Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
48 câu hỏi
ĐI ĐƯỜNG (*)
(Tẩu lộ - Hồ Chí Minh)
Phiên âm:
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.
Dịch nghĩa:
Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.
Dịch thơ:
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, NXB trẻ, 2020)
(*) Tác phẩm được rút ra từ tập Nhật kí trong tù (1942 – 1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày bị giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ đã bị áp giải qua nhiều nhà lao. Và cuộc hành trình chuyển giao đầy gian nan được Hồ Chí Minh khắc họa chân thực qua bài thơ Đi đường (Tẩu Lộ).
Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào:
Bản phiên âm.
Bản dịch nghĩa.
Bản dịch thơ
Bản gốc tiếng Hán
Bài thơ diễn tả cảm xúc của ai? Ở thời điểm nào?
Của Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.
Của thi sĩ yêu thiên nhiên, trên đường luyện tập.
Của thi sĩ yêu thiên nhiên, đang ngắm cảnh.
Của chiến sĩ trên hành trình cách mạng.
Xác định ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ?
Nhịp 2/2/4
Nhịp 2/4/2
Nhịp 4/4.
Nhịp phá cách.
Cách gieo vần nào được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ
Vần lưng.
Vần cách.
Vần liền.
Linh hoạt, đa dạng.
Câu thơ nào dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa
Đi đường mới biết gian lao.
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
Núi cao lên đến tận cùng.
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Dòng thứ nhất
Dòng thứ hai.
Dòng thứ ba.
Dòng thứ tư.
Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về điều gì?
Những chặng đường dài cứ nối tiếp nhau, không thấy đích đến
Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.
Chỉ có người đã đi đường dài mới thấu hiểu những khó khăn, gian khổ
Sẽ gặp khó khăn chồng chất trên đường dài
Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ
Có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ
Kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả
Gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh
Cảm xúc ở câu thơ đầu và câu thơ cuối khác nhau như thế nào? Hãy phân tích sự vận động mạch cảm xúc của bài thơ.
- Câu thơ đầu: Đi đường mới biết gian lao gợi lên hình ảnh người đi đường đối mặt với khó khăn thử thách và đã rút ra quy luật, nhận định thấm thía sâu sắc. trải qua thực tiễn mới thấu hiểu khó khăn → cảm xúc dường như được nén chặt giấu kín,...
- Câu cuối: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non - với nhịp thơ 4/4 và không gian rộng mở, hình ảnh thơ tươi sáng chở theo dòng cảm xúc tự do sảng khoái từ dáng vẻ hiên ngang, ngạo nghễ của người vượt qua khó khăn thử thách để dạo chơi nhàn tản giữa non nước mây trời.
- Mạch cảm xúc của bài thơ vận động từ: từ nén chặt, giấu kín,... dần mở ra theo hành trình chinh phục con đường,... Câu thơ thứ 3 dường như là một sự reo vui khi đã vượt qua được hàng ngàn núi để lên được tới đỉnh núi cao nhất, tận cùng nhất. Khi lên đến đỉnh núi cao rồi, cũng là lúc con người ta có thể phóng tầm mắt bao quát và chiếm lĩnh cả một khoảng không bao la, như làm chủ vũ trụ, đất trời tự do, tự tại.
Em rút ra bài học nào cho bản thân từ bài thơ Đi đường của tác giả Hồ Chí Minh?
- HS tự trả lời theo nhận thức của cá nhân
- Gợi ý: Bám sát nội dung của câu thơ thứ nhất và kết quả mà nhân vật trữ tình có được ở câu thơ cuối để hiểu về điều kiện con người được hưởng cảm xúc tự do, tự tại… Hành trình đi đường của nhân vật trữ tình sẽ là bài học quý cho bạn đọc.
Đầu canh hai, trăng từ từ mọc lên bên kia dải rừng, to như một cái nong. Tôi mở mắt ra, sờ tay thấy sương thấm ướt khắp người. Trong lớp sương đục nhờ nhờ, vầng trăng đỏ như một cái lòng đỏ trứng khổng lồ. Càng lên cao, trăng càng bé lại. Nhìn qua be xuồng, thấy nước gợn lăn tăn... Tôi vừa thiu thiu chợp mắt lại, bỗng nghe thằng Cò vụt nhổm dậy:
- Dậy mau! Dậy mau? Dính một con rồi
- Tao vừa thức đây mà. Có thấy cái quái gì đâu
- Mày biết cái con khỉ gì? - Nó quát tôi.
Tôi lập tức đánh diêm thắp ngọn đèn soi. Tay tôi run quá, tim cứ đập thình thình. Thằng Cò ấn cây giầm vào tay tôi, ra hiệu cho tôi chống xuồng tới. Nó cầm cái mác trong tay, một tay đưa đèn lên soi phía trước. Ồ, kia rồi?
Tàu lá dừa nước bị ai kéo cứ dập lên dập xuống, làm nước bắn tung tóe. Tiếng dây câu nghiến kìn kịt trong tiếng lá dập xuống nước nghe kinh quá. Tôi kêu oái một tiếng, đứng chết sững. Một con rắn rằn ri cóc to cỡ bắp chân người lớn đang vung vẩy uốn mình lên quấn lấy chùm dây câu. Cái miệng nó há ra, đầy răng chơm chởm. chỗ ngạch lưỡi câu mắc bên mép, máu chảy giọt giọt xuống nước. Mỗi lần con rắn vặn mình cố siết cho đứt chùm dây câu, da nó nở ra, vồng lên như gai mít. Thằng Cò buông mác, thò tay nắm đuôi con rắn. Con rắn tháo ra, quấn một khúc vào tay thằng Cò. Thằng Cò chộp ngang lưng con rắn, bàn tay nó bé quá tuột ra vì không nắm hết. Con rắn càng gồng mình siết chặt cổ tay thằng Cò. Mồ hôi tươm ra ướt trán, chảy ròng ròng xuống má, nó bậm môi, cứ mặc thế, ngửa người ra sau lôi nguyên con rắn mắc câu vào xuồng.
- Coi chừng nó cắn chết à, Cò - Tôi thè lưỡi nhích ra xa.
Cắn quái gì nữa! Mà thứ rắn này cắn cũng như chó cắn thôi. Đưa miệng giỏ lại đây, mau mau đi. Tôi kê miệng giỏ hứng con rắn. Thằng Cò ghé răng cắn chót đuôi con rắn một cái, con rắn đau quá vội tháo khỏi cổ tay thằng Cò, tuột gọn vào lòng giỏ. Thằng cò một tay đậy nắp, một tay chụp cái mác chặt hai đầu sống lá. Cả khúc sống lá chùm dây câu và con rắn đảo lộn, quẫy soạn soạt trong giỏ.
- Hì.. hi... Da con này lột ra phơi, bán bộn tiền. Mai chúng mình bảo má nấu nồi ca-ri ăn chơi?
Con rắn to nhưng cái đầu nó chỉ bé bằng quả bàng thôi. Hai con mắt đục lừ lừ nhìn ngọn đèn soi. Thằng Cò hé nắp giỏ chộp cổ con rắn tháo lưỡi câu ra, lôi khúc sống lá dính chùm dây câu ra khỏi giỏ rồi thong thả đậy nắp, gài chốt lại.
- Để tao thử con rắn cho mày coi - nói xong nó thọc một ngón tay vào mắt giỏ gãi gãi lên lưng con rắn. Khi con rắn quay ngoắt lại toan mổ vào ngón tay thì thằng Cò đã rụt ngón tay ra rồi.
- Cu cậu bị ớt cay, sưng cả miệng đấy, mày thấy không? Vậy, mình mới dễ bẻ răng. Mà nó cũng chẳng cắn mổ gì được nữa...
Tàu lá đằng kia rung lên sàn sạt. Thằng Cò reo lên:
- Sướng rồi? Dính một con nữa rồi!
Tôi chụm chân nhẩy đồm độp trên xuồng, làm chiếc xuồng nghiêng qua lắc lại tí nữa là chìm.
- Ấy là nhờ mình buộc chùm dây câu vào sống lá, phải không Cò? Chứ đến cần câu to bằng cật tre đi nữa thì nó nhổ lên và lôi đi tuột, mày nhỉ!
Con này của mày đó, An nhá? Của mày buộc câu mà.
- Ừ tao làm cũng được, khó gì mấy. Nhưng mà... con này mày cứ bắt nữa đi, Cò ạ. Để tao xem mày bắt vài trận nữa đã. Chừng có con khác mắc câu, tao bắt thử cho mày coi, có được không?
Tàu lá đang bị kéo ghì xuống nước bỗng bật tung trở lên.
Thôi chết cha tôi rồi, An ơi! Mày buộc làm sao mà nó mới kéo có mấy cái đã tuột luốc rồi!
Tôi không biết nói ra sao, tay buông giầm rơi xuống xuồng cái độp, nhìn theo những giọt nước từ trên tàu lá đổ xuống ròng ròng, tiếc ngẩn tiếc ngơ.
(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, 2012)
Ngôi kể trong đoạn văn bản trên: Ngôi thứ nhất.
Liệt kê những hành động của Cò khi bắt rắn.
Những hành động của Cò khi bắt rắn: thò tay nắm đuôi con rắn; chộp ngang lưng con rắn; ngửa người ra sau lôi nguyên con rắn mắc câu vào xuồng; ghé răng cắn chót đuôi con rắn một cái.
Cuộc trải nghiệm của hai bạn nhỏ giúp anh/chị hiểu gì về Đất rừng phương Nam?
- Trải nghiệm của hai bạn nhỏ: Đi bắt rắn.
- Đi bắt rắn gợi ra một trải nghiệm sông nước có phần mạo hiểm với người lần đầu như An nhưng cũng đầy thôi thúc.
- Chính trải nghiệm trên đã giúp người đọc hiểu thêm về Đất rừng phương Nam - một vùng đất còn hoang sơ với bao điều hấp dẫn, mới lạ, đánh thức bao khao khát khám phá trong mỗi người,...
Cách tác giả chọn nhân vật để đặt điểm nhìn có tác dụng gì?
- Nhà văn đặt điểm nhìn vào nhân vật An:
+ An là một nhân vật trong truyện chứng kiến toàn bộ câu chuyện và kể lại.
+ Nhân vật An lần đầu trải nghiệm, được chứng kiến sự thuần thục của Cò khi đi bắt rắn.
- Tác dụng:
+ Tăng tính sinh động, cuốn hút, tự nhiên, khách quan, chân thật cho câu chuyện.
+ Điểm nhìn thể hiện cái bỡ ngỡ nhưng cũng đầy những háo hức, tò mò, thích thú, say mê và ngưỡng mộ của nhân vật về một vùng đất còn hoang sơ, đầy mới mẻ, khơi gợi những khám phá, phát hiện của con người,...
Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý nghĩa của sự trải nghiệm?
- Trải nghiệm đem lại hiểu biết và kinh nghiệm thực tế; giúp chúng ta mau chóng trưởng thành về cách nghĩ, cách sống, bồi đắp tình cảm, tâm hồn, giúp mỗi người gắn bó và góp phần cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
- Trải nghiệm giúp mỗi người khám phá chính mình để có những lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho tương lai.
- Trải nghiệm giúp mỗi người dấn thân, thử nghiệm để sáng tạo; biết cách vượt qua những trở ngại khó khăn, tôi luyện bản lĩnh, ý chí để thành công.
- Trải nghiệm góp phần làm cho cuộc sống của mỗi người thêm giàu có, phong phú, có ích,...
Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con.
Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào
Một lúc lâu, người đàn bà tươi cười bảo vợ chồng Năm:
- Đã khuya rồi, xin rước ông đi ngủ với nhà cháu, còn bà thì nằm giường trong buồng nghỉ cho đỡ mệt.
Người đàn ông nói tiếp:
- Thật may mắn, nhà cháu vừa mua được cặp chiếu đậu, lại vừa mới giặt chiều qua
Bính cảm ơn, đoạn đến bên cạnh giường kê gần cửa sổ nằm. Bính chợp ngủ đi. Chợt tiếng gà gáy trong mấy xóm rải rác đằng xa vẳng lên. Bính đương mơ màng tỉnh ngay giấc. Rồi thì Bính không sao ngủ được nữa, khi tiếng gà gáy im bặt, những nhịp thở đều đều không biết của người vợ hay người chồng, hay đứa con thơ ở giường ngoài buồng đưa lại, như rót vào tai Bính. Giữa khoảng đêm mưa gió ào ào, hơi thở ngon lành kia lại gợi lên trong lòng Bính ngùn ngụt sự thèm thuồng khao khát một cuộc đời trong sạch êm đềm dù nghèo nàn.
Nhưng Bính đau tủi biết bao thấy rằng cái ước mong đó không thể nào có được, Bính chỉ có thể gặp cái đêm như đêm nay, một đêm trong cái đời nguy nan điêu đứng dừng bước trong một gia đình ấm cúng nào đấy, để mà tiếc, mà khát khao và xót xa thôi.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học, 2021)
Xác định loại điểm nhìn trong đoạn văn:
“Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con.
Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào”
Loại điểm nhìn trong đoạn văn:
“Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con.
Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào”
=> Điểm nhìn của nhân vật Bính/ Điểm nhìn bên trong.
Bính cảm nhận về số phận của mình như thế nào khi “thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai”?
Cảm nhận của Bính về số phận của mình: mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào.
Chi tiết “Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con” có ý nghĩa như thế nào với Tám Bính?
Chi tiết “Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con” thể hiện sự vô tư, ngây thơ, trong sáng của một đứa trẻ, có ý nghĩa:
- Khơi dậy quá khứ với nỗi đau bán con, mất con trong Tám Bính.
- Đánh thức những khao khát trong Tám Bính về một cuộc sống giản dị, bình yên,...
Anh/Chị hiểu như thế nào về những khao khát của Tám Bính qua văn bản?
Những khao khát của Tám Bính qua văn bản có thể hiểu:
- Đây là khao khát của một con người đã từng sống đời Bỉ vỏ đầy những lọc lừa, dối trá, điêu ngoa.
- Khao khát ấy đến vào khoảnh khắc nhân vật rơi vào tình trạng bị truy đuổi nguy nan điêu đứng.
- Khao khát ấy được đánh thức khi Tám Bính tá túc tại gia đình một người dân lương thiện; nhìn cảnh hạnh phúc của họ, Tám Bính chạnh lòng nghĩ về cuộc đời mình và khao khát được sống bình yên.
- Những khao khát của Tám Bính qua đoạn văn bản có ý nghĩa khẳng định: Dù có sa vào cuộc sống xấu xa thì nhân vật vẫn không mất đi những mong muốn đẹp đẽ về cuộc sống lương thiện, về hạnh phúc gia đình có vợ, có chồng, có con cái. Đây là những khao khát chính đáng của bất kì người phụ nữ nào, nó giản dị nhưng ý nghĩa, chỉ có điều Tám Bính sẽ không bao giờ có được và bản thân cô cũng đau xót hiểu được sự bất lực, bế tắc của chính mình.
Anh/Chị có đồng ý với ý kiến cho rằng: Cuộc sống có ý nghĩa khi chúng ta có khát vọng không? Vì sao?
- HS bày tỏ quan điểm: Đồng ý/không đồng ý/đồng ý một phần với quan điểm
- HS lí giải hợp lí, thuyết phục, chẳng hạn:
* Em đồng ý với ý kiến cho rằng: Cuộc sống có ý nghĩa khi chúng ta có khát vọng, vì:
- Khát vọng là biểu hiện tích cực của tâm lý con người, thể hiện giá trị cao đẹp của con người.
- Những người có khát vọng sống có trái tim say mê, luôn sống hết mình để giúp đỡ mọi người và nhận thức được lợi hại trong cuộc sống.
- Khát vọng thúc đẩy con người nỗ lực và tỉnh táo tránh được những rủi ro không đáng có.
- Khát vọng mang đến sự lạc quan nhất định và hướng đến những điều tốt đẹp nhất cho nhân loại, dù có thực hiện được hay không.
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay...
(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)
Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên.
Đoạn thơ sử dụng các phương thức biểu đạt là: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
Cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông qua câu thơ: Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì.
Câu thơ gợi tả một sông Đuống duyên dáng trữ tình như dáng hình gợi cảm, tràn đầy sức thanh xuân của người thiếu nữ Kinh Bắc. Đồng thời gợi lên vẻ đẹp của một sông Đuống trầm mình trong dòng chảy của thời gian lịch sử...
Sông Đuống ngày xưa là miền quê yên ả, thanh bình, trù phú... Sông Đuống hôm nay là ranh giới chia lìa giữa quá khứ và hiện tại, giữa bình yên và chiến tranh. Sông Đuống là niềm hướng vọng đau đáu thiết tha trong tâm khảm đứa con xa quê... Sông Đuống gợi thức niềm yêu tha thiết và nỗi đau quặn thắt...
Vì sao những dòng thơ viết về quê hương lại mở đầu bằng lời tâm tình với nhân vật "em"?
"Em" là một nhân vật phiếm chỉ, một thủ pháp trữ tình để nhà thơ tâm sự sẻ chia. Đó một nhân vật vừa hữu hình vừa vô hình để lắng nghe dòng cảm xúc miên man bất tận ngân lên từ cõi lòng thi sĩ.
NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ THĂNG HOA CÙNG THỜI GIAN
TTXVN - Năm 2023 đánh dấu chặng đường 20 năm Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Suốt chặng đường đó, chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cùng những người làm công tác văn hóa, đặc biệt là các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc công Nhã nhạc cung đình Huế đã không ngừng nghỉ bảo tồn, phát huy di sản.
Chặng đường di sản

Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Di sản Cố đô, Ký ức và Trao truyền”.
(Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN)
Khác với ca trù phát sinh từ dân gian rồi vào cung đình, Nhã nhạc có quá trình hình thành, lan tỏa trái ngược và được UNESCO đánh giá là loại hình âm nhạc duy nhất đạt tới tầm vóc quốc gia trong các thể loại nhạc cổ truyền.
Nhã nhạc cung đình xuất hiện vào những năm đầu của triều Lý (1010 - 1225). Tuy nhiên, phải đến thời Nguyễn (1802 - 1945), loại hình âm nhạc này mới thực sự phát triển rực rỡ. Âm nhạc của Nhã nhạc cung đình tao nhã, thiêng liêng thường dùng trình diễn trong các dịp đại lễ trang nghiêm của triều đình, cúng tế thần linh và không thể thiếu dưới triều đại bấy giờ. Từ đây, Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúng chuẩn, bài bản với hàng trăm nhạc chương. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung vào năm 1945, Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.
Từ năm 1992, công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến. Năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể tại Thừa Thiên - Huế. Tại đây, một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã nhạc cung đình Huế được đệ trình UNESCO. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa và Thông tin cùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế - Nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của thế giới.
Giáo sư Trần Văn Khê là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (âm nhạc cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Không chỉ góp phần hoàn thiện bộ hồ sơ đệ trình, sinh thời, giáo sư còn ghi dấu khi trực tiếp giới thiệu, chơi nhạc cụ truyền thống trước các bạn bè quốc tế.
Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ năm 2008 gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Từ đây, Việt Nam có chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị loại hình âm nhạc này.
(https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/nha-nhac-cung-dinh-hue-thang-hoa-cung-thoi-gian/20037.html)
Theo tác giả, ai là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế đệ trình UNESCO?
Người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế đệ trình UNESCO: Giáo sư Trần Văn Khê.
Xác định kiểu văn bản và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
- Kiểu loại văn bản: Văn bản thông tin
- Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh
Chỉ ra và nêu tác dụng của các yếu tố hình thức trong văn bản trên.
- Nhan đề: Nhã nhạc cung đình Huế thăng hoa cùng thời gian
+ Góp làm nổi bật nội dung chính, giúp người đọc có cơ sở định hướng, tiếp nhận nội dung của VB
- Hình ảnh: Biểu diễn Nhã nhạc cung đình
+ Minh hoạ trực quan
+ Làm cho thông tin của VB trở nên cụ thể, rõ ràng, sinh động, dễ hiểu, dễ hình dung hơn với người đọc
- Chú thích bên dưới hình ảnh: Biểu diễn Nhã nhạc cung đình tại nhà hát Duyệt Thị Đường, Đại Nội Huế. Ảnh: Tường Vi/TTXVN
+ Bổ sung thông tin cho hình ảnh.
Xác định cách trình bày dữ liệu, thông tin của văn bản. Chỉ ra hiệu quả của cách trình bày ấy.
- Dữ liệu, thông tin của văn bản được trình bày theo trình tự thời gian:
+ 1010 - 1225: Nhã nhạc cung đình Huế xuất hiện
+ 1802 - 1945: Nhã nhạc cung đình Huế phát triển rực rỡ
+ 1945: Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.
+ 1992: Công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến.
+ 1994: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế đệ trình UNESCO.
+ 7/11/2003, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
+ 2008: Nhã nhạc cung đình Huế được gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- Hiệu quả: Làm rõ được quá trình hình thành, phát triển và trở thành Di sản văn hóa của Nhã nhạc cung đình Huế. Tăng tính khách quan, tin cậy cho văn bản.
Em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Nhã nhạc cung đình Huế trước bối cảnh văn hóa hội nhập. Đề xuất hai giải pháp cụ thể góp phần bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa này.
- Học sinh trình bày quan điểm cá nhân
- Đề xuất hai giải pháp
+ Đẩy mạnh công tác truyền thông: qua sách, báo, mạng xã hội....
+ Có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các nghệ nhân nhằm khuyến khích việc truyền nghề lại cho các thế hệ kế tiếp.
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở trung tâm Trung Trung Bộ của Việt Nam, phía Tây Nam sông Gianh; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa; phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Vườn Quốc gia có chung ranh giới với Khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Hình ảnh: Động Phong Nha (Phong Nha- Kẻ Bàng)
Dãy núi đá vôi Kẻ Bàng là hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới. Đó là kết quả tiến hóa tự nhiên cách đây gần 400 triệu năm. Quá trình tạo sơn phức tạp đã tạo cho Phong Nha - Kẻ Bàng địa thế hiểm trở, ẩn chứa một quần thể hang động kì vĩ, những tượng thạch nhũ đẹp nhất và những dòng sông tối ngầm dài nhất thế giới. […]
Hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng thuộc loại cổ nhất Đông Nam Á, được hình thành do các đứt gãy kiến tạo trong kỷ Đệ Tam (35 triệu năm), đồng thời với pha tách giãn hình thành Biển Đông. Hệ thống hang động ở đây được phát triển trên một khối đá vôi lớn nhất Đông Nam Á, từ kỷ Devon muộn (377 triệu năm) đến kỷ Permi (250 triệu năm). Bao quanh khối đá vôi là các tầng địa hình phi carbonat, là điều kiện thu nước tốt cho khối đá vôi hình thành hang động, đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trong khu vực. Có 2 hệ thống hang chính: hang Phong Nha, với tổng chiều dài 5.076m; hang Vòm, với tổng chiều dài 36.063m, hầu hết còn mang tính nguyên sơ.
[...] Phong Nha-Kẻ Bàng chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, sông suối, hang động và các hệ sinh thái thứ sinh.
Phong Nha-Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên Trái đất, đó là rừng nhiệt đới thường xanh, chủ yếu là cây lá kim, dưới tán là các loài “lan hài vệ nữ”, phân bố trên núi đá vôi, ở độ cao hơn 700m - 1000m và có 15 kiểu rừng, đặc biệt là kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi, có tầm quan trọng quốc tế. Những giá trị nổi bật trong quá trình phát triển về địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và giúp Phong Nha - Kẻ Bàng trở thành một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới. Phong Nha và Kẻ Bàng được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế đánh giá là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam.
Đến nay, đã xác định sự có mặt của 2.651 loài thực vật bậc cao có mạch, 735 loài động vật có xương sống, 369 loài côn trùng trong khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Trong đó, 116 loài thực vật và 129 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Có tới 28 loài động, thực vật có giá trị kinh tế và khoa học cao đang bị đe dọa nguy cấp ở mức toàn cầu, như voọc Hà Tĩnh, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, hổ, sao la, sóc bay đen trắng, chó sói, gà lôi, rùa...
Sự đa dạng sinh cảnh ở đây là điều kiện lý tưởng cho 9/21 loài linh trưởng (chiếm 43% của Việt Nam) sinh sống. Có 3 loài linh trưởng đặc hữu của dãy Trường Sơn là voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu, vượn bạc má. Khu hệ dơi với 46 loài (chiếm 43% tổng số loài của Việt Nam) ở đây, được xem là đa dạng nhất cả nước, đồng thời là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi.
[…] Tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. […]
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một di tích và danh thắng hội tụ được nhiều giá trị nổi bật. Chính những giá trị này đã mang lại cho Phong Nha - Kẻ Bàng một sự hấp dẫn đặc biệt riêng. […]
(Theo Hoàng Phúc, Hồ sơ xếp hạng di tích, tư liệu Cục Di sản văn hóa)
Xác định mục đích và quan điểm của người viết.
- Mục đích: Giới thiệu, cung cấp thông tin về những đặc điểm quan trọng, nổi bật của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, một di sản thiên nhiên thế giới hội tụ nhiều giá trị nổi bật, từ đó tác động đến nhận thức của người đọc về đối tượng được đề cập đến.
- Quan điểm: Phản ánh khách quan, chuẩn xác về những đặc điểm quan trọng, nổi bật của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng , đồng thời thể hiện niềm tự hào, trân trọng, gìn giữ di sản thiên nhiên động Phong Nha.
Chỉ ra từ được viết tắt cho một tổ chức quốc tế quan trọng trong văn bản, và cho biết người viết đã dùng tên viết tắt của tổ chức quốc tế nào?
- Từ được viết tắt cho một tổ chức quốc tế quan trọng là: UNESCO
- UNESCO là tên viết tắt của tổ chức quốc tế: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
Nhận xét về vai trò của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản?
+ Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh
Tác dụng: góp phần thể hiện rõ nội dung chính, giúp người đọc có cái nhìn cụ thể và trực quan, sinh động hơn về vẻ đẹp hoang sơ của động Phong Nha.
Phân tích tác dụng của cách trình bày thông tin văn bản trong phần văn bản sau: “Phong Nha-Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên trái đất... là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi”?
- Phần văn bản sau: “Phong Nha - Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên trái đất... là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi”, người viết đã dùng trình bày thông tin theo cách phân loại đối tượng.
- Văn bản trình bày đặc kiểu rừng độc nhất trên Trái đất điểm của Phong Nha - Kẻ Bàng đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học trên hai khía cạnh chính là:
+ Về hệ thực vật, về động vật nói chung (tổng số loài, loài có giá trị) của rừng
+ Về những loài linh trưởng, linh trưởng đặc hữu của rừng
-> Tác dụng:
+ Giúp người đọc hình dung về tổng thể, vừa cung cấp những thông tin chi tiết cụ thể về sự đa dạng sinh học của đặc kiểu rừng độc nhất trên Trái đất ở Phong Nha - Kẻ Bàng
+ Điều đó làm cho thông tin cơ bản của phần VB (giá trị và đặc điểm độc đáo của Vườn quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng ) được trình bày đầy đủ, thuyết phục.
+ Em ý thức sâu sắc được những thái độ ứng xử cần có của con người với thiên nhiên: biết tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ, sống hòa hợp với thiên nhiên.
+ Chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ sự đa dạng sinh học của các khu rừng vì đó là tài sản quốc gia.
+ Nhìn ra thiên nhiên, ta nhận ra sự kỳ diệu của cuộc sống và sức sống mãnh liệt của mọi hình thức tồn tại.
+ Con người là một phần của thiên nhiên, và sự chăm sóc và bảo vệ môi trường là cách chúng ta bảo vệ chính bản thân mình.
NHỮNG NGÔI SAO HÌNH QUANG GÁNH
Họ gánh về cho tôi mùa ổi mùa xoài mùa mận
Mùa sen mùa cốm trên vai
Cả nắng ban mai cả hoàng hôn tím
Ngày đi rưng rưng đôi dép lê
[...] Họ gánh về cổng tôi bao mùa trinh nguyên, những mùa
tôi sẽ quên nếu thiếu họ
Hương nhãn Hưng Yên vừa vào mùa, sen Tây Hồ vừa nở,
cốm làng Vòng vừa trăn trở những hạt xanh
Họ gánh tặng tôi ngọn gió mát lành đồng quê
Nơi mẹ và con và chồng họ đứng chờ
Nơi những cơn mơ
Vùng vằng khát
Tôi văng vẳng nghe họ hát
“Khó thời đòn gánh đè vai
Lần hồi nuôi mẹ mặc ai chê cười [1]”
Những ngôi sao của tôi
Gánh trên vai mình hẩm hiu số phận
Vô danh giữa đời thường
Dẫu đôi lúc đặt vào mắt tôi bao tia nhìn mang hình dấu hỏi.
(Trích Những ngôi sao hình quang gánh, Nguyễn Phan Quế Mai, NXB Hội nhà văn, 2011, tr.18)
Chú thích: Nguyễn Phan Quế Mai (1973), quê Ninh Bình. Các sáng tác của Nguyễn Phan Quế Mai đóng vai trò là cầu nối văn chương Việt Nam và thế giới, tiếng nói cho hòa bình, bình đẳng.
- Bài thơ Những ngôi sao hình quang gánh đạt giải nhất cuộc thi viết về Hà Nội.
- Chủ thể trữ tình trực tiếp qua đại từ nhân xưng “Tôi”
Hình ảnh “những ngôi sao” ở khổ thơ cuối để chỉ ai? Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản trên.
- Hình ảnh “những ngôi sao” ở khổ thơ cuối: chỉ những người bán hàng rong.
- Cảm hứng chủ đạo: Sự đồng cảm, biết ơn của tác giả đối với thân phận của những người gánh hàng rong.
Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong khổ thơ sau:
Họ gánh về cổng tôi bao mùa trinh nguyên, những mùa
tôi sẽ quên nếu thiếu họ
Hương nhãn Hưng Yên vừa vào mùa, sen Tây Hồ vừa nở,
cốm làng Vòng vừa trăn trở những hạt xanh
- Biện pháp tu từ liệt kê: Hương nhãn Hưng Yên, sen Tây Hồ, cốm làng Vòng. Tác dụng: Diễn tả đầy đủ/ tạo nên sự phong phú, đa dạng về những thức quà mang hương vị quê hương trên đôi quang gánh. Tạo ấn tượng mạnh về hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.
- Điệp từ “họ”: Nhấn mạnh sự trân trọng, biết ơn của tác giả dành cho những người gánh hàng rong. Tạo sự liên kết hài hòa, nhịp nhàng.
Nhận xét về cấu tứ của bài thơ (thể hiện qua cách triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong bài thơ).
- Cách triển khai mạch cảm xúc: Từ sự biết ơn, trân trọng những thức quà trên đôi quang gánh đến sự đồng cảm, thấu hiểu, suy tư, trăn trở về cuộc sống mưu sinh vất vả của những người gánh hàng rong.
- Cách tổ chức hình tượng trong bài thơ: Đi từ hình tượng đôi quang gánh với những thức quà bình dị, mang hương vị quê hương “ổi, xoài, mận, cốm, nắng ban mai, hoàng hôn tím, nhãn Hưng Yên, sen Tây Hồ, đồng quê...” đến hình tượng “những ngôi sao” - biểu tưởng cho cái đẹp của những số phận vô danh.
Từ nội dung văn bản, em có suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự cảm thông, thấu hiểu trong cuộc sống? (Trả lời khoảng 5 - 7 dòng)
- Gợi ý: Sự đồng cảm, thấu hiểu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống.
+ Khi biết đồng cảm, thấu hiểu ta sẽ biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác từ đó giúp con người biết yêu thương và sống trách nhiệm với cộng đồng.
+ Giúp những người có hoàn cảnh khó khăn có thêm sức mạnh, niềm tin trong cuộc sống.
+ Tạo nên sự gắn kết giữa người và người, giúp xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân văn hơn.
[ ... ] Đường tít tắp, không gian như bể Anh chờ em cho em vịn bàn tay Trong tay anh, tay của em đây Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ Trời mưa lạnh tay em khép cửa Em phơi mền vá áo cho anh Tay cắm hoa, tay để treo tranh Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc | Tay em dừng trên vầng trán lo âu Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ Lấy thời gian đan thành áo mong chờ Lấy thời gian em viết những dòng thơ Để thấy được chúng mình không cách trở ...
Bàn tay em, gia tài bé nhỏ Em trao anh cùng với cuộc đời em. (Trích Bàn tay em, Xuân Quỳnh, Tinh hoa thơ Việt, NXB Hội nhà văn, 2012, tr.253) |
Số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau là dấu hiệu của thể thơ tự do.
Liệt kê những công việc thường nhật của nhân vật trữ tình để vun vén, chăm chút cho hạnh phúc gia đình được thể hiện trong các dòng thơ sau:
Trời mưa lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc
Những công việc thường nhật của nhân vật trữ tình để vun vén, chăn chút cho hạnh phúc gia đình: khép cửa, phơi mền, vá áo, cắm hoa, treo tranh, thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc.
Phân tích tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc được sử dụng trong những dòng
thơ:
Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở...
- Biện pháp lặp cấu trúc: Lấy thời gian ...
- Tác dụng: tạo nhịp điệu, tăng tính liên kết giữa các dòng thơ; nhấn mạnh nỗi nhớ, niềm tin, khát vọng hạnh phúc của nhân vật trữ tình; thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca trước vẻ đẹp trong tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.
Nhận xét những ước mơ, khát vọng của nhân vật trữ tình được gửi gắm qua hai
dòng thơ cuối.
- Ước mơ, khát vọng của nhân vật trữ tình: về tình yêu thủy chung, son sắt, bền lâu; niềm tin, khát vọng vào tương lai hạnh phúc.
- Nhận xét: ước mơ, khát vọng đời thường, giản dị, thể hiện tình cảm sâu sắc, chân thành của người con gái trong tình yêu.
Nêu thông điệp có ý nghĩa nhất đối với anh/ chị rút ra từ đoạn trích (trình bày khoảng 5-7 dòng).
HS trình bày thông điệp có ý nghĩa nhất, cần phù hợp với nội dung đoạn trích và lí giải phù hợp.
Gợi ý: thông điệp về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ; về sự chân thành, sâu sắc trong tình yêu; về sự hi sinh của người phụ nữ trong tình yêu…
Trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tạo nên nhiều giá trị bền vững, trong đó có lòng yêu nước. Lòng yêu nước Việt Nam mang khí phách, tâm hồn dân tộc yêu nước là một truyền thống dân tộc VN gắn với niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người con Việt.
Lòng yêu nước được hiểu là tình cảm, tình yêu, sự gắn bó sâu sắc của chúng ta đối với đất nước, quê hương. Cùng với đó là ý thức, trách nhiệm xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu mạnh, phát triển
Lòng yêu nước xưa nay được thể hiện rất đa dạng, phong phú. Ấy là tinh thần, ý chí quyết tâm giữ vững, bảo vệ độc lập chủ quyền của tổ quốc, là tinh thần cầu tiến, mong muốn phát triển đất nước, đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Lòng yêu nước còn được thể hiện ở tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương nơi mình sinh ra và lớn lên. Tình yêu đất nước còn nằm ở lòng tự tôn dân tộc, tự hào vì là dân tộc Việt Nam, mang trong mình dòng máu con người Việt Nam.
Là một giá trị cốt lõi của dân tộc, lòng yêu nước mang trên mình nhiều ý nghĩa. Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm lịch sử gắn liền với những cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng cuối cùng ta đã mang đến những chiến thắng hiển hách. Những chiến công oanh liệt ấy có được một phần quan trọng chính là lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc, từ đó trở thành sức mạnh cùng nhau đồng lòng, tạo nên cội nguồn sức mạnh dân tộc to lớn. Bên cạnh đó, xét về bên trong tâm hồn, lòng yêu nước chính là bệ đỡ tinh thần cho con người, là nguồn cảm hứng giúp chúng ta luôn nghĩ về nguồn cội, là động lực to lớn giúp chúng ta phấn đấu, sống có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.
Lòng yêu nước xuyên suốt trong mọi thời đại lịch sử và cho đến ngày nay vẫn vậy, tuy nhiên, bởi sự thay đổi của thời cuộc, quan niệm yêu nước của tuổi trẻ ngày nay có nhiều sự kế thừa và thay đổi so với quan niệm yêu nước truyền thống.
Trong thời kì chiến tranh loạn lạc, lòng yêu nước được thể hiện bằng cách đứng lên cầm súng đánh giặc giành lại hòa bình, độc lập, họ không ngại khó, ngại khổ họ chỉ quyết tâm giữ vững nền độc lập cho dân tộc, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng của mình.
Trong thời bình, thế trẻ ngày này thể hiện lòng yêu nước qua nhiều hành động khác nhau. Tình yêu ấy được thể hiện bằng việc hướng tới việc xây dựng đất nước, quê hương phát triển. Mỗi bạn trẻ đều tích cực học tập, rèn luyện để tương lai đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Lòng yêu nước còn được thể hiện qua việc tôn trọng các giá trị xã hội, từ tình yêu chuyển thành những hành động thiết thực như: tích cực tham gia các hoạt động xã hôi, hoạt động tình nguyện, các chiến dịch cộng đồng, ra sức chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên đất nước, góp sức chung tay giúp đỡ đồng bào, xây dựng tình thương mến giữa con người trong cùng đất nước.
Dẫu khác nhau là vậy, nhưng dù ở thời đại nào, lòng yêu nước luôn được coi trọng. Từ thời chiến cho đến thời bình, lòng yêu nước thể hiện mạnh mẽ nhất qua lòng tự tôn dân tộc. Đó chính là niềm tự hào dân tộc, biết gìn giữ nâng cao các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc, là ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của đất nước, là khát vọng đất nước Việt Nam ngày càng thịnh vượng.
Thế hệ trẻ hôm nay cần kế thừa và phát huy lòng yêu nước truyền thống thông qua việc không ngừng học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức.Nghiêm túc thực thi các chính sách pháp luật của nhà nước. Tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng nhằm gia tăng tình đoàn kết, góp sức chung tay xây dựng đất nước ngày một tốt đẹp.
Lòng yêu nước là một giá trị tinh thần cốt lõi, xuyên suốt nhiều thế hệ, đặc biệt đối với thế hệ trẻ ngày nay, khi mà tình yêu đất nước được biểu hiện vô cùng phong phú. Là một phần của thế hệ trẻ, em cảm thấy tự hào trước tình yêu nước được gìn giữ, phát huy và trân trọng như vậy. Bản thân em cũng sẽ góp sức, chung tay cùng thế hệ trẻ phát huy tình yêu đất nước, lấy tình yêu ấy làm động lực để dựng xây Tổ quốc.
SỞ GD & ĐT HÀ NỘI TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
THƯ NGỎ
Kính gửi: Quý Phụ huynh trường THPT Chu Văn An
Lời đầu tiên, cho phép tôi được thay mặt BGH Nhà trường gửi đến toàn thể
Quý Phụ huynh lời chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất.
Trước thời điểm các em học sinh chuẩn bị tốt nghiệp, Nhà trường cần trao đổi với phụ huynh một số vấn đề về việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh. Chọn nghề là điều quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi người, đây chính là bước khởi đầu cho tương lai. Để tồn tại và để tự khẳng định mình trong cuộc sống, mỗi người cần lựa chọn cho mình một nghề nghiệp nhất định.
Đứng trước ngưỡng cửa với vô vàn sự lựa chọn đã tạo nên không ít khó khăn cho các vị phụ huynh và con em học sinh. Để giải quyết vấn đề đó, các bậc phụ huynh và học sinh cần quan tâm đến học lực, năng khiếu và sở thích ngành nghề của con em. Bởi lẽ, thế mạnh và sở thích là hai yếu tố song hành cùng nhau khi bước vào con đường lựa chọn ngành nghề. Đặc biệt, kính mong các vị phụ huynh luôn tôn trọng lựa chọn của con em, luôn đồng hành, động viên các em trong quá trình chọn nghề và tìm nghề.
Định hướng nghề nghiệp là vô cùng quan trọng.Việc lựa chọn định hướng phù hợp với sở thích cá nhân về ngành nghề sẽ là động lực tốt cho việc học, tạo được sự đam mê trong học tập.
Trước tình hình này, Nhà trường sẽ thường xuyên tổ chức các buổi hướng nghiệp nhằm giúp học sinh hiểu rõ bản thân, sở thích, đam mê, năng lực, và cung cấp thông tin về ngành nghề dự định cũng như tình hình thị trường lao động và xu hướng việc làm.
Nhà trường rất mong nhận được sự hỗ trợ và hợp tác từ phía Phụ huynh để thuận lợi hơn trong việc định hướng nghề nghiệp cho con em học sinh.
Kính chúc Quý Phụ huynh và các em học sinh hạnh phúc và mạnh khỏe !
Trân trọng.
Hiệu trưởng
Nguyễn Văn A
Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.
Văn học từ muôn đời xưa, cho đến muôn đời sau bao giờ cũng viết về con người. Dù chỉ tả một làn mây dòng suối, cành lá, tiếng chim, thì cũng nhằm nói về con người. Cho nên thiên nhiên trong văn học là những bức tranh tâm trạng. Người buồn thì cảnh buồn, người vui thì cảnh vui. Qua hai bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đất nước của Nguyễn Đình Thi, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.
Mùa thu từ bao đời nay và sẽ mãi mãi là nguồn thi hứng, là đề tài hấp dẫn đối với các thi nhân. Các nhà thơ nổi tiếng thế giới cũng như Việt Nam như Huy-gô, Rim-bô, Véc-len, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà đều đã có những bài thơ rất đặc sắc dành cho mùa thu. Nhưng không vì thế mà thơ viết về mùa thu trở nên mòn sáo, đơn điệu. Bởi cảnh thu thời nào cũng vậy, nhưng lòng người thì mỗi thời mỗi khác. Vì thế cảnh sắc mùa thu trong mỗi bài thơ đều có những vẻ đẹp riêng độc đáo. Chính trạng thái cảm xúc của thi nhân đã quy định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Bài Đây mùa thu tới là một bài thơ hay về mùa thu của Xuân Diệu trước cách mạng. Bài Đất nước (1948-1955) của Nguyễn Đình Thi không phải là bài thơ viết về mùa thu, nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Hai bài thơ viết trong hai giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện hai trạng thái cảm xúc khác nhau của nhà thơ trước mùa thu.
Cảnh sắc mùa thu trong bài Đây mùa thu tới thấm một nỗi buồn. Đó là cái buồn muôn thuở, nhưng cũng là cái buồn của thời đại, cái buồn của riêng “thơ mới”. Buồn vì cái lạnh len lỏi đâu đây gợi nỗi cô đơn, buồn vì sự chia lìa từ hoa cỏ, chim muông đến con người. Buồn vì một nỗi nhớ nhung ngẩn ngơ phảng phất trong không gian và trong lòng người. (Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rặng liễu buồn như những cô gái xoã tóc chịu tang, cùng hàng ngàn dòng lệ hàng nối hàng tuôn rơi. Các khổ thơ tiếp theo tác giả tái hiện cảnh hoa, lá rụng, cành cây khô gầy, vầng trăng bơ vơ. Sương mờ không khí trời u uất... tất cả những hình ảnh ấy gợi lên sự chia ly, tàn tạ, phai nhạt làm nổi rõ nỗi buồn cô đơn).
Cảnh thu buồn hiu hắt bi thương nhưng vẫn có cái gì đó dịu nhẹ, trẻ trung và rất đẹp. Bởi cảnh thu ngoài việc được so sánh với một hình ảnh độc đáo, còn được Xuân Diệu miêu tả với vẻ đẹp thơ mộng duyên dáng, tươi Bằng với tấm “áo mơ phai dệt lá vàng” vừa thực vừa ảo. Sắc vàng mùa thu đã làm sáng cả không gian.
Như vậy mùa thu bên cạnh cái vẻ đìu hiu buồn, một cái buồn rất đẹp của cảnh vật, vẫn chứa đựng bên trong một sức sống trẻ trung. Ấy là cái chất trẻ trung được phát hiện bằng con mắt “xanh non” của tác giả là cái sức sống của tuổi trẻ và tình yêu xốn xao trong cảnh vật.
Cảnh thu rất đẹp mà buồn vì lòng người lúc ấy còn buồn bã. Nỗi buồn của Xuân Diệu cũng là nỗi buồn của cả một thế hệ trí thức tiểu tư sản đương thời “yêu đời nhưng đau đời” (Huy Cận) chưa tìm được lối ra. Nỗi buồn ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, thiết tha giao cảm với đời.
Đang trong tâm trạng ấy cho nên nhà thơ rất nhạy cảm trước khung cảnh đất trời chuyển vào thu:
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Câu thơ cất lên như một tiếng reo khẽ, vồ vập, khi chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của mùa thu. Phải có tấm lòng yêu đời thì giữa cảnh thu buồn bã, nhà thơ mới có thể đón nhận được một niềm vui nho nhỏ như thế. Sự nhạy cảm của hồn thơ Xuân Diệu còn được thể hiện qua cách cảm nhận của mùa thu. Nếu trong phần mở đầu, tác giả phát hiện cảnh thu bằng thị giác để tái hiện sắc thu thì đến phần giữa bài thơ tác giả đã thâm nhập vào bên trong cảnh vật để cảm nhận tinh tế bằng cảm giác của mình: Cành lá run rẩy, sắc lá đổi màu, nhành cây ớn lạnh đến tận xương khô, rét mướt luồn trong gió. Cuối cùng nhà thơ gửi gắm tâm trạng của mình qua nỗi lòng của người thiếu nữ. “Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”, một nỗi nhớ thương ngơ ngác mặc dù cô thiếu nữ không nói, nhưng rõ ràng đó là tư thế suy tư của người muốn đón nhận, của tâm trạng đang hướng về cuộc đời.
Tóm lại: cảnh thu, lòng người trước mùa thu có buồn bã cô đơn, nhưng không quá tuyệt vọng mà vẫn tươi trẻ. Toát lên từ toàn bộ bài thơ cảnh thu là vẻ đẹp của một nỗi buồn. Đó là nỗi buồn đầy cảm xúc của cái tôi cô đơn biểu hiện một niềm yêu đời, khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu.
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi là bài thơ về “Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng loà” qua cuộc kháng chiến 9 năm (1946-1954) nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Mở đầu là hình ảnh mùa thu “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, “Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Đó là cảnh sắc thân thuộc của mùa thu Việt Nam muôn đời. Cảnh thu trong sáng, vui tươi. Đoạn thơ tiếp theo, tác giả khắc hoạ cảnh thu Hà Nội ra đi vì nghĩa lớn. Đó là cảnh thu với vẻ đẹp thơ mộng mà xao xác buồn, buồn vì tưởng như thiếu hẳn bóng người. Buồn vì niềm bâng khuâng lưu luyến của sự chia ly “Người ra đi đầu không ngoảnh lại” nhưng thực ra thì chẳng muốn rời:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Còn mùa thu hiện tại là mùa thu sau Cách mạng tháng Tám mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, lúc này đang là chiến khu tự do, căn cứ địa của kháng chiến chống Pháp, nơi Bác Hồ, Chính phủ kháng chiến đang điều khiển cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã đến với mùa thu này bằng một niềm vui tràn ngập, niềm vui của người tự thấy mình được tự do, dân tộc được tự do, ít ra là ở chiến khu này. Đang trong tâm trạng vui, nên tác giả thấy cảnh thu hiện lên với vẻ đẹp tươi sáng, đầy sức sống, đầy âm thanh màu sắc rộn rã, tươi vui. Bầu trời như thay áo mới, cảnh vật như hồi sinh, những âm thanh của cảnh vật và cuộc sống con người cũng ríu ran ríu rít đầy niềm vui.
Và không gian mùa thu như trải dài, mở rộng theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của đất nước.
Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nước là cảm hứng tự hào làm chủ của một nghệ sĩ đang tham gia trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do. Trong đoạn thơ nói về mùa thu Hà Nội 1946, tác giả có thể hiện tâm trạng buồn nhưng đó là nỗi buồn của một người tha thiết yêu quê hương mà phải tạm biệt quê hương lên đường vì nghĩa lớn. Nỗi buồn này khác nỗi buồn của Xuân Diệu.
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về đất nước giang sơn gấm vóc, về độc lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào đầy kiêu hãnh.
Cùng viết về mùa thu mà Xuân Diệu chỉ thấy một mùa thu rất đẹp mà rất buồn. Còn Nguyễn Đình Thi lại tiếp nhận một mùa thu trong trẻo, đầy âm thanh, màu sắc, đầy niềm vui, sức sống của cảnh vật và con người. Điều đó, xét cho cùng có nguyên nhân thời đại chi phối hồn thơ. Chính cảm xúc về thời đại đã quy định cảm hứng, qui định tình thu của nhà thơ và từ cảm hứng, tình thơ của nhà thơ lại qui định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Trước cách mạng, Xuân Diệu sống trong cảnh ngộ của người dân nô lệ. Nỗi buồn của người dân mất nước đã tạo nên cách nhìn, cách cảm của thi nhân trước mùa thu. Từ sau cách mạng Xuân Diệu đã đến với đất nước bằng niềm vui, niềm tự hào nên cảnh thu cũng đã thay đổi.
Ba năm qua nay lại mùa thu tới
Mỗi lần thu tới lại mùa thu tới
Thu từ nay không thu thảm thu sầu
Mà thu sướng nhuộm màu xuân mát mát
Lá biếc xanh xanh
Trời thu bát ngát
Da tươi thịt thắm
Nở lại cùng sương
Ảnh mấy bay như múa khúc nghê thường
Nắng hạ giọng nói những điều dịu sáng.
Còn Nguyễn Đình Thi viết bài Đất nước sau cách mạng lúc nhà thơ đã là một người dân tự do, cùng nhân dân làm chủ đất nước. Thời đại mới, đã tạo nên cảm hứng mới cho nhà thơ. Vì vậy, cảnh thu trong cách nhìn, cánh cảm nhận của nhà thơ trở nên trong trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống niềm vui.
Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội.
Kính thưa quý vị đại biểu, các đồng chí, các bạn và toàn thể chị em phụ nữ thân mến,
Hôm nay, chúng ta cùng nhau tụ họp tại đây để hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực giới. Đây là một dịp quan trọng để chúng ta cùng nhau nhìn lại những gì đã làm được, nhận diện những thách thức còn tồn tại và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
Bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu mà còn là nguyên tắc cơ bản của một xã hội công bằng và phát triển. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần sự đồng lòng, nỗ lực của toàn thể cộng đồng, từ các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội cho đến mỗi cá nhân.
Trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Bạo lực giới, dưới mọi hình thức, vẫn đang là một vấn nạn nhức nhối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của nhiều phụ nữ và trẻ em.
Chính vì vậy, Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực giới không chỉ là dịp để chúng ta nâng cao nhận thức mà còn là thời điểm để hành động cụ thể, thiết thực. Mỗi người trong chúng ta hãy trở thành một tuyên truyền viên tích cực, hãy lên tiếng khi thấy những hành vi bạo lực, hãy bảo vệ và hỗ trợ những nạn nhân của bạo lực giới.
Tôi xin kêu gọi các cấp, các ngành, các tổ chức và toàn thể nhân dân hãy cùng chung tay hành động, tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững. Hãy đảm bảo rằng, mọi phụ nữ và trẻ em đều được sống trong một môi trường an toàn, tôn trọng và bình đẳng.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các tổ chức, cá nhân đã và đang đóng góp công sức cho công cuộc thúc đẩy bình đẳng giới và phòng chống bạo lực giới. Sự ủng hộ và đóng góp của quý vị là nguồn động viên to lớn, giúp chúng ta tiến gần hơn đến mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và hạnh phúc.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn sự hiện diện và hưởng ứng nhiệt tình của quý vị trong buổi lễ hôm nay. Chúc Tháng hành động của chúng ta thành công tốt đẹp và mang lại nhiều ý nghĩa cho cộng đồng.
Xin trân trọng cảm ơn!

