Trắc nghiệm Lịch Sử 9 Bài 30 (có đáp án): Hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
12 câu hỏi
Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Pa-ri năm 1973 như thế nào?
Quân Mĩ rút khỏi nước ta, làm thay đổi so sánh lược lượng ở miền Nam có lợi cho cách mạng. Miền Bắc trở lại hòa bình, ra sức chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Đất nước hoàn toàn độc lập, quân Mĩ rút khỏi nước ta cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mĩ dồn toàn lực mở cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn chiến trường miền Nam.
Miền Bắc tiếp tục cuộc chiến tranh chống phá hoại của đế quốc Mĩ, vừa làm nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Đáp án: A
Giải thích:
Theo quyết định của Hiệp định Pa-ri năm 1973, Mĩ phải rút quân khỏi Việt Nam. Ngày 29 – 3 – 1973, toán lính Mĩ cuối cùng rút khỏi nước ta làm thay đổi so sánh lược lượng ở miền Nam có lợi cho cách mạng. Miền Bắc trở lại hòa bình, ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa và tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam.
Nhiệm vụ nào sau đây không phải là nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc thời kì 1973 – 1975?
Khắc phục hậu quả chiến tranh.
Khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa.
Tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế với Lào, Cam-pu-chia.
Tiếp tục chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ.
Đáp án: D
Giải thích:
Thời kì 1973 – 1975, Mĩ gần như đã rút toàn bộ quân đội về nước miền Bắc không phải chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ nữa mà ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa và tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế với Lào, Cam-pu-chia.
Chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong thời kì 1973 – 1975 ngoài việc phục vụ chiến đấu còn chuẩn bị cho vấn đề gì?
Chuẩn bị giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Chuẩn bị cho xây dựng và tiếp quản vùng giải phóng sau khi chiến tranh kết thúc.
Chuẩn bị cho việc tiếp quản chính quyền ở miền Nam.
Đáp án: C
Giải thích:
(SGK – trang 155)
Quân đội Sài Gòn có những hành động nào nhằm phá hoại Hiệp định Pa-ri?
Thi hành chính sách tố cộng, diệt cộng.
Tiếp tục nhận viện trợ quân sự của Mĩ.
Lập Bộ chỉ huy quân sự.
Tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, mở những cuộc hành quân bình định – lấn chiếm vùng giải phóng.
Đáp án: D
Giải thích:
Nhằm phá hoại Hiệp định Pa-ri quân đội Sài Gòn huy động gần như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, liên tiếp mở những cuộc hành quân bình định – lấn chiếm vùng giải phóng trong năm 1973 – 1974.
Nguyên nhân chủ yếu nào khiến ta bị mất đất, mất dân trên một số địa bàn quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “bình định – lấn chiếm”, chống chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” của địch?
Lực lượng Mĩ – Ngụy còn mạnh.
Do không đánh giá được hết âm mưu phá hoại Hiệp định của địch, quá nhấn mạnh hòa bình.
Quân đội ta quá yếu không đủ sức chống trả các cuộc hành quân của địch.
Quân ta lúc này đang phải đối phó với những hoạt động phá hoạt của quân Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam.
Đáp án: B
Giải thích:
(SGK – trang 156)
Ta mở hoạt động quân sự đông - xuân vào cuối 1974 đầu 1975, trọng tâm là
đồng bằng Nam bộ và Nam Trung bộ.
đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ.
Trung bộ và khu V.
mặt trận Trị - Thiên.
Đáp án: B
Giải thích:
Đông Xuân 1974 – 1975, ta mở đợt hoạt động quân sự vào hướng Nam Bộ , trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ. Quân ta giành thắng lợi lớn, giải phóng đường 14 và toàn tình Phước Long với hơn 50.000 dân.
Thắng lợi tiêu biểu nhất trong các hoạt động quân sự Đông Xuân 1974 – 1975 là:
chiến thắng Đường 9 – Nam Lào.
đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mĩ – Ngụy.
chiến dịch Đường 14 – Phước Long.
chiến dịch Tây Nguyên.
Đáp án: C
Giải thích:
(SGK – trang 157)
Kế hoạch giải phóng miền Nam được Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra trong 2 năm, đó là 2 năm nào?
1972 và 1973
1973 và 1974
1974 và 1975
1975 và 1976
Đáp án: D
Giải thích:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.
Vì sao Bộ Chính trị chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chiến lược đầu tiên cho chiến dịch giải phóng miền Nam?
Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng, địch tập trung lực lượng ở đây dày đặc.
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, nhưng địch tập trung lực lượng mỏng, bố phòng sơ hở.
Tây Nguyên là căn cứ quân sự liên hợp mạnh nhất của Mĩ – Ngụy ở miền Nam.
Chiếm được Tây Nguyên sẽ cắt đôi miền Nam.
Đáp án: B
Giải thích:
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng cả ta và địch đều cố nắm giữ, nhưng do nhận định sai hướng tiến công của ta nên địch tập trung ở đây lực lượng mỏng, bố phòng sơ hở. Căn cứ vào đó Bộ Chính trị chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chiến lược đầu tiên cho chiến dịch giải phóng miền Nam.
Sự kiện nào đánh dấu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng?
Chính phủ Trung ương Sài Gòn bị bắt.
Tống thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập.
Cờ cách mạng cắm trên Phủ Tổng thống.
Đáp án: D
Giải thích:
- 11 giờ 30 phút ngày 30 – 4 – 1975, lá cờ cách mạnh tung bay trên nóc tòa nhà Phủ Tổng thống, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Đâu là tên gọi của một phong trào công nghiệp ở miền Bắc trong giai đoạn 1961-1965?
Gió Đại Phong
Sóng Duyên Hải
Cờ Ba Nhất
Trống Bắc Lý
Đáp án B
“Sóng Duyên Hải” là tên của một phong trào công nghiệp ở miền Bắc trong giai đoạn 1961-1965. Đầu năm 1960, hưởng ứng "Thi đua ái quốc", phong trào thao diễn kỹ thuật phát huy sáng kiến của công ty được phát động mạnh mẽ và nhận được sự hưởng ứng sâu rộng của toàn thể cán bộ công nhân. Trong 2 tháng, 237 chỉ tiêu định mức lao động, kỹ thuật bị phá. Năng xuất lai động vượt từ 50 đến 610%, trình độ năng lực của cán bộ quản lý, kỹ thuật được tăng cường, trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao. Duyên Hải ngày ấy sôi động một cao trào thi đua chưa từng có, thực sự tạo nên một khí thế cách mạng, đưa Duyên Hải trở thành lá cờ đầu của ngành công nghiệp miền Bắc
Đại hội Đảng lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội là:
Đại hội Đảng lần thứ III (1960).
Đại hội Đảng lần thứ V (1981).
Đại hội Đảng lần thứ II (1951).
Đại hội Đảng lần thứ IV (1976).
Đáp án A
Tháng 9-1960, Đảng Lao động Việt Nam họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội Đảng đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội.
