
17 câu hỏi
- Quan hệ giữa em và cửa hàng tạp hóa là quan hệ lao động. Vì: quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Trong trường hợp của em:
+ Chủ cửa hàng tạp hóa là người sử dụng lao động.
+ Bản thân em là người lao động.
+ Mức lương em được trả là: 30.000 đồng/ giờ làm việc.
- Giữa anh B và công ty K phát sinh quan hệ lao động. Trong đó:
+ Công ty K là người sử dụng lao động.
+ Anh B là người lao động.
- Giữa chị H và Cửa hàng may đo X phát sinh loại quan hệ lao động. Trong đó:
+ Chị H là người sử dụng lao động.
+ Cửa hàng may đo X là người lao động.
+ Chị H thuê cửa hàng may đo X với chi phí (mức lương) là 800.000 đồng/ sản phẩm.
- Điểm khác nhau:
|
|
Thông tin 2 |
Thông tin 3 |
|
Người sử dụng lao động |
- Tập thể đại diện người sử dụng lao động (công ty K) |
- 1 cá nhân (chị H) |
|
Người lao động |
- 1 cá nhân (anh B) |
- 1 tập thể (cửa hàng may đo X) |
|
Cách trả lương |
- Trả lương theo tháng. |
- Trả lương theo sản phẩm |
- Mối quan hệ giữa giữa tổ chức Công đoàn mà anh A gia nhập và Công ty K là quan hệ lao động tập thể, giữa: đại diện người lao động (công đoàn) với đại diện người sử dụng lao động (công ty K).
- Chị A phải bồi thường thiệt hại cho công ty X. Vì:
+ Việc cắt may hỏng 20 chiếc áo là hoàn toàn do lỗi từ phía của chị A, và lỗi này đã gây nên thiệt hại cho công ty X.
+ Việc bồi thường thiệt hại đã được quy định trong pháp luật lao động.
- Người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp.
- Người dử dụng lao động có quyền tự do tuyển dụng, bố trí, quản lí, điều hành và giám sát lao động.
- Việc quy định thu tiền phí dự tuyển trong thông báo tuyển dụng của Siêu thị E là vi phạm pháp luật lao động. Vì: theo quy định tại Khoản 2 điều 11 Bộ Luật Lao động năm 2019: người lao động không phải trả chi phí cho việc tuyển dụng lao động.
- Siêu thị E có thể bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng vì:
+ Việc thu phí tuyển dụng lao động là hành vi trái pháp luật;
+ Việc xử phạt hành vi này đã được quy định tại Điều 8 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng .
- Tự do làm việc và tuyển dụng lao động là nguyên tắc được áp dụng đối với mọi công dân khi tham gia thị trường lao động.
+ Với tư cách là người lao động: công dân được đảm bảo quyền quyết định lựa chọn đối tác trong quan hệ lao động, tự do lựa chọn địa điểm làm việc, xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ lao động,... nếu không vi phạm những điều pháp luật cấm.
+ Với tư cách là người sử dụng lao động: công dân được đảm bảo quyền quyết định về thời điểm, cách thức tổ chức, số lượng, chất lượng tuyển dụng lao động, có quyền sắp xếp, bố trí, sử dụng lao động, chấm dứt quan hệ lao động.... theo nhu cầu của đơn vị và không trái quy định của pháp luật.
- Ví dụ minh họa:
+ Ví dụ 1: Sau khi tốt nghiệp Đại học, anh C vào làm việc tại công ty X với vị trí nhân viên kinh doanh. Sau một thời gian, anh chuyển sang làm việc tại công ty Y vì nhận được mức đãi ngộ cao hơn và có nhiều cơ hội để phát triển bản thân hơn.
+ Ví dụ 2: Do nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên doanh nghiệp may mặc T đã gửi thông báo tuyển dụng đến các địa phương trên toàn thành phố H để tuyển dụng thêm lao động.
- Pháp luật quy định quyền của người lao động nhằm: tạo cơ sở pháp lý để người lao động có thể đấu tranh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào quan hệ lao động.
- Việc chị M làm đơn xin phép doanh nghiệp cho nghỉ không hưởng lương trong ba tháng tiếp theo và được doanh nghiệp chấp thuận là phù hợp với nguyên tắc bảo vệ người lao động. Vì: theo quy định tại khoản 3 điều 139 Bộ Luật Lao động năm 2019: hết thời gian nghỉ thai sản (6 tháng), nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.
- Pháp luật quy định người lao động khi gây ra thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động thì phải bồi thường nhằm:
+ Tạo cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động có thể đấu tranh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào quan hệ lao động.
+ Quản lí lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm của người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động.
- Do anh H đã sử dụng ma túy trong quá trình làm việc nên công ty B đã áp dụng hình thức xử lí kỉ luật sa thải đối với anh H. => Như vậy, việc Công ty B sa thải anh H nhằm thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động (khoản 2 điều 125 Bộ Luật Lao động năm 2019).
- Việc không trang bị đủ đồ bảo hộ cần thiết cho công nhân của Công ty M đã vi phạm nguyên tắc bảo vệ người lao động của pháp luật lao động.
- Công ty M có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh N, vì:
+ Việc không trang bị đủ đồ bảo hộ cần thiết cho công nhân; không đảm bảo điều kiện làm việc an toàn cho người lao động là lỗi của công ty M.
+ Việc người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường cho người lao động khi người sử dụng lao động vi phạm quy định về phòng ngừa tai nạn lao động đã được quy định trong Nghị định số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ.
- Ý kiến a) Sai. Vì: việc đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động cần phải có sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật lao động của cả người lao động và người sử dụng lao động.
- Ý kiến b) Sai. Vì: nhà nước đã ban hành nhiều quy định pháp luật để đảm bảo quyền tự do và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
- Ý kiến c) Đúng. Vì: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động.
* Tình huống a)
- Hành vi nợ lương công nhân của công ty Q là vi phạm nguyên tắc của pháp luật lao động. Vì:
+ Theo quy định tại Điều 94 Bộ Luật Lao động năm 2019: người sử dụng lao động phải trả lương đầy đủ, trực tiếp, đúng hạn cho người lao động hoặc trả lương cho người được người lao động ủy quyền trong trường hợp người lao động không thể nhận trực tiếp.
+ Theo quy định tại khoản 4 Điều 97 Bộ Luật Lao động năm 2019: trong trường hợp vì lý do bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm,… mà người sử dụng lao động không thể trả lương đúng hạn dù đã tìm mọi biện pháp để khắc phục thì được chậm trả lương cho người lao động không quá 30 ngày.
=> Như vậy, căn cứ theo quy định này, pháp luật cho phép người sử dụng lao động được chậm trả lương cho người lao động nếu vì lý do bất khả kháng nhưng tối đa không quá 30 ngày. Do đó, việc công ty Q nợ lương 4 tháng chưa thanh toán cho nhân viên là vi phạm pháp luật.
- Hành vi của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng nguyên tắc bảo vệ người lao động của pháp luật lao động.
* Tình huống b)
- Hành vi của công ty X đã vi phạm nguyên tắc của pháp luật lao động. Vì:
+ Theo quy định của pháp luật: người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với một số trường hợp nhất định; khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, người sử dụng lao động cần đưa ra lý do và báo trước cho người lao động trong một khoảng thời gian nhất định (được nêu rõ trong Điều 36 Bộ Luật Lao động năm 2019).
+ Áp dụng vào trường hợp này: công ty X đã thông báo chấm dứt hợp đồng lao đồng với ông V mà không nêu rõ lí do => hành vi này vi phạm quy định của pháp luật.
- Hành vi của ông X và Toà án đã thực hiện đúng đúng nguyên tắc bảo vệ người lao động của pháp luật lao động.
* Tình huống c)
- Hành vi của chị H (không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân) đã vi phạm nguyên tắc của pháp luật lao động. Vì: theo quy định tại điểm c) khoản 2 điều 5 Bộ Luật Lao động năm 2019: người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy định của pháp luật về an toàn lao động.
- Hành vi của doanh nghiệp N (cung cấp phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động) là đúng nguyên tắc của pháp luật lao động. vì: theo quy định tại điểm d) khoản 2 điều 6 Bộ Luật Lao động năm 2019: người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện quy định của pháp luật về an toàn lao động.
- Hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ra quyết định phạt chị H 700.000 đồng) là đúng nguyên tắc bảo vệ người sử dụng lao động của pháp luật lao động.
* Trả lời câu hỏi tình huống a)
- Yêu cầu số 1: việc doanh nghiệp S không điều chỉnh lương cho chị Y là vi phạm nguyên tắc bảo vệ người lao động. Vì: theo khoản 2 điều 90 Bộ Luật Lao động: mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do chính phủ quy định.
- Yêu cầu số 2: Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị Y cần:
+ Tiến hành khiếu nại (Khiếu nại lần đầu đến doanh nghiệp về việc tiền lương được trả thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; khiếu nại lần 2 tới Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính trong trường hợp: không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của doanh nghiệp; hoặc quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà không được giải quyết).
+ Chị Y cũng có thể tiến hành nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc Hội đồng trọng tài lao động mà không cần tiến hành việc khiếu nại hoặc trong quá trình khiếu nại (bao gồm cả lần đầu và lần hai) nếu không đồng ý với quyết định giải quyết nại hoặc quá thời hạn giải quyết khiếu nại.
* Trả lời câu hỏi tình huống b)
- Yêu cầu số 1: việc chị K thực hiện không đúng quy định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và làm hỏng thiết bị của công ty đã vi phạm nguyên tắc bảo vệ người sử dụng lao động. Vì:
+ Theo quy định tại điểm c) khoản 2 điều 5 Bộ Luật Lao động năm 2019: người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy định của pháp luật về an toàn và vệ sinh lao động.
+ Điều 129 Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định: Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.
- Yêu cầu số 2: Giám đốc công ty K nên:
+ Yêu cầu chị K tường trình lại vụ việc bằng văn bản.
+ Tiến hành họp với chị K để phân tích: nguyên nhân dẫn đến tai nạn; lỗi sai và trách nhiệm của chị K trong vụ việc và thống nhất với chị K về mức độ, chi phí bồi thường. Trong quá trình họp, cần làm rõ, trao đổi cụ thể các quy định của pháp luật để chị K nhận thức được rõ lỗi sai và trách nhiệm, nghĩa vụ của mình.
+ Nếu sau quá trình họp, chị K vẫn kiên quyết không chấp nhận bồi thường cho công ty, công ty có thể tiến hành khởi kiện chị K.
(*) Tham khảo: Vụ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
- Ông K là chủ cơ sở sản xuất đồ gia dụng. Để sản xuất đủ số lượng theo yêu cầu của thị trường, ông đã tuyển thêm 40 nhân công trong độ tuổi từ 30 - 35 để phục vụ sản xuất và kí kết hợp đồng bằng văn bản theo đúng quy định của pháp luật.
- Sau 17 tháng, do tình hình dịch bệnh COVID-19 nên doanh thu giảm sút, ông K đã quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với 40 công nhân nói trên, ông K thanh toán đủ lương và trả đủ tiền phụ cấp thôi việc theo quy định nhưng đại diện của những công nhân này đã viết đơn kiện ông K.
- Sau khi cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến thỏa thuận giữa mình với 40 công nhân, cơ quan chức năng đã kết luận ông K tuân thủ đúng quy định của pháp luật lao động.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.



![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)
![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)



















