Đề thi thử Tốt nghiệp THPT Hóa học 2025 - 2026 Sở GD&ĐT Đồng Nai lần 1 có đáp án
28 câu hỏi
Phần I: Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 18. Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án.
Khi đi từ Lithium (Li) đến Cesium (Cs) trong nhóm kim loại kiềm (nhóm IA), tính khử của các nguyên tử kim loại có xu hướng tăng dần. Nguyên nhân chính giải thích cho quy luật này là :
Khối lượng nguyên tử tăng dần, làm cho các kim loại có xu hướng dễ dàng nhường electron hơn trong phản ứng.
Nhiệt độ nóng chảy giảm dần, khiến cho mạng tinh thể kim loại dễ bị phá vỡ để giải phóng electron.
Điện tích hạt nhân tăng dần, làm cho electron hóa trị có nhiều năng lượng và càng dễ tách ra khỏi nguyên tử.
Bán kính nguyên tử tăng đáng kể làm giảm lực hút của hạt nhân đối với electron hóa trị ngoài cùng.
Đáp án đúng là D
Nguyên nhân chính giải thích cho quy luật này là: Bán kính nguyên tử tăng đáng kể làm giảm lực hút của hạt nhân đối với electron hóa trị ngoài cùng.
Trong nhóm IA, tất cả các nguyên tử đều có 1 electron ở lớp ngoài cùng (ns1). Khi đi từ Li đến Cs: Số lớp electron tăng dần (từ 2 lớp lên đến 6 lớp) → Bán kính nguyên tử tăng nhanh, dẫn đến khoảng cách từ hạt nhân đến electron hóa trị ngoài cùng ngày càng xa. Theo định luật Coulomb, lực hút giữa hạt nhân (điện tích dương) và electron (điện tích âm) tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Khoảng cách càng lớn, lực hút càng yếu. Vì lực giữ của hạt nhân yếu đi, nguyên tử càng dễ dàng nhường electron đó cho các chất khác. Khả năng nhường electron càng dễ thì tính khử càng mạnh.
Cho các quá trình sau :
(1) CH4 + Cl2 → CH3Cl + HCl
(2) C3H8 → C2H4 + CH4
(3) CH4 + 2O2 → CO2 + 2H2O
(4) 2CH4 + 3O2 → 2CO + 4H2O
Các quá trình 1, 2, 3, 4 lần lượt thuộc loại phản ứng nào ?
Thế; cracking; oxi hoá không hoàn toàn; oxi hoá hoàn toàn.
Cộng; cracking; oxi hoá hoàn toàn; oxi hoá không hoàn toàn.
Thế; reforming; oxi hoá hoàn toàn; oxi hoá không hoàn toàn.
Thế; cracking; oxi hoá hoàn toàn; oxi hoá không hoàn toàn.
Đáp án đúng là D
(1) Thay thế nguyên tử này bằng nguyên tử khác.
(2) Bẻ gãy mạch C dài thành mạch C ngắn hơn.
(3) Đốt cháy tạo ra CO2 và H2O.
(4) Tạo ra sản phẩm trung gian như CO, C, aldehyde…
→ Các quá trình 1, 2, 3, 4 lần lượt thuộc loại phản ứng thế; cracking; oxi hoá hoàn toàn; oxi hoá không hoàn toàn.
Phát biểu nào sau đây đúng khi so sánh xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp ?
Cả hai đều là muối của axit béo.
Xà phòng là muối của axit béo, còn chất giặt rửa tổng hợp thì không.
Chất giặt rửa tổng hợp là este, còn xà phòng là ancol.
Cả hai đều không tan trong nước.
Đáp án đúng là B
Xà phòng là muối của axit béo, còn chất giặt rửa tổng hợp thì không. Chất giặt rửa tổng hợp thường là muối sodium của các acid alkylbenzene sulfonic hoặc acid alkyl sulfuric.
Tên gốc - chức của hợp chất CH3CH2NH2 là :
Methylamine.
Dimethylamine.
Ethylamine.
Propylamine.
Đáp án đúng là C
Chất CH3CH2NH2 có gốc ethyl và chức amine nên tên gốc – chức của hợp chất này là ethylamine.
Bình xịt gây tê trong thể thao là dụng cụ y tế khẩn cấp giúp làm đông lạnh cục bộ, tê liệt dây thần kinh cảm giác để giảm đau, sưng tấy tức thì khi bị va chạm, bong gân hoặc căng cơ. Trong một số bình xịt gây tê, người ta sử dụng một hợp chất hữu cơ X. Chất X là :
CH3OH, vì khi bay tỏa nhiệt mạnh vào môi trường.
C2H6, vì không phân cực nên hấp thụ nhiệt tốt.
C2H5Cl, vì khi bay hơi thu nhiệt mạnh từ môi trường.
C2H5OH, vì có khả năng tạo liên kết hydrogen và sát khuẩn.
Đáp án đúng là C
Mùi tanh của cá chủ yếu do các amine (như trimethylamine) gây ra. Để khử mùi tanh này trong quá trình sơ chế, người ta thường dùng giấm ăn (chứa chất X) là do :
Acetic acid có trong giấm làm xúc tác cho quá trình phân hủy các amine thành những chất khí không mùi.
Acetic acid và nước tạo lớp màng bảo vệ trên bề mặt cá, ngăn không cho các amine tiếp xúc với không khí.
Acetic acid có trong giấm ăn phản ứng với các amine tạo thành muối tan trong nước, dễ dàng bị rửa trôi.
Nước có trong giấm ăn đã hòa tan các amine thành dung dịch bão hòa, ngăn chặn sự bay hơi của mùi tanh.
Đáp án đúng là C
Chất X là C2H5Cl, vì khi bay hơi thu nhiệt mạnh từ môi trường.
C2H5Cl có nhiệt độ sôi rất thấp. Ở nhiệt độ phòng và dưới áp suất cao trong bình xịt, nó tồn tại ở dạng lỏng. Khi xịt ra ngoài, áp suất giảm đột ngột khiến C2H5Cl bay hơi cực nhanh. Để chuyển từ thể lỏng sang thể hơi, nó cần một lượng năng lượng lớn. Nó sẽ thu nhiệt mạnh trực tiếp từ vùng da tiếp xúc. Nhiệt độ tại vùng da đó giảm xuống rất nhanh, làm “đóng băng” tạm thời các đầu dây thần kinh cảm giác và làm co mạch máu. Kết quả là cảm giác đau bị chặn lại ngay lập tức và giảm sưng tấy. Vê hình thức, nó như một dạng chờm đá nhưng ở mức độ nhanh và mạnh hơn nhiều.
Trong các phân tử sau, phân tử nào có chứa liên kết đôi ?
CH4.
CO2.
H2O.
NH3.
Đáp án đúng là B
Trong một pin điện hoá Galvani Zn-Cu đang hoạt động tạo ra dòng điện, điện cực kẽm (Zn) có vai trò là :
Cathode, nơi xảy ra quá trình khử và đóng vai trò là cực dương của pin.
Cathode, nơi xảy ra quá trình oxi hóa và đóng vai trò là cực dương của pin.
Anode, nơi xảy ra quá trình oxi hoá và đóng vai trò là cực âm của pin.
Anode, nơi xảy ra quá trình khử và đóng vai trò là cực âm của pin.
Đáp án đúng là C
Kim loại nào sau đây có tính dẻo cao nhất, có thể dát thành những màng cực mỏng (đến mức ánh sáng có thể xuyên qua được) và thường được ứng dụng để phủ (thếp) lên bề mặt các tác phẩm mĩ nghệ, tượng hoặc các công trình kiến trúc nhằm mục đích trang trí ?
Ag (Bạc).
Cu (Đồng).
Au (Vàng).
Al (Nhôm).
Đáp án đúng là C
Khi quan sát các vật dụng bằng sắt (thép) như đinh, búa, xẻng để lâu ngoài không khí ẩm, ta thường thấy chúng xuất hiện lớp gỉ màu nâu đỏ, xốp và làm vật dụng trở nên giòn, dễ gãy. Phát biểu nào sau đây trình bày đúng khái niệm về hiện tượng ăn mòn kim loại xảy ra trong ví dụ trên ?
Là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim do tác dụng hoá học, điện hoá của các chất trong môi trường xung quanh.
Là sự biến đổi trạng thái vật lí của kim loại từ rắn sang lỏng do hấp thụ hơi ẩm từ môi trường.
Là sự bào mòn bề mặt kim loại do các tác động va đập cơ học trong quá trình con người sử dụng.
Là quá trình kim loại tự bay hơi từ từ vào không khí do sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm.
Đáp án đúng là A
Hiện tượng quan sát được là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim do tác dụng hoá học, điện hoá của các chất trong môi trường xung quanh.
Khi sắt (Fe) hoặc thép (hợp kim của Fe và C) để ngoài không khí ẩm, nó tiếp xúc với oxygen và hơi nước. Tại đây, các quá trình hóa học và điện hóa xảy ra đồng thời, sắt bị oxi hóa hình thành gỉ là các oxide và hydroxide sắt ngậm nước, có công thức chung Fe2O3.nH2O.
Khác với Al2O3, lớp gỉ Fe2O3.nH2O xốp và nhiều lỗ rỗng, nó không bám chặt vào bề mặt kim loại. Lớp gỉ này tiếp tục giữ nước và oxy, tạo điều kiện cho quá trình ăn mòn tiến sâu vào lớp kim loại bên trong (ăn mòn từ ngoài vào trong) cho đến khi vật dụng bị phá hủy hoàn toàn.
Quá trình lưu hoá cao su tự nhiên tạo ra sản phẩm (cao su lưu hoá) có tính đàn hồi, chịu ma sát và chịu nhiệt tốt hơn. Nguyên nhân dẫn đến sự cải thiện tính chất này là do:
Sulfur đóng vai trò như một chất xúc tác, làm tăng lực tương tác van der Waals giữa các mạch polymer.
Sự hình thành các cầu nối disulfide (-S-S-) liên kết các mạch polymer lại với nhau tạo nên cấu trúc mạng lưới không gian.
Sự thay thế các nguyên tử hydrogen trong mạch polymer bằng các nguyên tử sulfur, tạo ra khối vật liệu cứng hơn.
Sự cộng hợp nguyên tử sulfur vào toàn bộ các liên kết đôi C=C làm bão hoà hoàn toàn mạch hydrocarbon của cao su.
Đáp án đúng là B
Phát biểu nào sau đây đúng?
Chất béo là triester của glycerol với acid béo.
Acid béo là hợp chất hữu cơ chứa nhiều nhóm –COOH.
Ester là hợp chất chỉ chứa nguyên tố C và H.
Lipid là những hợp chất hữu cơ tan tốt trong nước và không tan trong dung môi hữu cơ.
Đáp án đúng là A
A. Đúng
B. Sai, acid béo đều là các acid đơn chức, mạch thẳng, số nguyên tử C chẵn, số lượng khoảng từ 12 đến 24C.
C. Sai, ester chứa nhóm chức ester -COO- nên phân tử chứa C, H, O.
D. Sai, lipid không tan trong nước (kị nước) nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ không phân cực như benzene, ether, chloroform,…
Dựa vào nguồn gốc, các loại tơ được phân chia thành tơ tự nhiên, tơ tổng hợp và tơ bán tổng hợp (tơ nhân tạo). Trong các loại polymer dưới đây, chất nào thuộc loại tơ bán tổng hợp?
Tơ nitron.
Tơ capron.
Tơ tằm.
Tơ visco.
Đáp án đúng là D
Hợp chất của một kim loại nhóm IIA (nhóm kim loại kiềm thổ) được sử dụng rộng rãi làm vật liệu xây dựng (thành phần chính của đá vôi, vỏ sò, xi măng). Nguyên tố kim loại đó là:
Sodium (Na).
Aluminum (Al).
Iron (Fe).
Calcium (Ca).
Đáp án đúng là D
Saccharose được dùng phổ biến trong thực phẩm. Phát biểu nào sau đây đúng về saccharose?
là disaccharide, không tan trong nước, có vị nhạt.
là polysaccharide gồm nhiều đơn vị glucose liên kết α-1,4-glycoside.
là monosaccharide, tan tốt trong nước, có vị ngọt.
là disaccharide, tạo từ glucose và fructose, tan tốt trong nước.
Đáp án đúng là D
Tiến hành điện phân dung dịch CuCl2 với các điện cực trơ. Quan sát thấy tại cathode có lớp kim loại bám vào và anode có khí thoát ra. Nhận định nào sau đây mô tả đúng bản chất các quá trình hoá học xảy ra tại các điện cực?
Tại cathode xảy ra quá trình oxi hóa ion Cu2+ và tại anode xảy ra quá trình khử ion Cl-.
Tại cathode xảy ra quá trình khử phân tử H2O và tại anode xảy ra quá trình oxi hóa ion Cl-.
Tại cathode xảy ra quá trình khử ion Cu2+ và tại anode xảy ra quá trình oxi hóa phân tử H2O.
Tại cathode xảy ra quá trình khử ion Cu2+ và tại anode xảy ra quá trình oxi hoá ion Cl-.
Đáp án đúng là D
+ Cathode xảy ra quá trình khử ion Cu2+:
Cu2+ + 2e → Cu
+ Anode xảy ra quá trình oxi hoá ion Cl-:
2Cl- → Cl2 + 2e
Giá trị pH thích hợp mà tại đó hợp chất amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực và có tổng điện tích bằng không gọi là điểm đẳng điện (pI). Khi pH giảm dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng cation, khi pH tăng dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng anion. Dưới tác dụng của điện trường, các ion di chuyển về các điện cực trái dấu với ion. Một số thông tin về các amino acid cho trong bảng sau:
Amino acid | Glutamic acid | Alanine | Lysine |
Điểm đẳng điện (pI) | 3,1 | 6,0 | 9,8 |
Phát biểu nào sau đây đúng?
Ở pH = 3,1 Alanine chuyển thành cation di chuyển về cực dương.
Ở pH = 6,0 Lysine chuyển thành cation di chuyển về điện cực dương.
Ở pH = 9,8 Glutamic acid chuyển thành anion di chuyển về cực dương.
Ở pH = 6,0 Glutamic acid chuyển thành anion di chuyển về cực âm.
Đáp án đúng là C
A. Sai, pH = 3,1 < pI của Ala nên Ala chuyển thành cation di chuyển về cực âm.
B. Sai, pH = 6,0 < pI của Lys nên Lys chuyển thành cation di chuyển về cực âm.
C. Đúng, pH = 9,8 > pI của Glu nên Glu chuyển thành anion di chuyển về cực dương.
D. Sai, pH = 6,0 > pI của Glu nên Glu chuyển thành anion di chuyển về cực dương.
Phát biểu nào sau đây đúng về tính chất của amoniac (NH3)?
NH3 tan tốt trong nước và là base yếu.
NH3 không tan trong nước và không có tính base.
NH3 không tan trong nước và có tính khử mạnh.
NH3 tan tốt trong nước nhưng không có tính khử.
Đáp án đúng là A
PHẦN II. Câu trắc nghiệm đúng sai. Thí sinh trả lời từ câu 19 đến câu 22. Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, thi sinh chọn đúng hoặc sai.
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:

Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Giá trị của h là 96. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng đơn vị).
Trong sơ đồ trên, phản ứng giữa cumene và oxygen là phản ứng oxi hóa hoàn toàn.
Chất A có tên thông thường là propan-2-one.
Do ảnh hưởng của nhóm –OH nên phản ứng thế nguyên tử hydrogen trên vòng benzene của phenol xảy ra dễ hơn so với benzene.
a) Đúng:
mC6H5OH = 590000.94.95%.h/78 = 6500000
→ h = 0,9623 ≈ 96%
b) Sai, đây là phản ứng oxy hóa không hoàn toàn (phản ứng oxi hóa hoàn toàn sẽ tạo CO2 và H2O).
c) Sai, propan-2-one là tên thay thế của A. Tên thường của A là acetone.
d) Đúng, nhóm -OH hoạt hóa vòng benzene khiến phản ứng thế của phenol xảy ra rất dễ dàng so với benzene.
Một học sinh quan sát thấy NaOH để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và CO2 trong không khí. Học sinh đặt ra giả thuyết: “khối lượng của mẫu NaOH để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian”. Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
• Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ NaOH, lấy một lượng NaOH cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
• Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
• Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: t = 1; 5; 10; 20; 30 và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu NaOH trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:

Tốc độ tăng khối lượng trung bình = (m sau - m trước)/(t sau - t trước) (g/phút)
Chất rắn màu trắng xuất hiện là muối sinh ra từ phản ứng giữa NaOH và CO2.
Kết quả thí nghiệm phù hợp với giả thuyết ban đầu của học sinh.
Trong 5 phút đầu tiên từ lúc bấm giờ, tốc độ tăng khối lượng trung bình của mẫu NaOH ở thí nghiệm trên là 0,19 g/phút. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng phần trăm).
Ở bước 1, cần lấy NaOH nhanh chóng và đóng nắp lọ ngay lập tức sau khi lấy xong, nhằm hạn chế tối đa lượng NaOH còn lại trong lọ hấp thụ nước và CO2.
a) Đúng, NaOH khan là chất rắn không màu, nó hút ẩm rất mạnh, đồng thời tác dụng với CO2 trong không khí tạo chất rắn màu trắng.
b) Sai, giả thuyết đưa ra không đúng vì đồ thị không phải là một đường thẳng (không tăng tuyến tính). Đồ thị là một đường cong có độ dốc giảm dần chứng tỏ khối lượng tăng giảm dần.
c) Sai, tốc độ tăng khối lượng trung bình trong 5 phút đầu tiên = (11,592 – 10,350)/5 = 0,25 g/phút.
d) Đúng, cần lấy nhanh và đóng nắp nhanh, tránh NaOH trong lọ bị ẩm và biến chất do hấp thụ nước và CO2.
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với (nano silica SiO2). Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa - khử
Cặp oxi hóa - khử | Mg2+/Mg | Fe2+/Fe | Sn2+/Sn |
E°(V) | -2,37 | -0,44 | -0,14 |
Khi gắn khối Mg vào chân giàn khoan bằng thép, nó sẽ đóng vai trò là cathode và bị oxi hóa thay cho sắt (Fe).
Phương pháp bảo vệ bề mặt làm thay đổi thế điện cực chuẩn của kim loại, từ đó hạn chế quá trình oxi hóa xảy ra trên bề mặt kim loại.
Gắn thiếc (Sn) lên vỏ tàu thép được xem là phương pháp bảo vệ điện hóa giúp ngăn ngừa quá trình ăn mòn kim loại.
Việc lựa chọn sơn bio-polymer nano thay thế cho các dòng sơn chứa chì hay chromium là một phương án đề xuất phù hợp nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm thứ cấp từ kim loại nặng trong môi trường biển.
a) Sai, trong cặp pin điện hóa Mg-Fe, vì E°Mg2+/Mg < E°Fe2+/Fe nên Mg là kim loại có tính khử mạnh hơn. Do đó, Mg sẽ đóng vai trò là Anode (cực âm) và bị oxi hóa: Mg → Mg2+ + 2e.
Sắt lúc này đóng vai trò là Cathode (cực dương) và được bảo vệ.
b) Sai, thế điện cực chuẩn (E°) là một đại lượng đặc trưng bản chất của mỗi cặp oxi hóa – khử, nó chỉ phụ thuộc vào bản chất của kim loại, nhiệt độ và nồng độ (ở điều kiện chuẩn). Việc sơn phủ bề mặt chỉ là phương pháp cách ly vật lý, ngăn không cho kim loại tiếp xúc với tác nhân ăn mòn (nước, oxygen), chứ không làm thay đổi giá trị thế điện cực chuẩn của kim loại đó.
c) Sai, E°Sn2+/Sn > E°Fe2+/Fe nên Sn có tính khử yếu hơn Fe. Nếu gắn Sn vào thép và xảy ra ăn mòn điện hóa, sắt sẽ bị ăn mòn nhanh hơn (do đóng vai trò là anode). Vì vậy, gắn thiếc không phải là phương pháp bảo vệ điện hóa (vật hy sinh) cho thép; thực tế người ta thường dùng phương pháp này để mạ bề mặt (như tấm sắt tây), nhưng nếu lớp mạ bị xước, sắt bên trong sẽ bị hỏng rất nhanh.
d) Đúng, các kim loại nặng như Pb, Cr trong sơn truyền thống có độc tính cao và có khả năng tích tụ qua chuỗi thức ăn, gây hại cho hệ sinh thái biển. Việc chuyển sang bio-polymer (nguồn gốc sinh học, dễ phân hủy) kết hợp với nano silica (tăng độ bền cơ học và độ kín khít để chống thấm) giúp bảo vệ công trình mà không gây ô nhiễm thứ cấp.
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:

Acid béo thuộc nhóm omega‑3 và omega‑6 cũng được sinh ra từ phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường base.
Dầu cá chứa nhiều omega‑3, còn dầu thực vật như dầu đậu nành chứa chủ yếu omega‑6; do đó để phòng bệnh tim mạch, nên ưu tiên dùng dầu cá hoàn toàn thay thế dầu thực vật.
Trilinolein có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn so với tristearin.
Chất béo tạo từ gốc acid omega‑3 và omega‑6 dễ bị oxi hóa trong không khí, tạo các hợp chất có mùi khó chịu do có chứa liên kết đôi C=C.
a) Sai, thủy phân chất béo trong môi trường base sẽ tạo ra muối của acid béo. Muốn có acid béo có thể thủy phân chất béo trong môi trường acid (hiệu suất thấp, khó tách riêng), hoặc thủy phân trong môi trường base, lấy muối rồi acid hóa (hiệu suất cao, dễ tách riêng).
b) Sai, mặc dù Omega-3 trong dầu cá rất tốt cho tim mạch, nhưng cơ thể con người cần một sự cân bằng hợp lý giữa Omega-3 và Omega-6. Omega-6 cũng là một acid béo thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được.
Việc “thay thế hoàn toàn” dầu thực vật bằng dầu cá là không khoa học vì có thể gây mất cân bằng dinh dưỡng. Chế độ ăn uống lành mạnh nên là sự kết hợp đa dạng các nguồn chất béo không bão hòa từ cả thực vật và động vật.
c) Đúng, trilinolein (C17H31COO)3C3H5 là chất béo không no, ở thể lỏng, còn tristearin (C17H35COO)3C3H5 là chất béo no, ở thể rắn trong điều kiện thường.
d) Đúng, các liên kết đôi này rất nhạy cảm với oxy trong không khí. Quá trình tự oxi hóa sẽ tấn công vào các liên kết đôi này, tạo ra các gốc tự do và sau đó là các peroxide, aldehyde, ketone… Đây chính là các hợp chất gây ra mùi “ôi khét” khó chịu của chất béo khi để lâu.
PHẦN III. Câu trắc nghiệm trả lời ngắn. Thí sinh trả lời từ câu 23 đến câu 28.
Để tìm hiểu những điều kiện cần thiết để ăn mòn điện hóa, một học sinh đã thiết lập thí nghiệm như hình sau:

Có bao nhiêu ống nghiệm chứa đinh sắt sẽ bị gỉ sau vài ngày?
Đáp án: 2
Có 2 ống bị gì là A và D.
+ Ống A: Nước cất hòa tan O2, CO2 từ không khí, trong đó O2 là chất oxi hóa, CO2 tạo môi trường điện ly (tạo H2CO3 phân ly yếu).
+ Ống D: Tương tự như ống A nhưng đinh bị gỉ mạnh hơn do có sẵn chất điện ly mạnh là các muối trong nước biển.
Các ống B, C không bị gỉ:
+ Ống B: CaCl2 khan hút sạch hơi ẩm, môi trường điện ly không còn nên đinh không bị gỉ dù tiếp xúc với O2.
+ Ống C: Nước cất đun sôi đã loại bỏ hoàn toàn O2, CO2 (độ tan các chất khí giảm mạnh khi tăng nhiệt độ, O2, CO2 vốn có độ tan nhỏ nên gần như không còn dấu vết khi đun sôi), lớp dầu hòa nhẹ hơn, phân lớp ở trên tạo lớp ngăn cách không cho O2, CO2 tái hòa tan trở lại. Mất đi chất oxi hóa và chất điện ly, đinh cũng không bị gỉ.
Phương pháp trao đổi ion để làm mềm nước cứng được thực hiện bằng cách cho nước cứng đi qua lớp vật liệu hay màng vật liệu trao đổi ion. Các vật liệu này có chứa cation kim loại, như Na+. Khi cho nước cứng đi qua vật liệu, các cation Ca2+ và Mg2+ đẩy cation Na+ ra khỏi vật liệu. Các cation Ca2+ và Mg2+ bị giữ lại trên vật liệu. Thiết bị làm mềm nước cứng (sử dụng vật liệu trao đổi ion) cần thêm NaCl để thay thế các ion Ca2+ và Mg2+ đang bám trên vật liệu bằng ion Na+, giúp phục hồi vật liệu để tiếp tục làm mềm nước. 50 m³ một loại nước cứng đã được loại bỏ hoàn toàn độ cứng bằng cách cho nước chảy qua thiết bị làm mềm nước. Sau đó, thiết bị làm mềm nước này cần 200 lít dung dịch sodium chloride chứa 150 g/lít NaCl để tái tạo hoàn toàn. Số đơn vị độ cứng của mẫu nước cứng trên là bao nhiêu ? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng đơn vị). Biết một 1 đơn vị độ cứng tương ứng với tổng số mol của các ion Ca2+ và Mg2+ bằng 0,5 mmol trong 1,0 L nước. Giả sử vật liệu trao đổi ion hoạt động với hiệu suất 100%.
Đáp án: 10
nNaCl = 200.150/58,5 = 512,8205 mol
Bảo toàn điện tích: 2 mol Na+ đổi chỗ cho 1 mol M2+
→ nM2+ (50 m³ nước) = nNa+/2 = 256,41026 mol
→ nM2+ (1 L nước) = 5,12821 mmol
Số đơn vị độ cứng = 5,12821/0,5 = 10
Trong phòng thí nghiệm, để khảo sát phản ứng thủy phân tinh bột, một nhóm học sinh chuẩn bị ba ống nghiệm, mỗi ống chứa khoảng 2 mL dung dịch hồ tinh bột 1% (đánh số 1, 2, 3) và tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
• Bước 1: thêm khoảng 1 mL dung dịch HCl 1M vào ống nghiệm thứ nhất.
• Bước 2: thêm khoảng 1 mL dung dịch HCl 2M vào ống nghiệm thứ hai.
• Bước 3: Thêm khoảng 1 mL nước cất vào ống nghiệm thứ ba.
• Bước 4: Lắc đều, rồi đặt cả 3 ống nghiệm trong nồi nước nóng, đun cách thủy trong 10 phút. Sau đó để nguội.
• Bước 5: Chia mỗi ống nghiệm thành hai phần:
- Phần 1: cho tác dụng với dung dịch iodine.
- Phần 2: thêm từng giọt dung dịch NaOH 1M cho đến môi trường kiềm, sau đó cho 1 ml thuốc thử Tollens vào, đun cách thủy. Sau thí nghiệm thu được bảng kết quả:
Ống | I2 | Tollens |
(1) | xanh tím | có kết tủa bạc |
(2) | không đổi màu | có kết tủa bạc |
(3) | xanh tím | không có kết tủa bạc |
Cho các nhận định sau:
(1) Ở ống nghiệm (1), tinh bột chưa bị thủy phân hoàn toàn thành glucose.
(2) Ở ống nghiệm (2), toàn bộ tinh bột đã bị thủy phân hết.
(3) Ở ống nghiệm (3), không có glucose tạo thành.
(4) Sự có mặt của acid làm phản ứng thủy phân xảy ra nhanh hơn.
(5) Dựa vào phản ứng Tollens, có thể kết luận mẫu không còn tinh bột.
Trong các nhận định trên, có bao nhiêu nhận định đúng?
Đáp án: 4
Kết quả thí nghiệm:
+ Có màu xanh tím → Có tinh bột.
+ Có kết tủa Ag → Có glucose, maltose.
(1) Đúng, ống (1) chứa cả glucose và tinh bột dư nên phản ứng thủy phân chưa hoàn toàn.
(2)(3) Đúng
(4) Đúng, HCl là chất xúc tác, làm tăng tốc độ phản ứng thủy phân. HCl càng đặc, phản ứng thủy phân càng mạnh.
(5) Sai, phản ứng với Tollens dùng kiểm tra xem có glucose hay maltose tạo ra không, không kết luận được còn tinh bột hay không.
Cho cấu tạo của một đoạn mạch trong phân tử polymer X:

Monomer tổng hợp nên polymer X có phân tử khối bằng bao nhiêu amu?
Đáp án: 104
X là polystyrene, X được tổng hợp từ styrene (C6H5CH=CH2) bằng phản ứng trùng hợp.
C6H5CH=CH2 (C8H8) có M = 104
Amine X có công thức phân tử là C4H11N. Cho X phản ứng với hỗn hợp dung dịch HCl và NaNO2 ở nhiệt độ thường thấy có khí không màu thoát ra. Có bao nhiêu công thức cấu tạo phù hợp với X?
Đáp án: 4
Các đồng phân amine bậc I sẽ phản ứng với hỗn hợp dung dịch HCl và NaNO2 ở nhiệt độ thường thấy có khí không màu thoát ra.
C4H11N có 4 đồng phân amine bậc I, gồm:
CH3-CH2-CH2-CH2-NH2
CH3-CH2-CH(NH2)-CH3
(CH3)2CH-CH2-NH2
(CH3)3C-NH2
Trinitroglycerin, C3H5N3O9 (thường gọi đơn giản là nitroglycerin) là chất nổ mạnh được Alfred Nobel chế tạo thành thuốc nổ dynamite vào năm 1866. Điều khá bất ngờ là nó cũng được sử dụng như một loại thuốc, để giảm đau thắt ngực (đau ngực do động mạch đến tim bị tắc một phần) bằng cách làm giãn mạch máu. Ở điều kiện chuẩn, biến thiên enthalpy của phản ứng phân hủy 1 mol trinitroglycerin tạo thành khí nitrogen, khí carbon dioxide, nước lỏng và khí oxygen là -1541,4 kJ. Để giảm đau thắt ngực, liều chuẩn của trinitroglycerin là 0,60 mg. Nếu liều chuẩn của trinitroglycerin bị phân hủy hoàn toàn trong cơ thể theo phản ứng phân hủy trên thì năng lượng được giải phóng là bao nhiêu J ? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng phần mười).
Đáp án: 4,1
Phân hủy hoàn toàn 1 mmol C3H5N3O9 tỏa ra 1541,4 J nhiệt.
→ Phân hủy 0,6/227 mmol C3H5N3O9 tỏa ra 4,1 J nhiệt.








