Đề thi giữa kì 2 lớp 5 môn Tiếng Việt có đáp án ( Đề 9)
11 câu hỏi
Em hãy đọc bài “Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân” trong SGK lớp 5 tập 2 – trang 83 và trả lời các câu hỏi sau:
Hội thổi cơm ở làng Đồng Vân được bắt nguồn từ đâu? (M1-0,5đ)
Được bắt nguồn từ nạn đói của người Việt cổ bên bờ sông đáy xưa.
Được bắt nguồn từ các cuộc trẩy quân đánh giặc của người Việt cổ bên bờ sông Đáy xưa.
Được bắt nguồn từ câu chuyện thần thoại về nữ thần thổi cơm bên bờ sông Đáy xưa.
Được bắt nguồn từ câu chuyện cô con gái một mình xin gạo thổi cơm cứu người cha bị bệnh bên bờ sông Đáy xưa.
Chọn đáp án B.
Kể lại việc lấy lửa trước khi nấu cơm? (M2-0,5đ)
Mỗi đội cử ra một người chạy thi, ai chạy nhanh tới đích trước thì sẽ lấy được ngọn lửa to hơn.
Mỗi đội được phát hại hòn đá, phải ngồi đánh đến khi nào ra lửa thì thôi.
Bốn thanh niên của bốn đội leo lên cây chuối đã bôi mỡ để lấy nén hương đã cắm trên đó, ai lấy được trước thì sẽ được phát 3 que diêm để châm vào hương cho cháy thành ngọn lửa.
Bốn thanh niên của bốn đội leo lên cây chuối đã bôi mỡ để lấy hai cục đá đã đặt trên đó, ai lấy được trước thì sẽ được phát thêm một bó rơm, dùng hai cục đá đánh ra lửa cho bó rơm cháy.
Chọn đáp án C.
Công đoạn nấu cơm được miêu tả như thế nào? (M3-0,5đ)
Người phía sau cầm một cái cần uốn cong hình cái cung vắt ra trước mặt người nấu cơm. Nhiệm vụ của họ là phải giữ cho cái cần này vững chắc để người phía trước vừa cầm đuốc điều khiển ngọn lửa vừa nấu cơm. Hai người cầm cần và đuốc phối hợp nhịp nhàng đến khi cơm chín thì hoàn thành.
Mỗi người nấu cơm đều mang theo một cái cần cắm rất khéo vào dây lưng, uốn cong hình cánh cung từ phía sau ra trước mặt, đầu cần treo một cái nồi nho nhỏ. Người thổi cơm tay giữ cần, tay cầm đuốc đung đưa cho ánh lửa bập bùng.
Cơm được nấu chín từ bếp đã được đắp từ trước. Tuy nhiên để giữ nhiệt độ cho cơm tới khi giám khảo chấm, họ phải dùng một chiếc cần treo nồi cơm lên rồi cầm một ngọn đuốc đung đưa phía dưới cứ như vậy đi tới chỗ chấm thi của giám khảo.
Cơm được nấu trong một chiếc neo nhỏ trên vào một chiếc cần có hình cánh cung được người phía sau cầm, người phía trước cầm đuốc đung đưa cho tới khi cơn chín thì lại xới ra và cho mẻ khác vào. Tới khi hoàn thành họ ủ nồi cơm vào bếp đã đắp từ trước để giám khảo đến chấm.
Chọn đáp án B.
Ý nghĩa của bài văn là gì? (M4-0,5đ)
Cho thấy hội thi nấu cơm ở Đồng Vân diễn ra vô cùng khốc liệt, cạnh tranh.
Qua việc miêu tả lễ hội thổi cơm thi ở Đồng Vân, tác giả thể hiện tình cảm yêu mến và niềm tự hào đối với một nét đẹp cổ truyền trong sinh hoạt văn hóa của dân tộc.
Mong muốn mở một lớp dạy nấu cơm cổ truyền cho mọi người theo học để giữ gìn nét đẹp văn hóa của dân tộc.
Cả A và C đều đúng.
Chọn đáp án B.
Câu “Hình ảnh người dũng sĩ mặc áo giáp sắt, đội mũ sắt, cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân giặc.” là câu sai, vì sao? (M2-0,5đ)
Thiếu chủ ngữ.
Thiếu vị ngữ.
Thiếu trạng ngữ.
Thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ.
Chọn đáp án B.
Tìm thành ngữ trái nghĩa với từng thành ngữ sau: (M2-0,5đ).
a) Khỏe như voi:
b) Nhanh như sóc:
Hãy gạch chân dưới bộ phận vị ngữ trong câu sau: (M1-0,5đ)
Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội.
Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội.
Lời giải nghĩa nào dưới đây đúng nhất đối với từ “môi trường” ? (M3-0,5đ)
Toàn bộ cảnh tự nhiên và xã hội tạo thành những điều kiện sống bên ngoài con người.
Toàn bộ cảnh tự nhiên tạo thành những điều kiện sống bên ngoài con người.
Toàn bộ cảnh tự nhiên và xã hội tạo thành điều kiện sống bên ngoài con người hoặc sinh vật.
Chọn đáp án C.
Hãy gạch chân cặp quan hệ từ và xác định ý nghĩa của cặp quan hệ từ có trong câu dưới đây: (M2-0,5đ)
Nếu trời trở rét thì con phải mặc áo ấm.
Cặp quan hệ từ: “Nếu ... thì ....” biểu thị quan hệ điều kiện, giả định – kết quả.
Xác định từ loại của từ được gạch chân dưới đây: (M1-0,5đ)
Những ước mơ của anh ấy thật lớn lao.
Danh từ.
Động từ.
Tính từ.
Chọn đáp án A.
Em hãy tả cái bảng ở lớp em.
Một trong những kỉ niệm về ngôi trường yêu dấu không thể không kể đến chiếc bảng đen.
Chiếc bảng đen được đặt ngay ngắn và cân đối trên bục giảng. Với chiều dài khoảng 2m, chiều rộng khoảng 1,5m, chiếc bảng đen luôn chứa đựng những kiến thức mà thầy cô muốn truyền lại cho học trò chúng tôi. Nền bảng đen giúp làm nổi bật nét phấn trắng nghiêng nghiêng trên mặt bảng.
Chiếc bảng là công cụ cần thiết để các thầy cô giảng bài cho chúng tôi. Đôi khi, đó cũng là công cụ để kiểm tra cách làm bài, độ hiểu bài của chúng tôi. Nền bảng được thiết kế với những ô vuông nhỏ để các nét chữ được viết lên được ngay ngắn, thẳng hàng, đúng cỡ chữ. Nét chữ thầy cô có rõ ràng, ngay ngắn và đẹp thì học trò chúng tôi mới có hứng thú để học tập.
Hơn nữa, chữ viết dễ nhìn thì học trò mới có thể ghi chép một cách đầy đủ và chính xác nhất. Nhờ có chiếc bảng mà mọi kiến thức được thầy cô truyền đạt mới được chúng tôi ghi chép lại làm cơ sở để học tập và ôn luyện sau này. Bởi thầy cô giảng bài nhưng nếu không ghi chép thì sẽ không nhớ được kiến thức lâu. Với lượng kiến thức mà một ngày phải học thực sự rất nhiều, nếu không ghi chép rõ ràng đầy đủ thì không thể chuyển hết toàn bộ lượng kiến thức đã được học ở lớp thành của mình được. Theo một nghiên cứu, học sinh chỉ có thể hiểu được 5% lượng kiến thức được truyền tải trong giờ học còn lại là tự học. Bởi thế nếu không ghi chép lại thì không thể tự học thành công được. Chiếc bảng đen thực sự quan trọng đối với học sinh và thầy cô. Nếu một lớp học thiếu bảng thì không được gọi là lớp học được. Thầy cô luôn phải sáng tạo ra những phương pháp dạy học mới để học sinh có thể tiếp thu bài học một cách nhanh nhất. Và chiếc bảng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các thầy cô.
Bảng đen là một phần không thể thiếu của mỗi lớp học. Dù trang thiết bị còn đơn sơ nhưng dù thế nào cũng phải có một chiếc bảng để dạy học. Vai trò của nó chưa bao giờ là thứ yếu trong sự nghiệp trồng người.
Bạn có thích hoạt động này không?








