Đề tham khảo ĐGNL V-SAT môn Vật lý 2026 - Đề số 4
0 câu hỏi
Đọc nội dung sau và trả lời các câu hỏi từ 10 đến 12:
Khí \(Oxygen\) rất cần thiết để duy trì cuộc sống, nó gây xúc tác với các chất dinh dưỡng, tạo ra nhiệt lượng cần thiết cho sự hoạt động sống. Ở người bình thường (khỏe mạnh), \(Oxygen\) dễ dàng đi qua từ phổi vào hồng cầu (máu) và được bơm bởi tim mạch cho tất cả các bộ phận khác trong cơ thể.

Bình \(Oxygen\) dùng cho cá nhân thở tại nhà là loại bình chứa khí \(Oxygen\) được sản xuất tại xưởng với hệ thống tách lọc không khí theo phương pháp chưng cất phân đoạn, độ tinh khiết \(99,8{\rm{\% }}\) \(Oxygen\), được nén trong các loại bình \(5\;L\), \(8\;L\), \(40\;L\) ở áp suất quy định.
Thông số kĩ thuật | Bình \(Oxygen - 40L\) | Bình \(Oxygen - 8\;L\) | Bình \(Oxygen - 5\;L\) |
Trọng lượng \(\left( {kg} \right)\) | \(48 - 60\) | \(11,2\) | \(6,8\) |
Dung tích bình \(\left( {{m^3}} \right)\) | \(6\) | \(1,2\) | \(0,75\) |
Chiều cao bình \(\left( {{m^3}} \right)\) | \(1,33\) | \(0,55\) | \(0,45\) |
Đường kính bình \(\left( {mm} \right)\) | \(219\) | \(145\) | \(120\) |
Đọc nội dung sau và trả lời các câu hỏi từ 13 đến 15:
Trong những năm gần đây, công nghệ đệm từ trường “maglev” đã được nghiên cứu để cung cấp thêm một phương án vận chuyển nhanh. Sử dụng lực đẩy của từ trường, tàu đệm từ có thể di chuyển với tốc độ lên đến \(300\;mph\) (\(300\) dặm một giờ). Loại công nghệ “tàu đệm từ” đang được nghiên cứu hiện nay là EDS (Electrodynamic suspension).

Trong EDS, các thanh nam châm được đặt ở dưới đáy của tàu đệm từ và trong đường ray bên dưới tàu. Dòng điện có thể tạo ra từ trường cảm ứng trong các thanh nam châm siêu dẫn của đường ray, kết quả là xuất hiện lực đẩy liên tục giữa các thanh nam châm khiến tàu được nâng lên, duy trì một khoảng cách phía trên đường ray được gọi là “khe không khí” và di chuyển về phía trước. Về mặt lý thuyết, tàu đệm từ trong EDS phải di chuyển cao hơn ít nhất \(4\;inch\) so với đường ray, do đó hầu như không có năng lượng bị mất do ma sát. Nếu hệ thống mất năng lượng, nó sẽ ở dạng năng lượng nhiệt.
Các nhà khoa học đã thực hiện \(3\) nghiên cứu với tàu đệm từ trên đường ray được định hướng từ Đông sang Tây dưới các điều kiện được kiểm soát. Dòng điện có cường độ \(I\;\left( A \right)\) trong đường ray cần thiết để tạo ra vận tốc của tàu trong mỗi thử nghiệm được đo và ghi lại trong các bảng \(1\), \(2\) và \(3\).
Nghiên cứu 1: Năm thử nghiệm được thực hiện với một đoàn tàu đệm từ có các thanh nam châm có chiều dài cố định được di chuyển dọc theo đường ray thử nghiệm từ Đông sang Tây với các vận tốc \(v\) khác nhau. Các thông số được ghi lại ở Bảng 1.
Bảng 1 | ||
Thử nghiệm | \(v\left( {\frac{m}{s}} \right)\) | \(I\left( A \right)\) |
\(1\) | \(40\) | \(50\) |
\(2\) | \(80\) | \(100\) |
\(3\) | \(120\) | \(150\) |
\(4\) | \(160\) | \(200\) |
\(5\) | \(200\) | \(250\) |
Nghiên cứu 2: Năm thử nghiệm với các tàu đệm từ có thanh nam châm có chiều dài \(\left( L \right)\) khác nhau nhưng đều chạy với tốc độ không đổi là \(40\frac{m}{s}\). Cường độ dòng điện I tương ứng các độ dài khác nhau của các thanh đã được ghi lại như trong Bảng 2.
Bảng 2 | ||
Thử nghiệm | \(L\left( m \right)\) | \(I\left( A \right)\) |
\(6\) | \(0,6\) | \(50\) |
\(7\) | \(0,8\) | \(67\) |
\(8\) | \(1,0\) | \(84\) |
\(9\) | \(1,2\) | \(100\) |
\(10\) | \(1,4\) | \(116\) |
Nghiên cứu 3: Từ trường \(B\), được đo bằng tesla \(\left( T \right)\), thay đổi trong đường ray đệm từ. Dòng điện chạy qua đường ray đệm từ sau đó được đo trong năm lần thử nghiệm mới. Trong suốt các cuộc thử nghiệm này, độ dài của các thanh nam châm và vận tốc của tàu đệm từ không thay đổi.
Bảng 3 | ||
Thử nghiệm | \(B\left( T \right)\) | \(I\left( A \right)\) |
\(11\) | \(5,{90.10^{ - 4}}\) | \(300\) |
\(12\) | \(7,{87.10^{ - 4}}\) | \(400\) |
\(13\) | \(9,{84.10^{ - 4}}\) | \(500\) |
\(14\) | \(1,{05.10^{ - 3}}\). | \(600\) |
\(15\) | \(1,{20.10^{ - 3}}\) | \(700\) |
