
45 câu hỏi
|
STT |
Nội dung |
Đúng |
Sai |
|
1 |
Đoàn Thị Điểm sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học. |
x |
|
|
2 |
Đoàn Thị Điểm đã diễn âm tác phẩm Truyền kì tân phả ra chữ Nôm. |
|
x |
|
3 |
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được viết vào thế kỉ XVI nhưng đã có những tác động cụ thể, dẫn đến sự ra đời của Truyền kì tân phả ở thế kỉ XVIII. |
x |
|
|
4 |
Đền thiêng cửa bể là câu chuyện được hư cấu, dựa trên những truyền thuyết dân gian về nhân vật Bích Châu. |
|
x |
|
5 |
Vì yêu quý và nhớ ơn nàng Bích Châu nên vua Trần Dụ Tông đã cấp sắc phong thần cho nàng. |
|
x |
- âm luật: âm điệu, quy tắc phối thanh (cao, thấp) trong âm nhạc hoặc trong một số thể văn vần. Ở đây chỉ tài năng âm nhạc, thi ca của Bích Châu.
- chính sự: việc chính trị, thuộc về trách nhiệm xử lí của nhà nước.
- quyền thần: (kẻ) bề tôi chuyên quyền, ỷ vào chức vụ được giao để thao túng quyền lực, thu vén quyền lợi riêng, làm rối loạn kỉ cương phép nước.
- can gián: khuyên can (vua chúa) bằng những lời nói ngay thẳng.
- dũng lực: sức mạnh; sự can trường, anh dũng.
Đoạn 1 của văn bản chủ yếu giới thiệu về thân thế, lai lịch của nhân vật Bích Châu. Khi khái quát nội dung, cần chú ý những chi tiết quan trọng để “nhận diện” được nét chính yếu về nhân vật như ngoại hình, tính cách, phẩm chất,... Ở đoạn văn này, tác giả chưa sử dụng yếu tố kì ảo. Nhân vật, hình ảnh, sự kiện, tình tiết,... đều được kể, tả theo “mô hình hiện thực” (chỉ nói về những sự vật, sự việc có thể tồn tại hoặc xảy ra trong thực tế).
Chú ý khái quát một số đức tính và tài năng được tác giả miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp: “tính tình đứng đắn”, thanh nhã, đoan trang (“dời gót sen”, “môi đào chúm chím chậm rãi ứng khẩu”,...); tài năng âm nhạc, thơ ca; “thông tuệ” về đường lối trị nước, mạnh mẽ, cương trực trong việc khuyên vua nên sửa sang chính sự (thể hiện rõ qua việc dâng biểu Kê minh thập sách với những bàn luận hết sức rành mạch, khiến nhà vua phải thán phục).
– Một số phương diện được đề cập: đường lối an dân trừ bạo; kỉ cương phép nước nguyên tắc dùng người; giáo dục, khai hoá; sức mạnh, mưu lược trong việc binh, Với mỗi phương diện là những biện pháp (hay nguyên tắc, mục đích,..) cụ thể được nêu ra như là những diễn giải.
– Nội dung bài biểu cho thấy rõ tư tưởng, đường lối chính trị Nho học với lí tưởng “vua sáng, tôi hiền” (được thực thi một cách mạnh mẽ với những cải cách sâu rộng ở đời Lê). Mười “điều mục” mà bài biểu nêu ra khá toàn diện, logic, chi tiết mà triều đình cần thực thi để quốc gia có được sự bình trị. aque on anion
- Một vài lưu ý về nghệ thuật kể chuyện của tác giả trong đoạn văn: Các sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian; Nhấn mạnh các sự kiện, chi tiết có thể làm nổi bật chân dung của nhân vật (cuộc thưởng ngoạn cảnh vật và đối thơ, sự suy kém của chính sự đương thời và nỗi trăn trở của một nữ tử); Ngôn từ trang nhã, có tính ngợi ca...
- Các thông tin, chi tiết, nhân vật có tính xác thực (hoặc được miêu tả, diễn giải tường tận theo kiểu ghi chép chân thực sự thật đời sống) cho phép xác định, trong đoạn văn này, tác giả tập trung xây dựng nhân vật nàng Bích Châu từ góc nhìn hiện thực – lịch sử. Đây cũng là một đặc điểm thường thấy trong đa số các truyện truyền kì.
- hộ giá (hay hỗ giá): đi theo để bảo vệ, phục vụ,... lúc vua chúa ra khỏi cung điện.
- uý lạo (hay uỷ lạo): dùng lời ôn hoà để vỗ về, an ủi.
- nghiệp chướng: tai hoạ phải gánh chịu ở đời nay do đời trước phạm những nghiệp ác (theo quan điểm của Phật giáo).
- chủ trương: a. giữ vững một lí thuyết nào đó (như: đề ra chủ trương, đường lối,..); b. biểu thị chú ý của mình, quyết định được một cách tự chủ. Ở đây theo nghĩa b. (ông vua) vạn thặng: nước có vạn cỗ xe, tức nước lớn (theo quy định của lễ chế đời xưa, nước chư hầu nhỏ chỉ được quyền có ngàn cỗ chiến xa).
- Đoạn văn kể về cuộc Nam chinh của vua Trần, Bích Châu xin đi theo quân suốt hành trình, vua tôi gặp nhiều điều kì quái, điềm gở; Bích Châu quyên sinh vì nước; cuộc chinh phạt Chiêm Thành thất bại. Đây cũng là đoạn tập trung thể hiện những nét tính cách, phẩm chất đặc biệt của nhân vật chính. Các sự kiện thực và ảo được kể đan xen. Khi tóm lược diễn biến các sự kiện, cần chú ý bám sát suy nghĩ, hành động của Bích Châu.
- Đoạn văn này có nhiều chi tiết/ sự việc kì ảo. Ví dụ: Lễ bái thần miếu thì được thuận buồm xuôi gió, nếu không thì gặp tai hoạ; Đám mây đen (yêu khí) lấn vào, bắc cực; Đô đốc vùng biển Nam đòi vua ban cho mĩ nữ;... Các chi tiết/ sự việc kể trên đều tham gia trực tiếp vào mạch tự sự của tác phẩm, tạo nên sự huyền hoặc, li kì cho câu chuyện. Tự lựa chọn một chi tiết/ sự việc mà mình cho là hấp dẫn hơn cả để lí giải ngắn gọn (theo cảm nhận cá nhân) vì sao chi tiết/ sự việc ấy tạo được sự hấp dẫn (cho câu chuyện hoặc với chính mình).
A. 1 - B. 4; A. 2 - B. 5; A. 3 - B. 2; A. 4 - B. 1; A. 5 - B. 3
- Suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật: Xoay quanh hai điều quan trọng là nghĩa vua tôi và ơn chồng vợ. Nghĩa vua tôi gắn với phẩm chất quan trọng nhất là lòng trung trinh ngay thẳng (“lấy lời ngay để ngăn lòng hiếu chiến”,...); ơn chồng vợ gắn liền với đức hi sinh, sự tận tâm lo lắng (hết lòng can ngăn, “ăn ngủ không yên”, trằn trọc suy tư,...).
- Lời nói và hành động của nhân vật: Phản ánh đúng suy nghĩ, tâm trạng của Bích Châu. Lời nói (đặc biệt là lời đối thoại với vua) khiêm nhường, nhã nhặn nhưng rất rành mạch, logic (“Thiếp tuy là phận gái, vả cũng”), thể hiện rõ cách lựa chọn giữa tình riêng và nghĩa chung (“khi hành quân, tướng sĩ là trọng, ân ái là nhẹ,...); trước lúc gieo mình xuống biển vẫn khẩn khoản xin vua “dựng chước lâu dài cho nước nhà”;... Hành động xả thân vì nước (nhảy xuống biển tự nộp mình cho Giao thần) đặc biệt dứt khoát, không tham luyến riêng tây.
Đức tính, phẩm chất của nhân vật Bích Châu được tác giả miêu tả, khắc hoạ theo diễn biến của câu chuyện và gắn với từng tình tiết. Đoạn văn này kể lại biến cố của cuộc đời Bích Châu, do vậy, trong mạch tự sự của tác phẩm, đây là đoạn thể hiện rõ nét nhất những đức tính, phẩm chất của nhân vật. HS có thể tự khái quát về những đức tính, phẩm chất này.
Giữa yếu tố thực và yếu tố kì ảo được thể hiện trong đoạn văn, có thể thấy yếu tố kì ảo nổi trội hơn qua các chi tiết kì ảo như nàng Bích Châu có khả năng tiên tri, dự báo được những sự kiện sắp xảy ra và giao tiếp với thế giới tâm linh; Gió bão nổi lên đột ngột, người nhanh to râu xuất hiện, giấc mộng kỳ lạ,... đều là những hiện tượng vượt ngoài quy luật tự nhiên; Sự xuất hiện của các yếu tố tâm linh như thần miếu, quỷ thần, ngôi sao ứng với vận mệnh,... tạo nên một không gian huyền bí.
Đoạn trích đã thành công trong việc kết hợp hài hòa giữa yếu tố thực và yếu tố kì, tạo nên một tác phẩm văn học vừa mang tính hiện thực, vừa giàu chất thơ, huyền ảo. Sự đan xen này không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của câu chuyện mà còn mang đến những ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống và con người.
Đoạn văn kể việc vua Lê Thánh Tông thân chinh thống suất thuỷ binh để dẹp loạn hôn chúa Chiêm Thành. Khi tới vùng biển Kỳ Hoa, dừng chân nơi miếu cũ mà ngày trước quan quân nhà Trần gặp hoạ, oan hồn Bích Châu hiển linh xin vua Lê “ra tay tế độ, vớt kẻ trầm luân” và trao cho vua Lê viên ngọc minh châu. Nhà vua dùng ngọc minh châu soi ra ngoài biển, nhìn thấy thuỷ quốc của Quảng Lợi vương.
Cuộc gặp gỡ giữa vua Lê và oan hồn nàng Bích Châu được tác giả miêu tả cụ thể chi tiết, thông qua cuộc đối thoại trong giấc mơ của nhà vua. Linh hồn Bích Châu giãi bày nỗi oan ức khi rơi vào tay yêu quái, “ở lẫn với loài hội tanh”. Nhà vua xót thương, nhưng vì “âm dương cách biệt” nên “chưa rõ làm cách gì để cứu vớt" Bích Châu chỉ cho nhà vua cách giao thiệp với thuỷ quốc thông qua việc “viết một phong thư, bắn ra ngoài biển”.
- thống suất: thống lĩnh và chỉ huy toàn quân (thống: quản lí tất cả; suất: dẫn dắt).
- phiêu lưu: a. bị gió dập sóng dồi; b. nay đây mai đó, trôi nổi; không tự làm chủ được. Ở đây theo nghĩa b.
- tế độ: cứu giúp (con người, chúng sinh,...) thoát khỏi khổ nạn.
- trầm luân: chìm đắm trong bể khổ.
- (ơn) tái tạo: a. dựng lại cơ nghiệp; b. lời cảm tạ người đã cứu mình khỏi chết (như tái sinh). Ở đây theo nghĩa b.
|
STT |
Chi tiết kì ảo |
Tính kì ảo và ý nghĩa của chi tiết |
|
1 |
Nhà vua chỉ vào ngôi miếu cổ, răn đe kẻ “làm nhiều điều ngang ngược”. |
- Người thách thức thế lực ma quỷ (chi tiết diễn ra trong hiện thực). - Tư thế của người “chính nghĩa” trước thế lực gian tà. |
|
2 |
Nhà vua mộng thấy một người con gái đẹp “từ dưới nước hiện lên” kêu oan... |
- Người đối thoại với linh hồn kẻ chịu oan khuất (chi tiết diễn ra trong giấc mơ). - Sự xót xa đồng cảm về số phận oan khuất mà con người phải chịu đựng, dẫu là giữa hai thế giới cách biệt,... |
|
3 |
….. |
…… |
Chi tiết nhà vua “duỗi tay ra nhặt lấy ngọc châu” và “treo ngọc minh châu nhìn ra” ngoài biển; ngọc minh châu trong giấc mơ của vua và ngọc minh châu khi vua đã tỉnh giấc.
Chọn đáp án: D. Nhà vua cảm thông sâu sắc với nỗi oan khuất của Bích Châu nhưng cuối cùng vẫn không giúp nàng giải được mối oan khiên.
Ý nghĩa lời giãi bày của Bích Châu:
- “Ngậm sầu như biển”: Phải chịu đựng nỗi sầu tủi (vừa mênh mông vô cùng, vừa thăm thẳm sâu kín) như biển cả, không thể biết giãi bày với ai, giãi bày thế nào cho tường tận.
- “Coi ngày bằng năm”: Mỏi mòn trông đợi được giải oan, tới mức mỗi ngày trôi qua dằng dặc như là một năm.
Linh hồn Bích Châu tự giãi bày với nhà vua về việc phải “ngậm sầu như biển, coi ngày bằng năm” cho thấy nàng không thể chấp nhận “ở lẫn với loài hôi tanh”. Khi trước sẵn lòng hi sinh vì nước là một chuyện, nhưng hi sinh không có nghĩa là chấp nhận “bán linh hồn cho quỷ dữ”. Phẩm chất trong trắng, sáng ngời tự thân đã thôi thúc nàng đòi hỏi được giải toả nỗi oan khuất; chấp nhận cái chết vì nghĩa chứ không chấp nhận số phận mãi chịu ô danh.
- Đoạn văn kể về việc giao thiệp qua thư giữa vua Lê và Quảng Lợi vương; Quảng Lợi vương và triều thần nơi thuỷ quốc luận tội và thực thi pháp luật, trừng phạt Giao thần.
Đoạn văn này xuất hiện một số chi tiết/ sự việc kì ảo. Ví dụ: “Bộ máy” quan lại của thuỷ quốc; Học sĩ Lương Thế Vinh nhận thư do giang sứ Quy đốc bưu trình vua Lê ở bãi biển; Vua quan triều Lê “trông ra ngoài biển” chứng kiến bộ máy quan lại của Quảng Lợi vương trị tội Giao thần;... Tương tự các đoạn 2 và đoạn 3 ở trên, các chi tiết/ sự việc kì ảo này đều tham gia trực tiếp vào mạch tự sự của tác phẩm, tạo nên sự li kì, hấp dẫn cho câu chuyện.
- Tự lựa chọn một chi tiết/ sự việc mà mình cho là hấp dẫn hơn cả; đồng thời lí giải ngắn gọn (theo cảm nhận cá nhân) vì sao chi tiết/ sự việc ấy tạo được sự hấp dẫn (cho câu chuyện hoặc với chính mình).
- chính truyền: nối tiếp một cách chính thống. Ở đây chỉ việc vua Lê Thánh Tông tiếp nối ngôi vị một cách quang minh chính đại.
- tiến phát: khởi phát và tiến lên phía trước. Ở đây nói việc vua Lê tiếp tục tiến quân chinh phạt Chiêm Thành.
- tiểu nhân: a. kẻ có địa vị thấp kém; b. người có tư cách nhỏ mọn, hèn hạ. Ở đây chủ yếu theo nghĩa b.
- quân tử: a. kẻ có địa vị cao; b. người có tài năng và phẩm chất cao quý (đối lập với tiểu nhân). Ở đây chủ yếu theo nghĩa b.
- quốc pháp: kỉ cương, pháp luật của nhà nước.
- phục bút: đáp lại bằng thư từ.
- lương tá: bề tôi hiền tài, người phò tá là bậc lương thần.
- tuyên chỉ: lời tuyên/ tuyên bố ý chỉ của vua chúa.
- ba đào: a. sóng to; b. chìm nổi, đắm chìm. Ở đây theo nghĩa bạ
- sắc dục: (đam mê quá mức vào) dục tình nam nữ.
- Tư tưởng “vương chính” (nền chính trị tốt đẹp của bậc minh quân) thể hiện qua bức thư mà vua Lê sai gửi cho Quảng Lợi vương được thể hiện ở một số nội dung cụ thể: thưởng phạt phân minh (“ban phúc người thiện, ra tai kẻ dâm”, “ban thưởng người tốt, phạt tội kẻ xấu”), kịp thời (“nhanh như tiếng dùi với trống”), nhất quán (“trên dưới như nhau”); tính “chính danh” của thể chế vương quyền (“trẫm nối ngôi chính truyền của tổ tiên”); thực thi lí tưởng điếu dân phạt tội” (đem quân đi hỏi tội kẻ làm ác mà tội ác ấy “trời đất thần người đều không tha thứ”, yêu cầu giám sát việc thực thi chức trách của quan lại một cách chặt chẽ phải “sáng suốt soi gian”, “quyết đoán”, “nghiêm dùng quốc pháp”),…
Bức thư vua Lê sai gửi cho Quảng Lợi vương tuy không dài, nhưng nội dung trong phú, thể thức trang trọng, đúng quy tắc ngoại giao; lời lẽ, ngôn từ, lập luận rõ ràng, thuyết phục.
- Nội dung bức thư mà Quảng Lợi vương sai gửi cho vua Lê và việc Giao thần bị phạt tội đã thể hiện quan điểm về hiện thực – lịch sử của tác giả một cách gián tiếp nhưng khá cụ thể.
Tác giả đã xuất phát từ nhận thức và nhãn quan hiện thực về nền chính trị đương thời (nhà Lê, đời Lê Thánh Tông trị vì), ở thời điểm mà Nho học với đường ở chính trị nhân nghĩa và tinh thần tự chủ được đề cao, để miêu tả về thể chế và việc thực thi chính trị ở thuỷ quốc của Quảng Lợi vương. Thuỷ quốc của Quảng Lợi vương cũng thực thi “vương đạo”, “hết lòng cầu tìm người hiền tài, mong có sự phò giúp của lượng tá”, với mục đích thực hiện việc trị nước được “công bằng rất mực”, “thước gươm sáng chẳng dung gian tà”.
Vương quốc nơi cõi âm tuy khác biệt với dương gian, nhưng được tác giả soi chiếu với các nguyên tắc của chính nghĩa, xuất phát từ luân thường đạo lí, phép xử thế căn bản của con người xã hội. Một khía cạnh đáng chú ý: Tuy Quảng Lợi vương trị nước theo vương đạo”, nhưng vì “ánh mặt trời soi chung” chưa thấu suốt, vẫn còn hiện tượng “hang tối chưa kịp thấm nhuần”, “còn có cường thần làm bậy”. Đây cũng là một hiện thực lịch sử mà bằng thực tế trải nghiệm, tác giả đã trực tiếp phản ánh trong tác phẩm.
Ưu điểm của tác phẩm Hải khẩu linh từ được tác giả đoạn trích khẳng định ở những khía cạnh sau: Tư tưởng phóng khoáng, mới mẻ của tác giả về hiện thực; thể hiện rõ ở ý thức ủng hộ lối sống phóng khoảng vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến và đề cao vai trò người phụ nữ trong xã hội”; Sáng tạo nghệ thuật đặc sắc xuất phát từ những câu chuyện có thật hoặc truyền thuyết lịch sử cụ thể, từ “tấn bi kịch có thật của một nàng cung phi đời Trần Duệ Tông bằng “tài hư cấu nghệ thuật, tác giả đã xây dựng hình tượng nhân vật chính (răng Bích Châu) hết sức thành công, khiến “câu chuyện có sức truyền cảm sâu sắc”; Nội dung, ý nghĩa của tác phẩm thể hiện đậm nét tính dân tộc, thời đại và tinh thần nhân văn, có thể thấy rõ điều này qua hình tượng nhân vật chính: “Cái chết tự nguyện của nàng Bích Châu là kết quả của một sự suy nghĩ lâu dài về vận mệnh đất nước, dân tộc và hình tượng của nàng trong truyện còn có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa”.
Đoạn văn có nhiều sự kiện, chi tiết hiện thực và kì ảo đan xen, nối tiếp nhau: một số sự kiện chính: u hồn Bích Châu được giải oan; quân Đại Việt thắng trận trở về; Bích Châu hiển linh cảm tạ ơn tế độ; vua cho lập đền thờ và sắc phong thần cho Bích Châu.
Đoạn văn này xuất hiện một số chi tiết/ sự việc kì ảo. Ví dụ: Hương hài Bích Châu nổi lên mặt nước, “vẻ đẹp vẫn y nguyên”; Bích Châu lên tiên và được Thượng đế “giáng linh xuống trần”, cho “trông coi hoạ phúc một phương”; Bích Châu hiển linh cảm tạ vua Lê và xin nhà vua sửa câu thơ đề ở tưởng miếu;... Tương tự đoạn 2, đoạn 3 và đoạn 4 ở trên, các chi tiết/ sự việc kì ảo này đều tham gia trực tiếp vào mạch tự sự của tác phẩm, tạo nên sự li kì, hấp dẫn cho câu chuyện. Tự lựa chọn một chi tiết/ sự việc mà mình cho là hấp dẫn hơn cả; đồng thời lí giải ngắn gọn (theo cảm nhận cá nhân) vì sao chi tiết/ sự việc ấy tạo được sự hấp dẫn.
- bình sinh: a. đời sống, cuộc sống; b. (cả) cuộc đời, lúc còn sống. Ở đây theo nghĩa b.
- đào hoa: a. hoa đào; b. (số, số kiếp) hồng nhan; c. luyến ái nam nữ. Ở đây theo nghĩa b.
- thư sinh: a. người học trò; b. người làm công việc ghi chép giấy tờ; c. người nho nhã, chuyên về sách vở, không thông thạo việc đời. Ở đây chủ yếu theo nghĩa c chỉ người con gái vốn chỉ quen với văn chương thơ phú.
- quân lữ: quân đội nói chung; theo nghĩa cổ, quân và lữ là các đơn vị trong quân đội.
- quyên sinh: bỏ mình, liều chết.
- tiên tích: gốc tích (ở, thuộc về) cõi tiên.
- ngự đề: vua chúa (ban tặng) chữ, đề thơ.
- anh kiệt: người tài giỏi, anh hùng hào kiệt.
- nữ lưu: nữ giới (nói chung).
- cương thường: (đạo lí) “tam cương” và “ngũ thường”, những mối quan hệ và điều mục căn bản trong đời sống xã hội.
Lời “ngậm ngùi than thở” của nhà vua thể hiện suy ngẫm và cảm thán về vận mệnh thịnh suy của quốc gia. Theo quan niệm cũ, “điểm lành” hay “điểm dữ biểu hiện ra ở sự hay dở, xấu tốt của các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội. Bậc quân vương là chủ của quốc gia, vua có đức tốt thì thuận theo ý trời, được trời ban cho điều lành.
Câu nói này của vua Lê đồng thời thể hiện quan điểm, tư tưởng về chính sự quốc gia theo tinh thần “đức trị” (cai trị bằng “đức”) của Nho học. Bậc vua chúa có trọng trách làm sáng tỏ đức sáng, làm rạng rỡ đạo lí thánh hiền ra thiên hạ. Vì thế, vua chúa cần là người nêu gương tốt để thiên hạ noi theo; mọi phẩm đức, lời nói, việc làm của vua đều phải là mẫu mực cho dân chúng.
Câu thơ gốc mà vua Lê vốn đã “đề lên tường bên trái miếu ấy” có ý ca ngợi sự hi sinh cho nước nhà, sự lo lắng cho an nguy xã tắc của Bích Châu còn lớn hơn quân đội hùng mạnh của triều đình:“Than ôi! Trăm vạn quân hùng mạnh,/ Lại kém thư sinh một hịch văn!” Câu thơ mà vua Lê sửa lại (theo ý nguyện của linh hồn Bích Châu) không hàm ý so sánh hơn kém, tuy vẫn có ý ca tụng Bích Châu: nàng không chỉ là người giữ đạo lí cương thường, mà mãi mãi còn là người vợ hiền thục xứng đáng sánh đôi cùng sự nghiệp của bậc quân vương: “Muôn thuở cương thường không hổ thẹn,/ Thư cưu vờn sóng dưới chân đền”.
Nhân vật Bích Châu hiển linh báo cho vua Lê về việc nàng “không được yên lòng về chỗ vua tôi, chồng vợ” (thể hiện qua sự băn khoăn về ý thơ của vua Lê Thánh Tông ca tụng mình) cho thấy Bích Châu là con người luôn khiêm nhường, luôn giữ gìn đạo nghĩa phu phụ theo khuôn mẫu đạo đức, lễ giáo Nho gia. Phẩm chất này của nàng là đáng quý trọng.
Theo nội dung đoạn trích trong Từ điển văn học, yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì chủ yếu thể hiện ở kiểu nhân vật có phép lạ (như trời, Bụt, thần tiên), còn yếu tố thần kì trong truyện truyền kì “chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lí, tính cách một loại người nào đấy”, dẫu nhân vật ấy có hình thức không phải là con người. Sự khác biệt căn bản trên thể hiện đậm nét giá trị nhân bản của truyện truyền kì.
Nhân một ngày đẹp trời và có một cây súng mới do con trai mua cho, ông Diểu quyết định vào rừng đi săn. Sau đó ông Diểu đã bắn được một con khỉ đực và một loạt các sự việc sau đó khiến ông đi hết từ cảm xúc này, đến cảm xúc khác. Khi con khỉ cái đến cứu khỉ đực, ông Diệu đã tức giận và nghĩ rằng hành động của khỉ cái là giả dối. Sau đó, những con khỉ con cũng lao đến và cướp súng của ông, nhưng không may là chúng lại lao xuống vực. Chứng kiến cái chết của khỉ con, ông Diểu dâng lên một nỗi sợ hãi và kinh hoàng. Ông nghe thấy một tiếng kêu và khi đến gần thì nhận ra đây là con khỉ đực đang bị thương. Người đàn ông vui mừng vì lại bắt được khỉ đực để mang về và đã vứt hết quần áo để có thể dễ dàng leo, để có thể dễ dàng leo lên chỗ con khỉ nằm. Nhưng khi chứng kiến tình cảnh thê thảm, yếu ớt của khỉ đực ông đã động lòng thương và quyết định cứu nó rồi đưa nó xuống núi. Nhìn thấy tình cảm của những loài vật dành cho nhau, ông đã quyết định buông tha cho khỉ đực và bỏ đi. Sau đó ông Diểu đã gặp một loài hoa mà chỉ ba mươi năm mới gặp một lần. Nó như ẩn dụ cho những điều tốt đẹp sẽ đến khi con người biết yêu và bảo vệ thiên nhiên.
Đoạn văn này miêu tả diễn biến tâm trạng của ông Diểu khi bắt được l con mồi. Mới đầu ông thấy đắc ý khi nâng con khỉ lên ước lượng “Dễ đến hơn yến”, Nhưng khi nghe tiếng nó rên, nhìn thấy nó run bắn, đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn thì ông thấy thương hại, thấy đau lòng. Lòng trắc ẩn đã dẫn đường cho hành động cứu chữa (Ông Diểu đã nhai lá đắp vào vết thương để cầm máu cho con khi khỉ). Dù vậy, ông “tránh nhìn vào đôi mắt nó” vì ông chính là kẻ sát thương.
Ông Diểu phóng sinh cho con khỉ đực sau khi đã cứu chữa và bế nó xuống núi vì:
- Ông Diểu chứng kiến cảnh núi lở, tổ mối đùn ăn hết áo quần – những dấu hiệu của thiên nhiên trừng phạt con người.
- Con khỉ cái lẵng nhẵng bám theo như đòi ăn vạ, con vật có tình khiến ông thấy bị xúc phạm.
- Con khỉ đực giãy giụa, chống cự, tìm cách tháo thân.
- Ông Diểu mệt lả, không đủ sức giữ con mồi.
- Ông Diểu buồn tê tái, cay cay mũi khi hiểu ra: “Hoá ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề.”
Từ những trải nghiệm trong suốt chuyến đi săn, ông Diểu đã thấy rằng thiên nhiên có sức mạnh lạ lùng, con thú cũng có tình, có phận, và mình cũng là một sinh vật giữa muôn loài nên ông từ bỏ vị thế người đi săn, tha bổng cho con mồi.
Cảm nghĩ về đoạn kết truyện:
- Kết thúc bất ngờ: Ông Diểu tay không ra về.
- Kết thúc có hậu: Ông Diểu được thiên nhiên ban thưởng niềm vui gặp hoa tử huyền – bông hoa may mắn ba mươi năm mới nở một lần.
- Kết thúc buồn: Ông Diểu cô đơn. Ông là một người cá biệt, kì lạ, đồng loại không đồng cảm được.
- Kết thúc lạc quan:“Trời sẽ ấm dần” gieo niềm hi vọng về thời tiết thuận hoà, “mùa màng phong túc”.
- Trong truyện ngắn Muối của rừng, yếu tố kì ảo xuất hiện ở một số chi tiết: sương mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị vừa đầy tử khí”, “cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình khỉ trắng”, tiếng rên của khỉ đực “tựa như thần Chết bực mình”,... Dù vẫn gọi là “yếu tố kì ảo” nhưng có màu sắc “kì lạ” nhiều hơn là “kì ảo”.
- Những chi tiết có tính “kì” (kì lạ, hiếm gặp) hiện diện khá nhiều lần trong lác phẩm là để tạo tình huống cho nhân vật bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ; diễn tả nguồn cơn những thay đổi trong nhận thức và hành động của nhân vật.
- Cảnh rừng mùa xuân: Cảnh rừng mùa xuân được miêu tả vào thời điểm “thích nhất, cây cối nhú lộc non”, “rừng xanh ngắt và ẩm ướt”. Thiên nhiên đẹp đẽ hiện diện qua cảm nhận của một người thân thuộc rừng, yêu mến rừng, tận hưởng rừng bằng tất cả các giác quan và coi đó là “tuyệt thú”.
- Điểm nhìn: Người kể chuyện vô nhân xưng, “tàng hình” nhưng ngay từ câu mở đầu đã không che giấu tình cảm, thái độ trọng thị, tôn vinh rừng đến mức cực đoan: “Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hằng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da”. Vì thế, điểm nhìn có tính chủ quan, cá nhân đã hiện diện ngay từ đoạn miêu tả rừng xuân, chuẩn bị cho nhân vật ông Diểu xuất hiện. Từ đó về sau, điểm nhìn nhân vật luôn được sử dụng trong suốt quá trình kể chuyện.
Chi tiết khẩu súng được nói đến khá kĩ càng (từ nước ngoài gửi về, hai nòng, tuyệt vời, nhẹ bỗng, nằm mơ cũng không thấy được,..) và khơi gợi nhiều ý nghĩa. Khẩu súng là biểu tượng của văn minh, hiện đại, của kĩ thuật cao, của sức mạnh con người. Vì có khẩu súng mà ông Diểu nảy ra ý định đi săn và coi đó là “đáng sống”, là việc làm có giá trị. Rừng xuân đẹp đẽ không còn là chốn thưởng ngoạn, mà trở thành nơi con người phô diễn sức mạnh. Với khẩu súng trong tay, con người trở nên cao ngạo, tự tin, mặc ý khai thác, huỷ hoại thiên nhiên.
Ông Diểu đã chuẩn bị cho chuyến đi săn một cách cẩn thận: vũ khí, trang phục (mặc quần áo ấm, đội mũ lông, đi giày cao cổ), thức ăn (nắm xôi). Đây là những vật phẩm con người làm ra để chống chọi với thiên nhiên, bảo vệ bản thân và thể hiện vị thế ưu trội của mình. Ông Diểu đã trang bị kĩ lưỡng cho một chuyến đi săn, một cuộc đương đầu với nắng mưa gió rét và những tình huống bất lợi. Ông cũng suy tính kĩ càng để lựa chọn hành trình săn tìm một con mồi đích đáng, trong tầm tay (không bắn chim xanh, đôi gà rừng, mong nã được sơn dương nhưng biết là khó, việc bắn một chú khỉ không khó). Tất cả những chuẩn bị, trù tính này cho thấy cách ứng xử quen thuộc, thường thấy của con người với thiên nhiên: vừa chống chọi và chịu đựng, vừa tận dụng và huỷ hoại.
Nếu đã đọc Tây du kí hẳn sẽ biết Hoa Quả Sơn, Thuỷ Liêm Động là nơi núi non hùng vĩ, phong cảnh thơ mộng huyền bí, cây quả trĩu trịt thơm nức, xứ sở của Tôn Ngộ Không và họ hàng nhà khỉ. Những địa danh này quen thuộc với đông đảo người đọc, đã trở thành điển cố. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng điển cố này trong đoạn trích (“Đây là Hoa Quả Sơn, Thuỷ Liêm Động của thung lũng này giúp cho việc miêu tả ngắn gọn, gợi cảm hơn.
Đoạn trích đã diễn tả mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên thường gặp trong đời sống: con người là trung tâm, con người “làm chủ” thiên nhiên (chủ động thưởng ngoạn, khai thác, tận dụng,..). Đây là phần đầu của truyện ngắn Muối của rừng (trong SGK, đoạn này đã được tóm lược).
Truyện ngắn “Bến trần gian” của Lưu Sơn Minh kể về hành trình trở về quê hương của một người lính sau nhiều năm xa cách. Anh đã vượt qua bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu nơi chốn chỉ để đêm nay tới bến sông và gọi “Đò ơi!”. Dòng sông, ánh trăng, và những kỷ niệm xưa cũ hiện lên trong tâm trí anh, gợi nhớ về những ngày tháng đã qua.
Bà cụ Lăng, mẹ của anh, nhớ lại đêm trước ngày anh đi bộ đội, khi anh ngồi thổi sáo dưới ánh trăng. Bà cũng nhớ về Thùy, người con gái đã chờ đợi anh suốt đời, dù bây giờ đã có năm đứa con. Thùy vẫn thường ra bến sông khóc, mong đợi ngày anh trở về.
Trong cuộc hành trình vô định, anh gặp một ông già râu tóc bạc phơ, người đã cho anh một chiếc lá để giữ cho linh hồn không tan ra khi quay về chốn cũ. Cuối cùng, anh đã trở về bến sông, nơi Thùy đang ngồi khóc, và gọi “Đò ơi!” để được qua sông, tìm lại những kỷ niệm và tình yêu đã mất
Ở truyện ngắn này, cần lưu ý đến cách tổ chức truyện kể của nhà văn Lưu Sơn Minh:
- Văn bản truyện được phân chia thành từng đoạn rõ rệt, được đánh dấu (*). Mỗi đoạn diễn tả cảm nghĩ, hành động của một nhân vật ở thời hiện tại đan xen hồi ức.
- Câu chuyện triển khai theo cách kết nối đan xen các đoạn kể về từng nhân vật, từng cặp nhân vật tạo thành liên hệ vòng xoáy, diễn tả những mối liên hệ tình cảm khăng khít giữa ba nhân vật.
- Về anh Lăng: Kính trọng người thanh niên có ý thức công dân (là con một vẫn xung phong đi bộ đội); thương tiếc người hi sinh khi còn rất trẻ; xót xa với nỗi niềm nhớ nhà, nhớ mẹ của người lính.
- Về bà cụ Lăng: Kính trọng bà mẹ đã thầm lặng chịu đựng buồn khổ khi con ra trận không trở về; nể phục bà vì tấm lòng nhân hậu vị tha (luôn an ủi, động viên, giúp đỡ Thuỳ).
- Về chị Thuỳ: Cảm thương số phận bất hạnh của người phụ nữ (người yêu hi sinh, cuộc sống gia đình vất vả,...).
- Nhân vật kì ảo: linh hồn anh bộ đội đã hi sinh mấy chục năm trước, ông già râu tóc bạc phơ.
- Vật thiêng: chiếc lá có phép lạ.
- Những chi tiết huyền hoặc: dòng sông không chảy, cây si và chuyện ma, con thuyền trôi thẳng băng, ánh trăng – cái bóng, nén hương,...
Từ các yếu tố kì ảo đã xác định, có thể liên hệ với truyện Muối của rừng để rút ra một số nhận xét:
- Ở Bến trần gian, các yếu tố kì ảo có tính chất “ảo” nhiều hơn là “kì”, còn ở Muối của rừng chủ yếu là “kì”.
Các yếu tố kì ảo ở Bến trần gian có nguồn gốc từ văn hoá dân gian. Nhân vật ông già râu tóc bạc phơ gợi nhớ ông Tiên, ông Bụt, chiếc lá có phép là vật thiêng từ các truyện cổ dân gian. Các chi tiết về chuyện ma, dòng sông, đêm trăng, màn sương, cái bóng, nén hương,... đều có nguồn cội từ những tín niệm của người ว Việt về cõi âm, cõi trần, về những ranh giới và liên thông giữa cõi sống và cõi chết.
- Các yếu tố kì ảo đã trở thành những phương tiện nghệ thuật đắc dụng trong việc diễn tả phẩm chất và số phận của con người Việt Nam thời hậu chiến.
Phân tích chi tiết nén hương:
- Xuất hiện tám lần với những biểu hiện đa dạng: chị Thuỳ “rút mấy que hương”; “vừa châm hương vừa lầm rầm khấn”; “mùi khói hương thơm nhè nhẹ đưa về phía anh”; “vì khói hương của loài ma mị này mà anh bị dính chặt ở đây”; “mấy nén hương đầu thuyền đã lụi”; “bị ngửi hương ma nên hoá đá”; “lúc chị thắp mấy nén hương lên bàn thờ thì thấy trong khung ảnh Lăng có một chiếc lá màu xám”; “bà phải ra vườn hải mấy quả vào thắp hương cho nó”; “lại thắp hương trên mũi thuyền”.
- Nén hương kết nối tâm linh giữa chị Thuỳ và anh Lăng, giữa trần gian và cõi âm. Khi cuộc sống hiện tại quá vất vả, đau buồn, chị tâm tình với người yêu đã hi sinh. Nhưng nén hương đã làm linh hồn anh Lăng hoá đá, bị trói chặt dưới thuyền, không thể lên bến trần gian để gặp lại người yêu cũ. Nén hương là một vật có thực nhưng lại có sức mạnh hơn cả chiếc lá thần kì, phân định rõ ràng cõi thực và cõi ảo. Dù khao khát mãnh liệt, họ vẫn không thể gặp lại. Bi kịch tình yêu trong chiến tranh là những tổn thất không thể hoá giải được.
- Linh hồn anh Lăng bị hoá đá nên coi đó là “hương ma. Đây là sự thay đổi, hoán vị giữa cõi ma và cõi người, giữa cõi thực và cõi ảo. Nén hương được chuyển cõi để anh Lăng được trở lại cõi người.
- Nhưng khi “mấy nén hương đầu thuyền đã lụi, anh lính đã gọi mẹ và bà mẹ đã nghe thấy tiếng con. Tình mẫu tử đã vượt qua những giới hạn của cõi âm, cõi dương.
- Sáng hôm sau, chị Thuỳ đến thắp hương trên bàn thờ, bà cụ Lăng hái quả trên cây ổi anh Lăng trồng để thắp hương cho anh. Đây là nén hương tưởng nhớ của người ở cõi trần gian, những người đang nhọc nhằn chịu đựng vất vả, buồn đau nhưng không quên người đã đến cõi khác.
Đoạn kết của tác phẩm “Bến trần gian” để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu lắng và suy tư. Khi người lính trở về bến sông, nơi Thùy đang ngồi khóc, và gọi “Đò ơi!” để được qua sông, hình ảnh này gợi lên sự trở về với quá khứ, với những kỷ niệm và tình yêu đã mất.
Sự gặp gỡ giữa người lính và Thùy, dù chỉ là trong tâm tưởng, thể hiện nỗi nhớ nhung, sự chờ đợi và lòng chung thủy của Thùy. Đồng thời, nó cũng phản ánh nỗi đau và sự tiếc nuối của người lính khi không thể trở về bên người mình yêu trong cuộc sống thực.
Đoạn kết mở ra một không gian mơ hồ, giữa thực và ảo, giữa hiện tại và quá khứ, khiến người đọc cảm nhận được sự mong manh của kiếp người và sự vĩnh cửu của tình yêu. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về giá trị của những kỷ niệm và tình cảm chân thành, dù thời gian có trôi qua và hoàn cảnh có thay đổi.
Nhan đề Bến trần gian được kết nối chặt chẽ với nội dung và ý nghĩa câu chuyện.
- Bến sông quê là không gian diễn ra câu chuyện.“Trần gian” gợi cảm nghĩ về cuộc sống hiện tại, về cõi trần thế nhọc nhằn, gợi liên tưởng về mối liên hệ dương gian – âm phủ.
- Nội dung câu chuyện kể về việc linh hồn anh bộ đội trở về gặp mẹ, gặp người yêu cũ. Đây là câu chuyện tưởng tượng về sự tương thông, giao cảm giữa người sống và người chết.
- Câu chuyện khơi gợi nhiều ý nghĩa sâu sắc: phẩm chất cao đẹp của con người, những tổn thất do chiến tranh, cuộc sống nhọc nhằn thời hậu chiến, văn hoá tâm linh của người Việt.
- “Bến trần gian” trở thành một biểu tượng khơi gợi nhiều cảm xúc.
Một chi tiết kỳ ảo trong truyện “Bến trần gian” của Lưu Sơn Minh gây ấn tượng mạnh mẽ là khi người lính gặp ông già râu tóc bạc phơ và nhận được chiếc lá giữ cho linh hồn không tan ra khi quay về chốn cũ. Chi tiết này không chỉ tạo nên một không gian huyền bí, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Chiếc lá như một biểu tượng của hy vọng và sự bảo vệ, giúp người lính có thể trở về quê hương, nơi chứa đựng những kỷ niệm và tình yêu đã mất. Hình ảnh này gợi lên sự mong manh của kiếp người và sự vĩnh cửu của tình yêu, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn những giá trị tinh thần trong cuộc sống. Chi tiết kỳ ảo này không chỉ làm tăng thêm tính hấp dẫn cho câu chuyện mà còn giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về nỗi nhớ nhung, sự chờ đợi và lòng chung thủy của những người ở lại. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về giá trị của những kỷ niệm và tình cảm chân thành, dù thời gian có trôi qua và hoàn cảnh có thay đổi.
Một chi tiết kỳ ảo nổi bật trong truyện “Hải khẩu linh từ” của Đoàn Thị Điểm là khi Nguyễn Thị Bích Châu, sau khi hy sinh, trở thành nữ thần linh thiêng phù hộ cho vua Trần Duệ Tông và dân chúng. Chi tiết này không chỉ tạo nên sự huyền bí và linh thiêng cho câu chuyện mà còn thể hiện niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên và sự phù trợ của thần linh trong văn hóa dân gian Việt Nam. Hình tượng Bích Châu, từ một cung phi dũng cảm hy sinh vì đất nước, trở thành nữ thần bảo vệ dân lành, là biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm. Chi tiết kỳ ảo này không chỉ làm tăng thêm sức hấp dẫn cho câu chuyện mà còn gửi gắm thông điệp về sự hy sinh cao cả và lòng trung thành với Tổ quốc
- Giới thiệu chung về mối liên hệ giữa hai tác phẩm của hai nhà thơ, thuộc hai thời đại, hai nền văn học khác nhau. Một tác phẩm là thơ cổ điển Trung Hoa, một tác phẩm là thơ hiện đại Việt Nam.
- Điểm tương đồng và khác biệt giữa hai cặp câu thơ (đều là những câu kết rất | đặc sắc của mỗi bài):
+ Điểm tương đồng: không gian sông nước; thời điểm hoàng hôn; hình ảnh khói sóng; nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương; tâm trạng buồn, xa vắng;...
+ Điểm khác biệt: câu thơ của Thôi Hiệu là câu hỏi (quê hương ở nơi nào?); hình ảnh khói sóng xuất hiện cụ thể, cảnh buồn khiến lòng người buồn. Câu thơ của Huy Cận nhấn mạnh nỗi nhớ quê (lòng quê); hình ảnh khỏi hoàng hôn xuất hiện gián tiếp trong hình thức câu phủ định (không khói hoàng hôn).
- Đánh giá về sự “gợi hứng” của hình ảnh, thi tứ từ bài thơ của Thôi Hiệu và sự sáng tạo của Huy Cận.
Gợi ý thực hiện vấn đề 1:
- Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn các thông tin về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía cạnh nào của sự vay mượn - biến đổi) mà bài viết bàn luận.
- Thân bài: Cân triển khai các ý chính sau đây:
+ Nhận diện về phạm vi, tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng.
+ Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể.
+ Phân tích, đánh giá những điểm biến đổi, sáng tạo của tác giả trong quá trình vay mượn.
Lưu ý: Việc sắp xếp hệ thống ý chính cần linh hoạt, phụ thuộc vào ý tưởng triển khai mạch nghị luận. Ví dụ, có thể sắp xếp theo cấu trúc: các phương diện chỉ vay mượn mà không biến đổi, vay muợn nhưng biến đối một phần, vay mượn về mặt hình thức nhưng biến đối hoàn toàn về nội dung,...
- Kết bài: Ý nghĩa của việc tìm hiểu về sự vay mượn và biến đổi trong tác phẩm. Nêu đánh giá chung và hướng khám phá, tìm tòi tiếp theo.
Gợi ý thực hiện vấn đề 2:
- Cần phân biệt hai khái niệm tác phẩm văn học dân gian và tác phẩm văn học viết để chọn đúng tác phẩm cần được so sánh với nhau khi lập dàn ý cho bài nói.
- Chú ý chọn hai tác phẩm mà giữa chúng có một số điểm tương đồng ngẫu nhiên (cần suy luận để biết được không có quan hệ ảnh hưởng – tiếp nhận ở đây). Có thể tìm đọc bài thơ Bông hoa nhỏ (bản dịch) của Pu-skin (Pushkin) và bài thơ Thăm mả cũ bên đường của Tản Đà để có tư liệu lập dàn ý.
Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.

![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 21](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-3izficdefgfoel0s9j8s-1786772791.jpg&w=3840&q=75)
![[Năm 2022] Đề thi thử môn Vật lí THPT Quốc gia có lời giải - Đề số 20](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fvideo.vietjack.com%2Fupload%2Fimages%2Fvj-image%2Fimage-emy0gtcksawvorajezvv-1786772460.jpg&w=3840&q=75)


















