200+ câu Trắc nghiệm Luật dân sự 1 có đáp án - Phần 5
30 câu hỏi
Thai nhi có năng lực pháp Luật Dân sự không? Vì sao?
* Thai nhi không có năng lực pháp Luật Dân sự.
-Vì: năng lực pháp Luật Dân sự chính thức phát sinh khi cá nhân được sinh ra, tức là thời điểm cá nhân hoàn toàn nằm ngoài cơ thể người mẹ và cất tiếng khóc đầu tiên.Ở đây thai nhi vẫn nằm trong cơ thể người mẹ, không đáp ứng được điều kiện cần để phát sinh năng lực pháp Luật Dân sự.
* Tuy nhiên, trong một số trường hợp thai nhi được pháp luật trao cho một số quyền có liên quan đến vấn đề thừa kế “đã hình thành thai trước khi người thừa kế di sản chết” (Điều 613 DLDS 2015).
Khái niệm và đặc điểm pháp lý của năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
* Đặc điểm pháp lý:
-Người từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật định.
Ý nghĩa của chế định năng lực hành vi dân sự.
* Ý nghĩa: nhằm bảo vệ chủ thể trong các giao dịch dân sự; đặc biệt trong các trường hợp chủ thể là người năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ; người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Phân tích mối quan hệ giữa năng lực ý chí và năng lực hành vi dân sự.
* Những điểm không tương đồng giữa Luật cư trú và BLDS liên quan đến việc xác định nơi cư trú của cá nhân:
-Theo Luật cư trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đã đăng ký thường trú hoặc tạm trú.
-Theo BLDS 2015 thì nơi cứ trú của công dân là nơi người đó thường xuyên sinh sống (khoản 1 Điều 40).
-Trong nhiều trường hợp nơi công dân đăng ký thường trú, tạm trú không phải là nơi người đó đang sinh sống, từ đó dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định nơi cư trú của cá nhân.
Trình bày về các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên và đưa ra nhận xét quy định của BLDS 2015.
* Các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên (người chưa đủ 18 tuổi):
-Người chưa đủ 6 tuổi thì giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
-Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phái được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi.
-Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Nhận xét Điều 23 BLDS 2015 trong mối tương quan với ý nghĩa chế định hành vi dân sự.
* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Theo quy định tại điều 23 BLDS 2015, chủ thể được nhắc đến ở đây là người “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, tức là người đó không thể tự mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Bình luận về Điều 24 BLDS 2015 trong mối tương quan với nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của cá nhân.
* Ở một số nước trên thế giới, phạm vi chủ thể bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự đã loại bỏ những người nghiện ma túy, nghiện chất kích thích được pháp luật bảo vệ.Bởi họ cho rằng những hành vi của những người nghiện rượu, nghiện ma túy khiến phá tán tài sản không liên quan đến năng lực hành vi dân sự, trừ lúc họ sử dụng chất kích thích.Và họ cũng đặt ra câu hỏi là liệu hạn chế năng lực hành vi của những người nghiện ma túy, người nghiện chất kích thích có vi phạm nguyên tắc tự định đoạt hay không?
* Theo như cách lý giải trên thì tài sản của người nghiện ma túy, nghiện chất kích thích là tài sản thuộc quyền sở hữu của họ thì họ có quyền định đoạt, không nhất thiết cần phải được sự đồng ý của người đại diện hoặc người giám hộ, không nhất thiết phải là chủ thể được pháp luật bảo vệ.
Bình luận về chế định năng lực hành vi dân sự trong BLDS 2015 dưới góc độ cân bằng lợi ích của chủ thể và đảm bảo an toàn trong giao dịch.
* BLDS 2015 chưa có quy định cụ thể giao dịch như thế nào được gọi là “giao dịch phù hợp nhu cầu sinh hoạt”.Bởi vậy, trong nhiều trường hợp không xác định được đâu là giao dịch mà người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;người bị hạn chế hành vi dân sự được phép thực hiện không thông qua đại diện hoặc người giám hộ.
* Trong trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dùng thủ đoạn nhằm làm cho giao dịch dân sự vô hiệu để hưởng lợi cho bản thân thì Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu hay không? Và làm thế nào để bảo vệ người thứ ba ngay tình trong các giao dịch dân sự này?
Khái niệm nơi cư trú của cá nhân.
* Nơi cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống (khoản 1 Điều 40 BLDS 2015), hoặc là nơi người đó đang sinh sống (khoản 2 Điều 40 BLDS 2015).
Chỉ ra những điểm không tương thích giữa Luật cư trú và BLDS liên quan đến việc xác định nơi cư trú của cá nhân.
* Những điểm không tương đồng giữa Luật cư trú và BLDS liên quan đến việc xác định nơi cư trú của cá nhân:
-Theo Luật cư trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đã đăng ký thường trú hoặc tạm trú.
-Theo BLDS 2015 thì nơi cứ trú của công dân là nơi người đó thường xuyên sinh sống (khoản 1 Điều 40).
-Trong nhiều trường hợp nơi công dân đăng ký thường trú, tạm trú không phải là nơi người đó đang sinh sống, từ đó dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định nơi cư trú của cá nhân.
Khái niệm và phân loại giám hộ.
* Giám hộ: là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc quy định tạo khoản 2 Điều 48 của Bô luật này để thực hiện chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
* Phân loại:
-Giám hộ cho người chưa thành niên;
-Giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự;
-Giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Khái niệm người được giám hộ và người giám hộ.
* Người được giám hộ:
-Người được giám hộ bao gồm:
-Người chưa thành niên không còn cha, me hoặc không xác định được cha, mẹ.
-Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ dều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.
-Người mất năng lực hành vi dân sự;
-Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
* Người giám hộ:
-Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Điều kiện để chủ thể pháp Luật Dân sự làm người giám hộ.
* Điều kiện của chủ thể làm người giám hộ:
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
+ Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;
+ Không phải người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
+ Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
* Quyền của người giám hộ:
-Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có những quyền sau đây:
-Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chỉ dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ.
-Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lí tài sản của người được giám hộ.
-Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện gian dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
* Nghĩa vụ của người giám hộ được chia làm ba trường hợp theo đối tượng giám hộ.
-Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi:
-Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
-Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ 15 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
-Quản lý tài sản của người được giám hộ;
-Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
-Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi:
-Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hp pháp luật quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình thự hiện, xác lập giao dịch dân sự.
-Quản lí tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
-Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
-Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lục hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:
-Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau:
+ Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
+ Đại diện cho người được giám hộ tham gia các giao dịch dân sự;
+ Quản lí tài sản của người được giám hộ
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
-Người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 57 BLDS 2015.
Quản lí tài sản của người được giám hộ.
* Quản lí tài sản đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự:
-Quản lí như tài sản của chính mình, được thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người giám hộ.
-Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, giao dịch dân sự khác đối với tài sản lớn phải có sự
đồng ý của người giám sát giám hộ.
-Không được tặng cho người khác.
-Giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp luật định.
* Quản lí tài sản đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quuyết định của Tòa án.
Điều chỉnh vấn đề vì lợi ích của người được giám hộ và giải pháp tránh xung đột lợi ích giữa người giám hộ và người được giám hộ.
*Mọi quyết định, hành vi của người giám hộ phải nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Người giám hộ có trách nhiệm chăm sóc, quản lý tài sản, đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự theo đúng pháp luật.
Không được lạm dụng việc giám hộ để trục lợi hoặc gây thiệt hại cho người được giám hộ.
*Xung đột lợi ích xảy ra khi:
Lợi ích cá nhân của người giám hộ mâu thuẫn hoặc đối lập với lợi ích của người được giám hộ.
Ví dụ: giao dịch tài sản giữa người giám hộ và người được giám hộ; định đoạt tài sản của người được giám hộ để phục vụ lợi ích riêng của người giám hộ.
*Hạn chế quyền đại diện: Người giám hộ không được đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch có xung đột lợi ích, trừ trường hợp pháp luật cho phép.
Chỉ định người đại diện khác: Cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, UBND) có thể chỉ định người đại diện khác để thực hiện giao dịch cụ thể.
Giám sát của cơ quan nhà nước hoặc người thân thích: Việc quản lý, sử dụng tài sản của người được giám hộ có thể bị kiểm tra, giám sát.
Thay đổi người giám hộ: Khi người giám hộ vi phạm nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền có thể chấm dứt việc giám hộ và cử người khác.
Trách nhiệm bồi thường: Nếu người giám hộ gây thiệt hại cho người được giám hộ thì phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Chấm dứt giám hộ và hậu quả pháp lý.
* Chấm dứt giám hộ:
-Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
-Người được giám hộ chết;
-Cha, me của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
-Người được giám hộ được nhận làm con nuôi.
* Hậu quả pháp lý:
-Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: trong vòng 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người được giám hộ.
-Người được giám hộ chết: trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người thừa kế hoặc giao cho người quản lí tài sản của người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người thừa kế của người được giám hộ;nếu trong thời hạn đó mà chưa xác định được người thừa kế của người được giám hộ thì người giám hộ tiếp tục quản lí tài sản cho đến khi tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế và thông báo cho Ủy ban nhân dan cấp xx nơi cư trú của người được giám hộ.
-Người giám hộ có cha, mẹ đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của con hoặc người được giám hộ được nhận làm con nuôi:trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho cha, mẹ của người được giám hộ.
Nhận xét về hậu quả pháp lý của chấm dứt giám hộ theo quy định của BLDS 2015 về hiệu lực giao dịch dân sự với người thứ ba.
* Theo quy định của BLDS 2015 thì người giám hộ có nghĩa vụ đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, nhưng việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền đều thuộc về người đại diện.Vì vậy, khi chấm dứt việc giám hộ thì các giao dịch dân sự trước đó do người giám hộ thực hiện để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện đối với bên thức ba vẫn có hiệu lực.
So sánh giám hộ và đại diện theo pháp luật.-Giám hộ là một trường hợp của chế định đại diện.
-Giống nhau:
+ Đại diện cho cá nhân tham gia các giao dịch dân sự khi cá nhân không thể hoặc không được phép tự mình xác lập các giao dịch dân sự.
-Khác nhau:
+ Giám hộ:
+ Chỉ áp dụng cho cá nhân
+ Có cơ chế giám sát chặt chẽ
+ Đại diện:
+ Áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân
+ Không bị giám sát
Điều kiện để tuyên bố một người vắng mặt tại nơi cư trú.
* Điều kiện để tuyên bố một người vắng mặt tại nơi cư trú: Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
-Điều kiện cần: người được xác định là vắng mặt phải ngưng xuất hiện ở nơi cư trú liên tục trong thời gian ít nhất 6 tháng.
-Điều kiện đủ: phải có người nộp đơn yêu cầu Tòa án, sau đó Tòa án phải ra thông báo tìm kiếm.
Hậu quả pháp lý trong trường hợp một người bị tuyên bố vắng mặt tại nơi cư trú.
* Hậu quả pháp lý:
-Người bị tuyên bố vắng mặt tại nơi cư trú không thể trực tiếp đảm nhận tư cách chủ thể trong giao dịch dân sự.
-Các quan hệ nhân thân gắn liền với người bị tuyên bố vắng mặt không thể được thiết lập.
-Vẫn là chủ sở hữa những tài sản thuộc về mình và vẫn là người chịu trách nhiêm thực hiện những nghĩa vụ do mình xác lập.
-Tài sản của người bị tuyên bố vắng mặt tại nơi cư trú được quản lý theo quy định tại Điều 65 BLDS 2015.
Điều kiện để một người bị tuyên bố mất tích.
* Điều kiện để một người bị tuyên bố mất tích: khi một người vắng mặt 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích có liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
-Điều kiện cần:
-Đã có thông báo tìm kiếm trước đó
-Thời gian biệt tích phải kéo dài liên tục ít nhất 02 năm.
-Điều kiện đủ:
-Có người yêu cầu Tòa án ra quyết định mất tích.
Điều kiện để một người bi tuyên bố chết.
* Điều kiện:Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định một người đã chết trong các trường hợp sau:
-Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không thấy có tin tức xác thực là còn sống.
-Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
-Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm kể từ ngày tai nạn hoặc thiên tai, thảm họa đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
-Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, thời hạn được quy định tại Điều 68 BLDS 2015.
So sánh hậu quả pháp lý trường hợp cá nhân bị tuyên bố mất tích và bị tuyên bố chết.
* Giống nhau:
-Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích hoặc bị tuyên bố chết xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo pháp luật về hôn nhân và gia đình.
* Khác nhau:
-Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người bị tuyên bố mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý, nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích, nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản
-Quản lý tài sản của người bị tuyên bố đã chết: được giải quyết như đối với người chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Một người bị tuyên bố đã chết có mất năng lực hành vi dân sự không? Tại sao?
* Một người bị tuyên bố đã chết không mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.
-Vì: Người bị tuyên bố đã chết không hẳn là đã chết thật.Tuy nhiên với tuyên bố đã chết, người này chính thức bị suy đoán đã chết.Nên người bị tuyên bố đã chết sẽ mất năng lực hành vi dân sự tại nơi mà Tòa án ra quyết định người đó đã chết.Nhưng trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết vấn còn sống thì người đó vẫn có năng lực hành vi dân sự.Khi người bị tuyên bố là đã chết trở về, trên nguyên tắc, tư cách chủ thể của người đó vẫn được duy trì liên tục.
Nêu những điểm bất hợp lý của quy định liên quan đến hậu quả pháp lý trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết quay về.
* Trong trường hợp người thứ ba không phải người được hưởng thừa kế biết người bị tuyên bố đã chết còn sống nhưng cố tình giấu giếm nhằm hưởng lợi từ tài sản thừa kế của người bị tuyên bố đã chết thông qua người thừa kế thì người bị tuyên bố đã chết không thể yêu cầu người thừa kế hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; phải bồi thường nếu gây thiệt hại.
Nêu khái niệm và phân loại pháp nhân.
* Khái niệm: Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp;có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp Luật Dân sự một cách độc lập (Điều 74 BLDS 2015).
* Phân loại pháp nhân:
-Pháp nhân theo luật công và pháp nhân theo luật tư:
-Pháp nhân theo luật công (pháp nhân công)
-Pháp nhân theo luật tư
-Quỹ từ thiện, quỹ xã hội
-Pháp nhân thu lợi nhuận và pháp nhân không thu lợi nhuận:
-Công ty và pháp nhân khác
-Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại:
-Pháp nhân thương mại: là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
-Pháp nhân phi thương mại: là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không phân chia cho các thành viên.
Ý nghĩa của pháp nhân.
* Ý nghĩa của pháp nhân: nhằm bảo vệ lợi ích chung của nhóm trong trường hợp lợi ích riêng và lợi ích chung có mâu thuẫn cũng như lợi ích của người thứ ba có quan hệ với nhóm, cần công nhận sự tồn tại độc lập của nhóm so với cá nhân.
Phân tích điều kiện hình thành pháp nhân.
* Điều kiện hình thành pháp nhân:
-Được thành lập theo quy định của BLDS 2015, các luật khác có liên quan.
+ Điều này có nghĩa là sự thành lập của pháp nhân được Nhà nước thừa nhận, thành lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
-Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS 2015.
+ Pháp nhân cần phải có cơ quan điều hành.Đối với các pháp nhân được thành lập trên việc đóng góp phần trăm vốn điều lệ thì phải có Hội đồng thành viên (cổ đông), các pháp nhân còn lại cần có cơ quan điều hành gọi là Hội đồng quản trị.
-Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.
-Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Trình bày về cơ cấu tổ chức của pháp nhân.
* Cơ cấu tổ chức của pháp nhân:
-Pháp nhân phải có cơ quan điều hành.Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
-Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.





