Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án

A
Admin
VănLớp 1241 lượt thi
27 câu hỏi
Đoạn văn

THUẾ MÁU(1)

(Nguyễn Ái Quốc)

1. CHIẾN TRANH VÀ “NGƯỜI BẢN XỨ(2)

Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-na-mít (Annamite)”(3) bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiển” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”.

Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lí và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi(4), đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng (Balcan)(5), lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, - chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ (Marne), hoặc trong bã lầy miền Săm-pa-nhơ (Champagne)(6), để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế(7).

Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bô-sơ”(8), nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; đằng nào cũng thế thôi, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy. Tổng cộng có 700 000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, 80 000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa!

II. CHẾ ĐỘ LÍNH TÌNH NGUYỆN

Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khoá, sưu sai, tạp dịch(9), bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại - còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa.

Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để người ta tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: Lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp,...

Theo ý kiến của tất cả các cơ quan có thẩm quyền không thiên vị được giao cho sử dụng ở châu Âu “vật liệu biết nói” châu Á, thì vật liệu này đã không đưa lại kết quả tương xứng với chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản.

Sau nữa, việc săn bắt thứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là “chế độ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ những lạm(10) hết sức trắng trợn.

Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: Vị “chúa tỉnh” mỗi viên công sứ(11) ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh” – ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu mà xoay xở. Mà cái ngón xoay xở kiểu D(12) thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất là xoay xở làm tiền.

Thoạt tiên, chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ, những người này phải chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “Đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”.

Những người bị tóm đi như thế còn hào hứng gì nữa với cái nghề cột vào cổ họ. Cho nên, bước chân vào trại lính là họ liền tìm mọi cơ hội để trốn thoát.

Còn những người nào thấy không thể thoát khỏi số phận hẩm hiu, thì tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những bệnh nặng nhất, mà thông thường hơn cả là bệnh đau mắt toét chảy mủ, gây ra bằng cách xát vào mắt nhiều thứ chất độc, từ vôi sống đến mủ bệnh lậu.

Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, Phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những người lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho Tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:

“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến: xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”.

Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lị, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hoà và ở nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại"?

[...]

III. KẾT QUẢ CỦA SỰ HI SINH

Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng(13) rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người “Nê-grô” (negroid)(14) lẫn người “An-na-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.

Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,... trước khi đưa họ đến Mác-xây (Marseille) xuống tàu về nước, đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? Về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!” đó sao?

Thế là những “cựu binh” – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lí nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lí cả.

Theo báo chí Đông Dương thì thương binh người Pháp bị mất một phần thân thể và vợ con của tử sĩ người Pháp đều được cấp môn bài(15) bán lẻ thuốc phiện.

Như thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại. Một mặt, họ vẫn chưa thoả khi tự tay làm cái việc bỉ ổi của người đầu độc, mà còn muốn lôi kéo vào đây cả những nạn nhân đáng thương hại của cuộc huynh đệ tương tàn(16) nữa. Mặt khác, họ coi rẻ tính mạng và xương máu của những kẻ đã bị họ lừa bịp, đến nỗi tưởng rằng chỉ cần quẳng cho những người này khúc xương thối ấy là đủ để đền bù được một cánh tay bị mất hoặc mạng của một người chồng. Chúng tôi chắc rằng thương binh và quả phụ chiến tranh sẽ đá văng món quà nhơ nhớp ấy và nhổ vào mặt kẻ tặng quà. Chúng tôi cũng tin chắc rằng thế giới văn minh và người Pháp lương thiện sẽ đứng về phía chúng tôi lên án bọn cá mập thực dân đang không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầy túi.

[...]

(In trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 25-33)

* Chú thích:

(1) Thuế máu: Phần văn bản trên được trích từ Chương 1 (Thuế máu) trong Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Bản án chế độ thực dân Pháp được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu tại Pa-ri năm 1925, tại Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam, tố cáo những tội ác tày trời của thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,... và tình cảnh khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa Pháp trên thế giới.

(2) Người bản xứ: người dân ở một đất nước được nói đến với hàm ý coi khinh (theo quan điểm của chủ nghĩa thực dân).

(3) An-na-mít: (từ tiếng Pháp) chỉ người Việt Nam, thuộc về Việt Nam.

(4) Ngư lôi: một loại vũ khí thả xuống nước, dùng sức điện để phá huỷ chiến hạm quân địch.

(5) Ban-căng: một bán đảo nằm ở giữa biển A-đờ-ri-a-tích (Adriatic) và biển Đen, ngay góc đông nam của châu Âu.

(6) Săm-pa-nhơ: một vùng đất ở đông bắc nước Pháp.

(7) Thống chế: như Nguyên soái (thường dùng nói về quân hàm trong quân đội các nước tư bản).

(8) Bô-sơ: (từ tiếng Pháp) có nghĩa xấu, chỉ quân đội Đức.

(9) Sưu sai, tạp dịch: sưu (hay thuế thân), còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người, là thứ sưu/ thuế căn cứ vào cư dân địa phương, mỗi dân đinh (đàn ông trong độ tuổi quy định: thường là 18 – 60 tuổi) đều phải nộp cho nhà nước trong chế độ phong kiến cũng như trong chế độ thực dân - phong kiến. Bên cạnh sưu đóng bằng hiện vật hoặc hiện kim, còn có sưu dịch đóng bằng sức lao động, thường là những công việc lao động nặng nhọc mà dân đinh phải làm cho nhà nước; sưu sai, tạp dịch: chỉ việc sưu nói chung.

(10) Những lạm: lạm dụng quyển hành để gây phiền hà và lấy của.

(11) Công sứ: viên chức người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị cấp tỉnh ở Việt Nam thời Pháp thuộc, được thiết lập ở Trung Kì và Bắc Kì.

(12) D: chữ đầu của từ “débrouillard” (tiếng Pháp), có nghĩa là “xoay xở, tháo vát”.

(13) Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng: một cách chơi chữ của tác giả, nói về cái chết của người da đen và da vàng.

(14) Nê-grô: chỉ những người da đen.

(15) Môn bài: giấy cho phép mở cửa hàng buôn bán.

(16) Huynh đệ tương tàn: anh em tàn sát lẫn nhau.

1. Tự luận
• 1 điểm

Giải thích nhan đề Thuế máu. Từ nhan đề và các đề mục (Chiến tranh và “người bản xứ”, Chế độ lính tình nguyện, Kết quả của hi sinh), xác định chủ đề và thông điệp của văn bản.

Xem đáp án

- Giải thích nhan đề Thuế máu: Thuế đóng bằng máu, đóng bằng mạng sống con người.

- Xác định chủ đề và thông điệp của văn bản:

+ Chủ đề: Chiến tranh phi nghĩa đã mang lại bao nhiêu bất hạnh khổ đau cho người dân thuộc địa; và cái gọi là “chế độ lính tình nguyện” hay “sự hi sinh”,... về thực chất chỉ là thứ ngôn từ nhằm che đậy một thứ thuế vô cùng tàn bạo mà thực dân Pháp đánh vào người bản xứ: “thuế máu”.

+ Thông điệp: Chế độ thực dân là độc ác và lừa bịp. Người dân bản xứ không chỉ bị bóc lột tận xương tuỷ vì sưu sai, tạp dịch mà còn bị ép buộc đi lính, buộc phải đóng “thuế máu”. Một chế độ vô nhân đạo lại luôn được che đậy bằng những ngôn từ mĩ miều. Cần lên án, vạch trần, lật đổ chế độ này.

2. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích cách miêu tả thái độ của các quan cầm quyền thực dân Pháp đối với dân bản xứ, trước, trong và sau chiến tranh. Cách miêu tả đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm?

Xem đáp án

- Thái độ của các quan cầm quyền thực dân Pháp đối với dân bản xứ trước, trong và sau chiến tranh:

+ Trước chiến tranh: Coi người dân bản xứ chỉ là bọn người “bẩn thỉu”, làm những nghề mạt hạng và chỉ xứng đáng “ăn đòn.

+ Chiến tranh bùng nổ: Ca ngợi dân bản xứ là “con yêu”, “bạn hiển”, “những chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do, nhằm mục đích đẩy họ ra trận, đến những vùng đất xa xôi của nước Pháp làm bia đỡ đạn.

+ Chiến tranh kết thúc: Người dân bản xứ lại trở về là giống người “bẩn thỉu”; tính mạng và xương máu của họ bị coi rẻ, phớt lờ. Những “tuyên bố tình tứ” trước kia của nhà cầm quyền “... bỗng dưng im bặt như có phép lạ!

- Đó là cách miêu tả theo lối đối lập. Cách miêu tả này đã có tác dụng rõ rệt trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm:

+ Làm nổi bật luận điệu xảo trá, hành động lừa bịp, thái độ lật lọng trơ tráo của thực dân Pháp đối với người bản xứ.

+ Tăng cường sức mạnh tố cáo về “chế độ lính tình nguyện” không phải là tự nguyện đi lính mà là cưỡng ép, khiến người dân bản xứ phải chịu đựng biết bao bi kịch.

3. Tự luận
• 1 điểm
Cảm hứng chủ đạo của văn bản là gì?
Xem đáp án

Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng vạch trần sự thật qua đó phê phán, tố cáo chế độ bắt lính tàn bạo, vô nhân đạo; thái độ lật lọng trơ tráo của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ; đồng thời thể hiện niềm xót xa đối với những bất hạnh thương đau mà người dân các nước thuộc địa phải gánh chịu trong chiến tranh phi nghĩa.

4. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của Nguyễn Ái Quốc (kết cấu, cách sử dụng số liệu, từ ngữ, giọng văn, thủ pháp trào phúng, các biện pháp tu từ,... trong việc thể hiện tư tưởng tác phẩm).

Xem đáp án

Nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của Nguyễn Ái Quốc:

- Số liệu cụ thể, dẫn chứng tiêu biểu của thiên phóng sự đã mang đến sức mạnh tố cáo về hành động dã man của những kẻ đi khai hoá. Tính xác thực của số liệu đã thức tỉnh và kêu gọi được sự đồng tình của nhân loại tiến bộ đứng về phía những người dân bản xứ đấu tranh cho độc lập, tự do. Trước những số liệu xác thực, thực dân Pháp không thể làm ngơ, không thể chối cãi.

– Bằng những thủ pháp trào phúng (từ ngữ giễu nhại: “con yêu”, “bạn hiển, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”; giọng điệu mỉa mai, đả kích: “ấy thế mà”, “đùng một cái,...; khai thác những hình ảnh, chi tiết tương phản, đối lập để tạo nên những bất ngờ, gây cười,...), tác giả đã hạ uy thế giả tạo của chính quyền thực dân, cay đắng cho số phận người dân thuộc địa. Lối nói hài hước mà đả kích sâu cay đã bóc trần chính sách lính “tình nguyện” ở xứ Đông Dương là ép buộc, bắt bớ, đẩy người dân vô tội đến cái chết bi thảm. Bản chất của chính quyền thực dân là giả nhân giả nghĩa, lật lọng trắng trợn.

- Các biện pháp tu từ (liệt kê, phép đối, chơi chữ, câu hỏi tu từ,...) được tác giả sử dụng rất hiệu quả.

+ Phép đối: “cuộc chiến tranh vui tươi”, “quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, "quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé,...

+ Liệt kê: “Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng; một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ"....

+ Chơi chữ: “vật liệu biết nói”, “thịt đen, thịt vàng”....

+ Câu hỏi tu từ: xuất hiện ở đoạn 2 và 3, tạo thành các đoạn văn chất vẫn dồn dập, xoáy sâu vào lòng người đọc những vấn đề nhức nhối.

- Nghệ thuật viết phóng sự trong Thuế máu phù hợp với nội dung, góp phần đưa Thuế máu trở thành “bản án” đanh thép đối với chế độ thực dân Pháp.

5. Tự luận
• 1 điểm

Anh/ chị có suy nghĩ, cảm xúc gì về “chế độ lính tình nguyện” của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ?

Xem đáp án

Suy nghĩ, cảm xúc gì về “chế độ lính tình nguyện” của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ: Chế độ lính tình nguyện là các thủ đoạn, mánh khóe tàn độc của thực dân Pháp để bắt ép người dân Đông Dương đi lính và vơ vét của cải của họ. Đó là những hành động chèn ép vô nhân đạo, không từ bất kỳ một thủ đoạn tàn ác, coi mạng người như cỏ rác và thể hiện sự đối lập giữa lời nói và hành động của thực dân Pháp.

Đoạn văn

ĐI ĐƯỜNG (*)

(Tẩu lộ - Hồ Chí Minh)

Phiên âm:

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan

Trùng san chi ngoại hựu trùng san

Trùng san đăng đáo cao phong hậu

Vạn lý dư đồ cố miện gian.

Dịch nghĩa:

Có đi đường mới biết đường đi khó,

Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;

Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,

Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

Dịch thơ:

Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;

Núi cao lên đến tận cùng,

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, NXB trẻ, 2020)

(*) Tác phẩm được rút ra từ tập Nhật kí trong tù (1942 – 1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày bị giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ đã bị áp giải qua nhiều nhà lao. Và cuộc hành trình chuyển giao đầy gian nan được Hồ Chí Minh khắc họa chân thực qua bài thơ Đi đường (Tẩu Lộ).

6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào:

Bản phiên âm.

Bản dịch nghĩa.

Bản dịch thơ.

Bản gốc tiếng Hán.

Xem đáp án

A. Bản phiên âm.

7. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ diễn tả cảm xúc của ai? Ở thời điểm nào?

Của Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.

Của thi sĩ yêu thiên nhiên, trên đường luyện tập.

Của thi sĩ yêu thiên nhiên, đang ngắm cảnh.

Của chiến sĩ trên hành trình cách mạng.

Xem đáp án

A. Của Hồ Chí Minh- người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.

8. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Xác định ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ?

Nhịp 2/2/4.

Nhịp 2/4/2.

Nhịp 4/4.

Nhịp phá cách.

Xem đáp án

B. Nhịp 2/4/2.

9. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Cách gieo vần nào được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ

Vần lưng.

Vần cách.

Vần liền.

Linh hoạt, đa dạng.

Xem đáp án

C. Vần liền

10. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu thơ nào dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa

Đi đường mới biết gian lao.

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.

Núi cao lên đến tận cùng.

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

Xem đáp án

A. Đi đường mới biết gian lao

11. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng thơ thứ mấy gợi mở về nguyên nhân dẫn đến cảm xúc chính của bài thơ

Dòng thứ nhất.

Dòng thứ hai

Dòng thứ ba.

Dòng thứ tư.

Xem đáp án

C. Dòng thứ ba.

12. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về điều gì?

Những chặng đường dài cứ nối tiếp nhau, không thấy đích đến

Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.

Chỉ có người đã đi đường dài mới thấu hiểu những khó khăn, gian khổ

Sẽ gặp khó khăn chồng chất trên đường dài

Xem đáp án

B. Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.

13. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Dòng thơ “Hết lớp núi này lại đến lớp núi khác” có chức năng nào trong bài thơ tứ tuyệt?

Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ

Có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ

Kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả

Gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh

Xem đáp án

A. Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ.

14. Tự luận
• 1 điểm

Cảm xúc ở câu thơ đầu và câu thơ cuối khác nhau như thế nào? Hãy phân tích sự vận động mạch cảm xúc của bài thơ.

Xem đáp án

- Câu thơ đầu: Đi đường mới biết gian lao gợi lên hình ảnh người đi đường đối mặt với khó khăn thử thách và đã rút ra quy luật, nhận định thấm thía sâu sắc. trải qua thực tiễn mới thấu hiểu khó khăn → cảm xúc dường như được nén chặt giấu kín,...

- Câu cuối: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non - với nhịp thơ 4/4 và không gian rộng mở, hình ảnh thơ tươi sáng chở theo dòng cảm xúc tự do sảng khoái từ dáng vẻ hiên ngang, ngạo nghễ của người vượt qua khó khăn thử thách để dạo chơi nhàn tản giữa non nước mây trời.

- Mạch cảm xúc của bài thơ vận động từ: từ nén chặt, giấu kín,... dần mở ra theo hành trình chinh phục con đường,... Câu thơ thứ 3 dường như là một sự reo vui khi đã vượt qua được hàng ngàn núi để lên được tới đỉnh núi cao nhất, tận cùng nhất. Khi lên đến đỉnh núi cao rồi, cũng là lúc con người ta có thể phóng tầm mắt bao quát và chiếm lĩnh cả một khoảng không bao la, như làm chủ vũ trụ, đất trời tự do, tự tại.

15. Tự luận
• 1 điểm

Em rút ra bài học nào cho bản thân từ bài thơ Đi đường của tác giả Hồ Chí Minh?

Xem đáp án

- Hs tự trả lời theo nhận thức của cá nhân

- Gợi ý: Bám sát nội dung của câu thơ thứ nhất và kết quả mà nhân vật trữ tình có được ở câu thơ cuối để hiểu về điều kiện con người được hưởng cảm xúc tự do, tự tại… Hành trình đi đường của nhân vật trữ tình sẽ là bài học quý cho bạn đọc.

Đoạn văn

BƠ VƠ

(chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)

Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”

Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.

Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ. Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lên xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.

Đọan trích sau là chương 2 của tác phẩm:

(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..] ấy đến nay ùng do hay d tiền ăn tiền tàu từ đã

Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã Nam để trả ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.

Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.

Bính bật kêu khe khẽ:

- Biết làm sao đêm nay?!

Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chăng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.

Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp C thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa. (2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngầng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?

Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.

Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....

(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:

- Cô kia đi đâu?

Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:

- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.

Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:

– Cô định tìm ai ở đây?

Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:

- Ô kìa!

Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.

Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.

Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:

– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.

Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.

Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường

– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?

Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.

Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.

Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...

Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.

Bính vội gào to:

- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!

Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng

(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.

Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.

Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.

(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)

(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.

* Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.

16. Tự luận
• 1 điểm

Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại.

Xem đáp án

* Những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại:

- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng

- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)

- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.

17. Tự luận
• 1 điểm
Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính?
Xem đáp án

- Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ:

+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng

+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng

+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị

+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con

- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô.

18. Tự luận
• 1 điểm

Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào?

Xem đáp án

- Bính phải bỏ nhà ra đi vì:

+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu

+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình

- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:

+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)

+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội

19. Tự luận
• 1 điểm

Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b

a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?

b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?

Xem đáp án

a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính rất cơ cực:

- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…

- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”

b. Cô Bính nhận thức được cảnh ngộ của mình:

- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường

- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…

- Ý nghĩa: Bính - cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng.

20. Tự luận
• 1 điểm
Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc?
Xem đáp án

- Điều khiến Tám Bính nhớ quê hương và gia đình: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…

- Cô nhớ về gia đình, cha mẹ nhiều nhất:

+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;

+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận

+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian

- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật.

- Vai trò của điểm nhìn đối với văn bản đọc: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính.

Đoạn văn

CƠN ĐAU DÀI

Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”

Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.

Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.

Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.

Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.

Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"

 (1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong

giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.

Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.

Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.

Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.

Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:

– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?

– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.

Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:

- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.

Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt đứng dậy:

- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?

- Anh không hiểu ý em.

- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?

Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:

- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống.

Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:

- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?

Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.

Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:

Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!

Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.

(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì một việc rất cần kíp.

Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:

- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,

Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!

Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:

– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!

Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!

Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong cơn gào thét dữ dội và âm thầm:

- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị

Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.

Nhưng người cán bộ nọ đã đi.

(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.

Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.

- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.

– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.

Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.

– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.

Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].

(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)

(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.

* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.

21. Tự luận
• 1 điểm

Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn.

Xem đáp án

- Tóm tắt văn bản: Đông nghĩ về Lí, trò chuyện, tranh luận với Luận về Lí và cho rằng Lí hư hỏng không có lỗi của mình. Cơ quan Lí đến thông báo: Lí ăn ở với tên tưởng phòng vật tư nên bị sa thải. Đông đau đớn tột cùng và chấp nhận sự thật, Luận buồn bã, thương Lí và muốn cứu Lí trong tuyệt vọng.

- Nhận xét: Văn bản Cơn đau dài nằm ở gần cuối tác phẩm phản ánh một bi kịch gia đình ông Bằng và vợ chồng Đông Lí, thể hiện tính cách, nỗi đau của nhân vật Đông Lí

22. Tự luận
• 1 điểm

“Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó?

Xem đáp án

Đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại trong văn bản Cơn đau dài:

- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực;

+ Cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi: việc cơ quan Lí đến thông báo sa thải Lí, ứng xử của Đông và ý nghĩ của Luận)

- Nhân vật là “con người nếm trải”, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp: diễn biến tâm lí của Đông (đang nghĩ tốt đẹp về Lí; hùng hổ gọi Lí là con đĩ; đau đớn tột cùng, chỉ biết ôm mặt)

- Phản ánh mâu thuẫn, tâm lí và xung đột giữa các quan điểm: cách nhìn đời bao dung, sâu sắc của Luận và cách nhìn đơn giản lược của Đông. Ông Bằng không thích nhạc Vácne chỉ vì nghe Luận nói Hít – le cũng thích nhạc ông này

23. Tự luận
• 1 điểm
Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả về nhân vật này.
Xem đáp án

- Đông rơi vào trạng thái đau đớn vì: Lí rất thân thiết với Đông, anh nhìn thấy những ưu điểm của Lí nên khi bị mất rồi, anh mới hiểu giá trị của Lí. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơ khùng; vì Luận nói về Lí và trách nhiệm của Đông về sự thay đổi của Lí.

- Nhân vật Đông:

+ Người lính trở về từ chiến trận, nhìn con người hết sức đơn giản: Chiến tranh, tất cả tâm lực phải giành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy

→ Đông cho rằng Lí hư là tại cô ấy, không phải do chồng, Đông quan niệm chưa đúng về mối quan hệ, sự ràng buộc vợ chồng, trong gia đình

+ Đông là người thô lỗ, cục cằn: chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản

+ Đông đang nếm trải nỗi đau và rơi vào bế tắc đau đớn: Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ

- Đánh giá của tác giả về Đông: Đông nói dồn dập, gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ; Anh tốt nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó → Tác giả phê phán ứng xử và suy nghĩ của Đông qua lời người kể chuyện và qua Luận. Chính Đông đã để tuột mất hạnh phúc gia đình và bây giờ chính Đông phải chịu nỗi đau đó.

24. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức).

Xem đáp án

– Nội dung:

+ Phản ánh số phận con người trong những mối quan hệ cuộc sống phức tạp với tất cả những mâu thuẫn, tâm lí và xung đột gay gắt trong lối sống, quan điểm sống qua nhân vật Đông, Luận.

+ Truyền tải nhiều thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm (qua nhân vật Luận).

– Nghệ thuật:

+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật – nỗi đau, sự bế tắc, bất lực, lối sống thờ ơ của Đông qua sự luân chuyển của các điểm nhìn trần thuật (bên trong, bên ngoài, người kể chuyện, nhân vật) với những khúc quanh phức tạp; qua đối thoại, độc thoại, biểu hiện bên ngoài (Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh. Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám; Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoà rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng; Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát.).

+ Khắc hoạ nhân vật: Nhân vật Lí chỉ hiện lên gián tiếp mà rất rõ nét (ưu điểm, nhược điểm, cảnh ngộ hiện tại) qua suy nghĩ của Đông và đối thoại của Đông Luận và một sự việc (người của cơ quan đến thông báo sa thải).

25. Tự luận
• 1 điểm

Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên.

a. Lời nói của Luận với Đông

Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống, nó đòi hỏi ta phải chăm sóc.

b. Suy nghĩ của Luận sau việc của Lí

Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu.

Xem đáp án

- Nhà văn muốn nói:

a. Xã hội phức tạp, có khả năng làm tha hóa con người, con người cá nhân đòi hỏi được đề cao, vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm với cuộc sống, với người thân của mình

b. Con người thông minh, đần độn đều chịu nhiều tác động của xã hội khiến cuộc sống phải đối mặt với biến động, thất bại nên cần được tha thứ, đỡ nâng, dắt dìu

- Bức thông điệp: Học sinh tự đúc rút (cần sát với nội dung của văn bản: cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm…)

26. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ.

Xem đáp án

Trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tạo nên nhiều giá trị bền vững, trong đó có lòng yêu nước. Lòng yêu nước Việt Nam mang khí phách, tâm hồn dân tộc yêu nước là một truyền thống dân tộc VN gắn với niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người con Việt.

Lòng yêu nước được hiểu là tình cảm, tình yêu, sự gắn bó sâu sắc của chúng ta đối với đất nước, quê hương. Cùng với đó là ý thức, trách nhiệm xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu mạnh, phát triển

Lòng yêu nước xưa nay được thể hiện rất đa dạng, phong phú. Ấy là tinh thần, ý chí quyết tâm giữ vững, bảo vệ độc lập chủ quyền của tổ quốc, là tinh thần cầu tiến, mong muốn phát triển đất nước, đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Lòng yêu nước còn được thể hiện ở tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương nơi mình sinh ra và lớn lên. Tình yêu đất nước còn nằm ở lòng tự tôn dân tộc, tự hào vì là dân tộc Việt Nam, mang trong mình dòng máu con người Việt Nam.

Là một giá trị cốt lõi của dân tộc, lòng yêu nước mang trên mình nhiều ý nghĩa. Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm lịch sử gắn liền với những cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng cuối cùng ta đã mang đến những chiến thắng hiển hách. Những chiến công oanh liệt ấy có được một phần quan trọng chính là lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc, từ đó trở thành sức mạnh cùng nhau đồng lòng, tạo nên cội nguồn sức mạnh dân tộc to lớn. Bên cạnh đó, xét về bên trong tâm hồn, lòng yêu nước chính là bệ đỡ tinh thần cho con người, là nguồn cảm hứng giúp chúng ta luôn nghĩ về nguồn cội, là động lực to lớn giúp chúng ta phấn đấu, sống có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.

Lòng yêu nước xuyên suốt trong mọi thời đại lịch sử và cho đến ngày nay vẫn vậy, tuy nhiên, bởi sự thay đổi của thời cuộc, quan niệm yêu nước của tuổi trẻ ngày nay có nhiều sự kế thừa và thay đổi so với quan niệm yêu nước truyền thống.

Trong thời kì chiến tranh loạn lạc, lòng yêu nước được thể hiện bằng cách đứng lên cầm súng đánh giặc giành lại hòa bình, độc lập, họ không ngại khó, ngại khổ họ chỉ quyết tâm giữ vững nền độc lập cho dân tộc, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng của mình.

Trong thời bình, thế trẻ ngày này thể hiện lòng yêu nước qua nhiều hành động khác nhau. Tình yêu ấy được thể hiện  bằng việc hướng tới việc xây dựng đất nước, quê hương phát triển. Mỗi bạn trẻ đều tích cực học tập, rèn luyện để tương lai đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Lòng yêu nước còn được thể hiện qua việc tôn trọng các giá trị xã hội, từ tình yêu chuyển thành những hành động thiết thực như: tích cực tham gia các hoạt động xã hôi, hoạt động tình nguyện, các chiến dịch cộng đồng, ra sức chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên đất nước, góp sức chung tay giúp đỡ đồng bào, xây dựng tình thương mến giữa con người trong cùng đất nước.

Dẫu khác nhau là vậy, nhưng dù ở thời đại nào, lòng yêu nước luôn được coi trọng. Từ thời chiến cho đến thời bình, lòng yêu nước thể hiện mạnh mẽ nhất qua lòng tự tôn dân tộc. Đó chính là niềm tự hào dân tộc, biết gìn giữ nâng cao các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc, là ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của đất nước, là khát vọng đất nước Việt Nam ngày càng thịnh vượng.

Thế hệ trẻ hôm nay cần kế thừa và phát huy lòng yêu nước truyền thống thông qua việc không ngừng học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức.Nghiêm túc thực thi các chính sách pháp luật của nhà nước. Tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng nhằm gia tăng tình đoàn kết, góp sức chung tay xây dựng đất nước ngày một tốt đẹp.

Lòng yêu nước là một giá trị tinh thần cốt lõi, xuyên suốt nhiều thế hệ, đặc biệt đối với thế hệ trẻ ngày nay, khi mà tình yêu đất nước được biểu hiện vô cùng phong phú. Là một phần của thế hệ trẻ, em cảm thấy tự hào trước tình yêu nước được gìn giữ, phát huy và trân trọng như vậy. Bản thân em cũng sẽ góp sức, chung tay cùng thế hệ trẻ phát huy tình yêu đất nước, lấy tình yêu ấy làm động lực để dựng xây Tổ quốc.

27. Tự luận
• 1 điểm

Viết thư trao đổi công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm.

Xem đáp án

SỞ GD & ĐT HÀ NỘI

TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THƯ NGỎ

Kính gửi: Quý Phụ huynh trường THPT Chu Văn An

Lời đầu tiên, cho phép tôi được thay mặt BGH Nhà trường gửi đến toàn thể

Quý Phụ huynh lời chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất.

Trước thời điểm các em học sinh chuẩn bị tốt nghiệp, Nhà trường cần trao đổi với phụ huynh một số vấn đề về việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh. Chọn nghề là điều quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi người, đây chính là bước khởi đầu cho tương lai. Để tồn tại và để tự khẳng định mình trong cuộc sống, mỗi người cần lựa chọn cho mình một nghề nghiệp nhất định.

Đứng trước ngưỡng cửa với vô vàn sự lựa chọn đã tạo nên không ít khó khăn cho các vị phụ huynh và con em học sinh. Để giải quyết vấn đề đó, các bậc phụ huynh và học sinh cần quan tâm đến học lực, năng khiếu và sở thích ngành nghề của con em. Bởi lẽ, thế mạnh và sở thích là hai yếu tố song hành cùng nhau khi bước vào con đường lựa chọn ngành nghề. Đặc biệt, kính mong các vị phụ huynh luôn tôn trọng lựa chọn của con em, luôn đồng hành, động viên các em trong quá trình chọn nghề và tìm nghề.

Định hướng nghề nghiệp là vô cùng quan trọng.Việc lựa chọn định hướng phù hợp với sở thích cá nhân về ngành nghề sẽ là động lực tốt cho việc học, tạo được sự đam mê trong học tập.

Trước tình hình này, Nhà trường sẽ thường xuyên tổ chức các buổi hướng nghiệp nhằm giúp học sinh hiểu rõ bản thân, sở thích, đam mê, năng lực, và cung cấp thông tin về ngành nghề dự định cũng như tình hình thị trường lao động và xu hướng việc làm.

Nhà trường rất mong nhận được sự hỗ trợ và hợp tác từ phía Phụ huynh để thuận lợi hơn trong việc định hướng nghề nghiệp cho con em học sinh.  

Kính chúc Quý Phụ huynh và các em học sinh hạnh phúc và mạnh khỏe !

Trân trọng.

Hiệu trưởng

Nguyễn Văn A