờ.
thời gian vòi II chảy một mình đầy bể là \(5 + 2 = 7\)giờ.
Để chở hết 120 tấn khoai lang ủng hộ bà con nông dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch viêm đường hô hấp cấp nCovid – 19, một đội xe dự định dùng một số xe cùng loại. Lúc sắp khởi hành đội được bổ sung thêm 5 xe cùng loại, vì vậy so với dự định mỗi xe phải chở ít hơn 2 tấn. Hỏi lúc đầu đội có bao nhiêu xe?
Gọi số xe lúc đầu của đội là \(x\) (chiếc, \(x \in {N^*}\))
Số tấn khoai lang mỗi xe dự định phải chở là \(\frac{{120}}{x}\) (tấn)
Số xe lúc sau của đội là \(x + 5\) (xe)
Số tấn khoai lang mỗi xe thực tế phải chở là \(\frac{{120}}{{x + 5}}\) (tấn)
Vì so với dự định thực tế mỗi xe phải chở ít hơn 2 tấn nên ta có phương trình
\(\frac{{120}}{x} - \frac{{120}}{{x + 5}} = 2\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 5x - 300 = 0\).
Giải phương trình \({x^2} + 5x - 300 = 0\)
\(\Delta = 25 + 4.300\)\( = 1225\)
Vì \(\Delta > 0\)nên phương trình có hai nghiệm phân biệt
\({x_1} = \frac{{ - 5 + \sqrt {1225} }}{2} = 15\); \({x_2} = \frac{{ - 5 - \sqrt {1225} }}{2} = - 20\)
Đối chiếu với điều kiện của ẩn và kết luận số xe lúc đầu của đội là \(15\) xe.
Một đội xe theo kế hoạch chở hết \(120\) tấn hàng trong một số ngày quy định. Do mỗi ngày đội đó chở vượt mức \(5\) tấn nên đội đã hoàn thành kế hoạch sớm hơn thời gian quy định \(1\) ngày và chở thêm được \(5\) tấn. Hỏi theo kế hoạch đội xe chở hết số hàng đó trong bao nhiêu ngày
1) Gọi thời gian dự định đội xe định chở hết 120 tấn hàng là: \(x\) (ngày, \(x \in \mathbb{N}\); \(x > 1\))
Như vậy, theo kế hoạch, mỗi ngày đội đó chở được: \(\frac{{120}}{x}\) (tấn/ngày)
Thực tế, đội đó chở tất cả là: \(120 + 5 = 125\) (tấn hàng)
Đội đã hoàn thành kế hoạch sớm hơn thời gian quy định \(1\) ngày nên thời gian thực tế đội chở hàng là: \(x - 1\) (ngày)
Do đó, mỗi ngày đội đó thực tế chở được: \(\frac{{125}}{{x - 1}}\) (tấn/ngày)
Vì thực tế mỗi ngày đội đó chở vượt mức 5 tấn nên ta có phương trình:
\(\frac{{125}}{{x - 1}} - \frac{{120}}{x} = 5\)\( \Leftrightarrow \frac{{125x - 120x + 120}}{{x\left( {x - 1} \right)}} = 5\)\( \Rightarrow 5x + 120 = 5x\left( {x - 1} \right)\)\( \Leftrightarrow x + 24 = {x^2} - x\)
\( \Leftrightarrow {x^2} - 2x - 24 = 0 \Leftrightarrow {x^2} - 6x + 4x - 24 = 0\)\( \Leftrightarrow \left( {x - 6} \right)\left( {x + 4} \right) = 0\)\( \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 6{\rm{ }}\left( {{\rm{nha\"a n}}} \right)\\x = - 4{\rm{ }}\left( {{\rm{loa\"i i}}} \right)\end{array} \right.\)
Vậy theo kế hoạch đội đó chở hết số hàng trong 6 ngày.
Giải Câu toán sau bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình
Một đội xe cần vận chuyển \[160\] tấn gạo với khối lượng gạo mỗi xe chở bằng nhau. Khi sắp khởi hành thì đội được bổ sung thêm \[4\] xe nữa nên mỗi xe chở ít hơn dự định lúc đầu \[2\] tấn gạo (khối lượng gạo mỗi xe chở bằng nhau). Hỏi đội xe ban đầu có bao nhiêu chiếc?
Gọi \(x\) (xe) là số xe ban đầu của đội xe. (\(x \in N*\)).
Theo dự kiến số gạo mỗi xe định chở là: \(\frac{{160}}{x}\) (tấn).
Số xe thực tế là: \(x + 4\) (xe).
Số gạo thực tế mỗi xe chở là: \(\frac{{160}}{{x + 4}}\) (tấn).
Vì thực tế được bổ sung thêm 4 xe nên mỗi xe chở ít hơn dự định lúc đầu là 2 tấn gạo. Vậy ta có phương trình:
\(\frac{{160}}{{x + 4}} + 2 = \frac{{160}}{x} \Leftrightarrow 2{x^2} + 8x - 64 = 0 \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 4\,\left( {TM} \right)\\x = - 8\,\left( {KTM} \right)\end{array} \right.\)
Vậy số xe ban đầu của đội xe là 4 xe.
Một đoàn xe vận tải dự định điều một số xe cùng loại để vận chuyển 40 tấn hàng. Lúc sắp khởi hành đoàn xe được giao thêm 14 tấn nữa. Do đó phải điều thêm 2 xe cùng loại trên và mỗi xe chở thêm 0,5 tấn. Tìm số lượng xe phải điều theo dự định, biết mỗi xe đều chở số lượng hàng như nhau và mỗi xe không chở quá 3 tấn hàng.
Gọi số tấn hàng mà mỗi xe phải chở theo dự định là \(x\) (tấn) \(\left( {0 < x \le 3} \right)\)
Trong thực tế mỗi xe phải chở số tấn hàng là \(x + 0,5\) (tấn)
Số xe phải điều theo dự định là \(\frac{{40}}{x}\) (xe)
Số xe được sử dụng theo thực tế là \(\frac{{54}}{{x + 0,5}}\) (xe)
Thực tế phải điều thêm 2 xe so với dự định nên ta có phương trình :
\(\frac{{54}}{{x + 0,5}} - \frac{{40}}{x} = 2\)
\( \Leftrightarrow \frac{{54x}}{{{x^2} + 0,5x}} - \frac{{40\left( {x + 0,5} \right)}}{{{x^2} + 0,5x}} = 2\)
\( \Leftrightarrow \frac{{54x - 40x - 20}}{{{x^2} + 0,5x}} = 2\)
\(\begin{array}{l} \Rightarrow 14x - 20 = 2{x^2} + x\\ \Leftrightarrow 2{x^2} - 13x + 20 = 0\\ \Leftrightarrow 2{x^2} - 8x - 5x + 20 = 0\\ \Leftrightarrow 2x\left( {x - 4} \right) - 5\left( {x - 4} \right) = 0\\ \Leftrightarrow \left( {x - 4} \right)\left( {2x - 5} \right) = 0\\ \Leftrightarrow \left[ {\begin{array}{*{20}{c}}{x - 4 = 0}\\{2x - 5 = 0}\end{array}} \right. \Leftrightarrow \left[ {\begin{array}{*{20}{c}}{x = 4{\rm{ }}(ktm)}\\{x = \frac{5}{2}{\rm{ }}(tm)}\end{array}} \right.\end{array}\)
Vậy mỗi xe phải chở 2,5 tấn hàng.
Một đoàn xe vận tải dự định điều một số xe cùng loại để vận chuyển 40 tấn hàng. Lúc sắp khởi hành đoàn xe được giao thêm 14 tấn nữa. Do đó phải điều thêm 2 xe cùng loại trên và mỗi xe phải chở thêm 0,5 tấn. Tìm số lượng xe phải điều theo dự định, biết mỗi xe đều chở số lượng hàng như nhau và mỗi xe chở không quá 3 tấn hàng.
Gọi số tấn hàng mà mỗi xe phải chở theo dự định là: \(x\) (tấn, \(0 < x \le 3\)).
Trong thực tế, mỗi xe phải chở số tấn hàng là: \(x + 0,5\) (tấn).
Số xe phải điều theo dự định là: \(\frac{{40}}{x}\) (xe).
Số xe được sử dụng theo thực tế là: \(\frac{{54}}{{x + 0,5}}\) (xe).
Vì thực tế phải điều thêm 2 xe so với dự định nên ta có phương trình:
\(\frac{{54}}{{x + 0,5}} - \frac{{40}}{x} = 2\)
\( \Leftrightarrow \frac{{54x}}{{x\left( {x + 0,5} \right)}} - \frac{{40\left( {x + 0,5} \right)}}{{x\left( {x + 0,5} \right)}} = \frac{{2x\left( {x + 0,5} \right)}}{{x\left( {x + 0,5} \right)}}\)
\( \Rightarrow 54x - 40\left( {x + 0,5} \right) = 2x\left( {x + 0,5} \right)\)
\( \Leftrightarrow 14x - 20 = 2{x^2} + x\)
\( \Leftrightarrow 2{x^2} - 13x + 20 = 0\)
\( \Leftrightarrow \left( {2x - 5} \right)\left( {x - 4} \right) = 0\)
\( \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = \frac{5}{2}\left( {tm} \right)\\x = 4\left( {ktm} \right)\end{array} \right.\)
Vậy số xe phải điều theo dự định là: \(\frac{{40}}{{2,5}} = 16\) (xe).
Hai người thợ cùng làm chung một công việc sau \(3\) giờ \(36\) phút thì xong. Nếu mỗi người làm một mình thì người thứ nhất hoàn thành công việc chậm hơn người thứ hai là \(3\) giờ. Hỏi nếu làm một mình thì mỗi người phải làm trong bao nhiêu giờ để xong việc?
Đổi \(3\) giờ \(36\) phút \( = \frac{{18}}{5}\) giờ.
Gọi thời gian người \(1\) làm một mình để xong việc là \(x\)(giờ, \(x > \frac{{18}}{5}\)).
Thời gian người \(2\) làm một mình để xong việc là \(x - 3\,\,\left( {\rm{h}} \right)\).
Trong \(1\) giờ, người \(1\) làm được \(\frac{1}{x}\) (công việc).
Trong \(1\) giờ, người \(2\) làm được \(\frac{1}{{x - 3}}\) (công việc).
Trong \(1\) giờ, \(2\) người làm được \(\frac{5}{{18}}\) (công việc) nên ta có phương trình.
\[\frac{1}{x} + \frac{1}{{x - 3}} = \frac{5}{{18}}\]
\( \Leftrightarrow \frac{{x - 3 + x}}{{x\left( {x - 3} \right)}} = \frac{5}{{18}}\)
\( \Rightarrow 18\left( {2x - 3} \right) = 5x\left( {x - 3} \right)\)
\( \Leftrightarrow 36x - 54 = 5{x^2} - 15x\)
\( \Leftrightarrow 5{x^2} - 51x + 54 = 0\)
\(\Delta = {51^2} - 4.5.54 = 1521 > 0\)
Phương trình có \(2\) nghiệm phân biệt:
\({x_1} = \frac{{51 - 39}}{{10}} = \frac{6}{5}\) (loại), \({x_2} = \frac{{51 + 39}}{{10}} = 9\) (tm).
Vậy thời gian người \(1\) làm một mình xong công việc là \(9\) giờ.
Thời gian người \(2\) làm một mình xong công việc là \(6\) giờ.
Hai vòi nước cùng chảy vào một bể cạn không có nước thì sau \(4\) giờ đầy bể. Nếu chảy riêng thì vòi thứ nhất sẽ chảy đầy bể nhanh hơn vòi thứ hai là \(6\) giờ. Hỏi nếu chảy riêng thì mỗi vòi mất bao lâu mới chảy đầy bể?
Gọi thời gian vòi thứ nhất chảy riêng đầy bể là \[x\] (giờ;\(x > 4\))
Thời gian vòi thứ hai chảy riêng đầy bể là \[x{\rm{ }} + {\rm{ }}6\] (giờ)
Mỗi giờ vòi thứ nhất chảy được là: \[\frac{{\rm{1}}}{{\rm{x}}}\] (bể)
Mỗi giờ vòi thứ hai chảy được là: \[\frac{{\rm{1}}}{{{\rm{x + 6 }}}}\] (bể)
Mỗi giờ cả hai chảy được là: \[\frac{{\rm{1}}}{{\rm{x}}} + \frac{{\rm{1}}}{{{\rm{x + 6 }}}}\] (bể)
Vì hai vòi nước cùng chảy vào một bể cạn không có nước thì sau \(4\) giờ đầy bể nên ta có phương trình:
\[\frac{{\rm{4}}}{{\rm{x}}} + \frac{{\rm{4}}}{{{\rm{x + 6 }}}} = 1\]
\[ \Rightarrow {{\rm{x}}^{\rm{2}}}{\rm{ - 2x - 24 = 0}}\].
\[ \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 6\,\,(n)\\x = - 4\,\,(l)\end{array} \right.\]
Giải Câu toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình:
Một xí nghiệp theo kế hoạch phải lắp ráp \[800\] chiếc máy tính. Nếu một ngày lắp ráp thêm \[10\] máy tính thì không những hoàn thành sớm hơn \[1\] ngày so với kế hoạch mà còn lắp ráp thêm \[10\] máy tính. Tính số máy tính lắp ráp mỗi ngày theo kế hoạch?
Gọi \(x\) (cái) là số máy tính lắp ráp mỗi ngày theo kế hoạch \(\left( {x > 0} \right)\).
Thời gian để hoàn thành 800 chiếc máy tính theo kế hoạch là \(\frac{{800}}{x}\) (ngày).
Số máy lắp ráp mỗi ngày nếu tăng năng suất là \(x + 10\) (cái).
Số máy tính lắp được nếu tăng năng suất là \(800 + 10 = 810\)(cái).
Thời gian hoàn thành 810 cái máy tính nếu tăng năng suất là \(\frac{{810}}{{x + 10}}\) (ngày).
Theo Câu ra ta có phương trình: \(\frac{{800}}{x} - 1 = \frac{{810}}{{x + 10}}\).
\( \Rightarrow 800\left( {x + 10} \right) - x\left( {x + 10} \right) = 810x\)
\( \Leftrightarrow 800x + 8000 - {x^2} - 10x - 810x = 0\)
\( \Leftrightarrow - {x^2} - 20x + 8000 = 0\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 20x - 8000 = 0\)
\(\Delta ' = 100 + 8000 = 8100 > 0\).
\( \Rightarrow \sqrt {\Delta '} = 90\)
Suy ra phương trình có hai nghiệm phân biệt:
\({x_1} = - 10 - 90 = - 100\) (loại)
\({x_2} = - 10 + 90 = 80\) (thỏa mãn điều kiện).
Vậy mỗi ngày theo kế hoạch xưởng lắp ráp được 80 máy tính.
Một phân xưởng theo kế hoạch phải dệt 3000 tấm vải để làm khẩu trang phục vụ các đơn vị tuyến đầu chống dịch. Trong 8 ngày đầu họ đã thực hiện được đúng kế hoạch, những ngày còn lại do nhu cầu cung cấp tăng lên họ đã dệt vượt mức mỗi ngày 10 tấm, nên đã hoàn thành kế hoạch trước 2 ngày. Hỏi theo kế hoạch mỗi ngày phân xưởng phải dệt bao nhiêu tấm vải?
Gọi \(x\) (tấm) là số tấm vải xưởng này dệt trong một ngày theo kế hoạch (\(x \in N*\)).
Vậy thời gian xưởng này dệt theo kế hoạch là: \(\frac{{3000}}{x}\) (ngày).
Thực tế số ngày đã làm là: \(\frac{{3000}}{x} - 2\) (ngày).
Trong 8 ngày đầu, số tấm vải đã dệt được là: \(8x\) (tấm).
Vậy số vải cần dệt còn lại sau 8 ngày đã làm là: \(3000 - 8x\) (tấm).
Số ngày còn lại thực tế sau 8 ngày đầu là: \(\frac{{3000}}{x} - 2 - 8 = \frac{{3000}}{x} - 10\) (ngày).
Những ngày sau, số tấm vải mỗi ngày xưởng dệt là: \(x + 10\) (tấm).
Vậy ta có phương trình:
\(\left( {\frac{{3000}}{x} - 10} \right)\left( {x + 10} \right) = 3000 - 8x\) \( \Leftrightarrow 2{x^2} + 100x - 30000 = 0\) \( \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 100\,(TM)\\x = - 150\,(KTM)\end{array} \right.\).
Vậy theo kế hoạch, mỗi ngày xưởng đó cần dệt \(100\) tấm vải.
Thực hiện kế hoạch “Mùa hè xanh” lớp \[9A\] được phân công trồng \[420\] cây. Lớp dự định chia đều số cây trồng cho mỗi học sinh trong lớp. Nhưng đến giờ trồng cây, có \[5\] bạn vắng, vì vậy mỗi bạn phải trồng thêm \[2\] cây nữa so với dự định. Hỏi số học sinh của lớp \[9A\]?
Gọi \[x\] là số học sinh lớp \[9A\] (\[x > 5\]và \[x \in \mathbb{Z}\])
Số cây dự định mỗi học sinh phải trồng là \[\frac{{420}}{x}\] (cây).
Số cây thực tế mỗi học sinh phải trồng là \[\frac{{420}}{{x - 5}}\]
Theo đề Câu ta có phương trình:
\(\frac{{420}}{{x - 5}} - \frac{{420}}{x} = 2\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\,\left( 1 \right)\)
Điều kiện:\[x \ne 5\]
\(\left( 1 \right) \Rightarrow 420x - 420\left( {x - 5} \right) = 2x\left( {x - 5} \right)\)
\( \Leftrightarrow 2{x^2} - 10x - 2100 = 0\)
\( \Leftrightarrow {x^2} - 5x - 1050 = 0\)
Ta có \[\Delta = {\left( { - 5} \right)^2} - 4.\left( { - 1050} \right) = 4225 \Rightarrow \sqrt \Delta = 65\]
\[{x_1} = \frac{{5 + 65}}{2} = 35\](nhận)
\[{x_2} = \frac{{5 - 65}}{2} = - 30\] (loại)
Vậy số học sinh lớp 9A là \[35\] học sinh.
Người ta trộn 8g chất lỏng này với 6g chất lỏng khác có khối lượng riêng nhỏ hơn nó là 0,2g/\(c{m^3}\) để được hỗn hợp có khối lượng riêng 0,7g/\(c{m^3}\). Tìm khối lượng riêng của mỗi chất lỏng.
Gọi khối lượng riêng của chất lỏng thứ nhất là x (g/\(c{m^3}\)). Điều kiện: \(x > 0,2\).
Khối lượng riêng của chất lỏng thứ hai là \(x - 0,2\) (g/\(c{m^3}\)).
Thể tích của chất lỏng thứ nhất là \(\frac{8}{x}\left( {c{m^3}} \right)\).
Thể tích của chất lỏng thứ hai là \(\frac{6}{{x - 0,2}}\left( {c{m^3}} \right)\).
Thể tích của hỗn hợp là \(\frac{8}{x} + \frac{6}{{x + 0,2}}\left( {c{m^3}} \right)\).
Theo Câu ra ta có phương trình: \(\frac{8}{x} + \frac{6}{{x + 0,2}} = \frac{{14}}{{0,7}} \Leftrightarrow 14{{\rm{x}}^2} - 12,6{\rm{x}} + 1,12 = 0\).
Giải phương trình ta được kết quả: \({x_1} = 0,1\) (loại), \({x_2} = 0,8\) (thỏa mãn điều kiện).
Vậy khối lượng riêng chất lỏng thứ nhất là 0,8 (g/\(c{m^3}\)).
Khối lượng riêng chất lỏng thứ hai là 0,6 (g/\(c{m^3}\)).
Người ta đổ thêm \(100\) g nước vào một dung dịch chứa \(20\)g muối thì nồng độ của dung dịch giảm đi \(10\% \). Hỏi trước khi đổ thêm nước thì dung dịch chứa bao nhiêu nước.
Gọi khối lượng nước trong dung dịch trước khi đổ thêm nước là: \(x\) (g), \[x > 0\].
Nồng độ muối của dung dịch khi đó là: \(\frac{{20}}{{x + 20}}\)
Nếu đổ thêm \(100\) g nước vào dung dịch thì khối lượng của dung dịch sẽ là:
\[x + 20 + 100 = x + 120\] (g).
Nồng độ của dung dịch bây giờ là: \(\frac{{20}}{{x + 120}}\)
Vì nồng độ muối giảm \(10\% \) nên ta có phương trình
\(\frac{{20}}{{x + 20}} - \frac{{20}}{{x + 120}} = \frac{{10}}{{100}} \Leftrightarrow \frac{2}{{x + 20}} - \frac{2}{{x + 120}} = \frac{1}{{100}}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{200}}{{(x + 20)(x + 120)}} = \frac{1}{{100}}\)
\( \Leftrightarrow (x + 20)(x + 120) = 20000\)
\( \Leftrightarrow {x^2} + 140x - 17600 = 0\)
Ta có \(\Delta ' = {\left( { - 70} \right)^2} + 17600 = 22500 \Rightarrow \sqrt {\Delta '} = 150\).
Do đó, \({x_1} = - 70 + 150 = 80\) (thỏa mãn) và \({x_2} = - 70 - 150 = - 220\) (loại).
Như vậy, trước khi đổ thêm nước, trong dung dịch có \(80\) g nước.
Người ta hòa lẫn \[7{\rm{ kg}}\] chất lỏng I với \[5{\rm{ kg}}\] chất lỏng II thì được một hỗn hợp có khối lượng riêng 600 \[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]. Biết khối lượng riêng của chất lỏng I lớn hơn khối lượng riêng của chất lỏng II là 200 \[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]. Tính khối lượng riêng của mỗi chất lỏng.
Gọi khối lượng riêng của chất lỏng II là \[x\](\[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]) \(\left( {x > 0} \right)\)
Vì khối lượng riêng của chất lỏng I lớn hơn khối lượng riêng của chất lỏng II là 200 \[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]nên
khối lượng riêng của chất lỏng I là \[x + 200\](\[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]).
Áp dụng công thức \[V = \frac{m}{D}\] với \[V\]là thể tích chất lỏng (\[{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]), \[m\] là khối lượng chất lỏng (\[{\rm{kg}}\]) và \[D\] là khối lượng riêng chất lỏng (\[{\rm{kg/}}{{\rm{m}}^{\rm{3}}}\]) ta có phương trình:
\[\begin{array}{l}{\rm{ }}\frac{7}{{x + 200}} + \frac{5}{x} = \frac{{12}}{{600}}\\ \Leftrightarrow \frac{7}{{x + 200}} + \frac{5}{x} = \frac{1}{{50}}\\ \Leftrightarrow 7.50x + 5.50\left( {x + 200} \right) = x\left( {x + 200} \right)\\ \Leftrightarrow {x^2} - 400x - 50000 = 0\end{array}\]
Giải phương trình ta được
\[{x_1} = 500\]\(\left( {nh\"En} \right)\); \[{x_2} = - 100\]
Khối lượng riêng của chất lỏng I là 700 (\[kg/{m^3}\]).
Khối lượng riêng của chất lỏng loại II là 500 (\[kg/{m^3}\]).
Để giúp xe lửa chuyển từ một đường ray từ hướng này sang một đường ray theo hướng khác, người ta làm xen giữa một đoạn đường ray hình vòng cung (hình 3.7). Biết chiều rộng của đường ray là \[AB = 1,1\]m, đoạn \[BC = 28,4\]m. Hãy tính bán kính \[OA = R\]của đoạn đường ray hình vòng cung.

Gọi \[OA = OC = x > 0\](là bán kính của cung tròn lớn)
Suy ra \[OB = x - 1,1\]
Xét \[\Delta OBC\]vuông tại \[B\] có:
\[O{C^2} = O{B^2} + B{C^2}\]
\[ \Leftrightarrow {x^2} = {\left( {x - 1,1} \right)^2} + 28,{4^2}\]
\[ \Leftrightarrow 2,2x - 807,77 = 0\]
\[ \Leftrightarrow x = 403,885\](m)
Vậy bán kính của đoạn ray là \[403,885\]m.
Một khu đất trồng hoa lúc đầu hình chữ nhật có chiều dài 6,6 (m), người trồng hoa muốn mở rộng thêm về phía chiều rộng một hình vuông có cạnh \(x\) (m) để được khu đất có diện tích 34 (m2). Tìm chu vi của khu đất trồng hoa lúc sau?
Khu đất trồng hoa ban đầu có chiều dài là \(6,6\) m, chiều rộng là \(x\) m \(\left( {x > 0} \right)\)
Khu đất trồng hoa lúc sau có chiều dài là \(x + 6,6\) m, chiều rộng là \(x\) m
Diện tích khu đất lúc sau là \(34{m^2}\) nên ta có phương trình:
\(\left( {x + 6,6} \right).x = 34 \Leftrightarrow {x^2} + 6,6x - 34 = 0 \Leftrightarrow \left[ \begin{array}{l}x = 3,4\left( {TM} \right)\\x = - 10\left( {KTM} \right)\end{array} \right.\)
Vậy khu đất trồng hoa lúc sau có chiều dài là \(10\) m, chiều rộng là \(3,4\) m
Chu vi của khu đất trồng hoa lúc sau là: \(\left( {10 + 3,4} \right).2 = 26,8\left( m \right)\)
Cho hình chữ nhật có chiều dài \(8\)cm, chiều rộng ngắn hơn đường chéo \(4\)cm. Tính diện tích hình chữ nhật.
Gọi chiều rộng của hình chữ nhật là: \(x\,\left( {\rm{m}} \right)\), \(\left( {0 < x < 8} \right)\)
Đường chéo của hình chữ nhật là: \(x + 4\,\left( {\rm{m}} \right)\)
Theo đề Câu ta có phương trình:
\({x^2} + {8^2} = {\left( {x + 4} \right)^2}\)( định lí Py – ta – go )\( \Leftrightarrow 8x = 48\)\( \Leftrightarrow x = 6\) (m) (t/m)
Vậy diện tích của hình chữ nhật là: \(8.6 = 48\,\left( {{m^2}} \right)\)
Một hình chữ nhật có chiều rộng bằng một nửa chiều dài. Biết rằng nếu giảm mỗi chiều đi 2 m thì diện tích hình chữ nhật đã cho giảm đi một nửa. Tính chiều dài hình chữ nhật đã cho.
Gọi chiều dài của hình chữ nhật đã cho là x, với x > 4.
Vì chiều rộng bằng nửa chiều dài nên chiều rộng là: \(\frac{x}{2}\)
=> diện tích hình chữ nhật đã cho là: \(x.\frac{x}{2} = \frac{{{x^2}}}{2}\)
Nếu giảm mỗi chiều đi 2 m thì chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật lần lượt là: \(x - 2\quad va\quad \frac{x}{2} - 2\)
khi đó, diện tích hình chữ nhật giảm đi một nửa nên ta có phương trình:
\((x - 2)(\frac{x}{2} - 2) = \frac{1}{2} \cdot \frac{{{x^2}}}{2}\)
\( \Leftrightarrow \frac{{{x^2}}}{2} - 2x - x + 4 = \frac{{{x^2}}}{4} \Leftrightarrow {x^2} - 12x + 16 = 0\)
=>\({x_1} = 6 + 2\sqrt 5 \);
\({x_2} = 6 - 2\sqrt 5 \)
Vậy chiều dài của hình chữ nhật đã cho là \(6 + 2\sqrt 5 \).
Một tam giác vuông có chu vi là 30 cm, độ dài hai cạnh góc vuông hơn kém nhau 7 cm. Tính độ dài các cạnh của tam giác vuông đó.
Gọi x là độ dài cạnh góc vuông ngắn. ĐK: x>0
Suy ra độ dài cạnh góc vuông thứ hai x+7
Cạnh huyền của tam giác vuông là \(\sqrt {{x^2} + {{(x + 7)}^2}} \)
Chu vi tam giác vuông là 30 cm nên ta có phương trình:
\[\begin{array}{l}\sqrt {{x^2} + {{(x + 7)}^2}} + x + x + 7 = 30\\ \Leftrightarrow \sqrt {2{x^2} + 14x + 49} = 23 - 2x\\ \Leftrightarrow \left\{ \begin{array}{l}x \le \frac{{23}}{2}\\2{x^2} - 106x + 480 = 0\end{array} \right.\\ \Leftrightarrow \left\{ \begin{array}{l}x \le \frac{{23}}{2}\\\left[ \begin{array}{l}x = 48\\x = 5\end{array} \right.\end{array} \right.\\ \Leftrightarrow x = 5\end{array}\]
Vậy độ dài của các cạnh của tam giác vuông lần lượt là 5 và 12.








