Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
0 câu hỏi
ĐI ĐƯỜNG (*)
(Tẩu lộ - Hồ Chí Minh)
Phiên âm:
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.
Dịch nghĩa:
Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.
Dịch thơ:
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, NXB trẻ, 2020)
(*) Tác phẩm được rút ra từ tập Nhật kí trong tù (1942 – 1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày bị giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ đã bị áp giải qua nhiều nhà lao. Và cuộc hành trình chuyển giao đầy gian nan được Hồ Chí Minh khắc họa chân thực qua bài thơ Đi đường (Tẩu Lộ).
Đầu canh hai, trăng từ từ mọc lên bên kia dải rừng, to như một cái nong. Tôi mở mắt ra, sờ tay thấy sương thấm ướt khắp người. Trong lớp sương đục nhờ nhờ, vầng trăng đỏ như một cái lòng đỏ trứng khổng lồ. Càng lên cao, trăng càng bé lại. Nhìn qua be xuồng, thấy nước gợn lăn tăn... Tôi vừa thiu thiu chợp mắt lại, bỗng nghe thằng Cò vụt nhổm dậy:
- Dậy mau! Dậy mau? Dính một con rồi
- Tao vừa thức đây mà. Có thấy cái quái gì đâu
- Mày biết cái con khỉ gì? - Nó quát tôi.
Tôi lập tức đánh diêm thắp ngọn đèn soi. Tay tôi run quá, tim cứ đập thình thình. Thằng Cò ấn cây giầm vào tay tôi, ra hiệu cho tôi chống xuồng tới. Nó cầm cái mác trong tay, một tay đưa đèn lên soi phía trước. Ồ, kia rồi?
Tàu lá dừa nước bị ai kéo cứ dập lên dập xuống, làm nước bắn tung tóe. Tiếng dây câu nghiến kìn kịt trong tiếng lá dập xuống nước nghe kinh quá. Tôi kêu oái một tiếng, đứng chết sững. Một con rắn rằn ri cóc to cỡ bắp chân người lớn đang vung vẩy uốn mình lên quấn lấy chùm dây câu. Cái miệng nó há ra, đầy răng chơm chởm. chỗ ngạch lưỡi câu mắc bên mép, máu chảy giọt giọt xuống nước. Mỗi lần con rắn vặn mình cố siết cho đứt chùm dây câu, da nó nở ra, vồng lên như gai mít. Thằng Cò buông mác, thò tay nắm đuôi con rắn. Con rắn tháo ra, quấn một khúc vào tay thằng Cò. Thằng Cò chộp ngang lưng con rắn, bàn tay nó bé quá tuột ra vì không nắm hết. Con rắn càng gồng mình siết chặt cổ tay thằng Cò. Mồ hôi tươm ra ướt trán, chảy ròng ròng xuống má, nó bậm môi, cứ mặc thế, ngửa người ra sau lôi nguyên con rắn mắc câu vào xuồng.
- Coi chừng nó cắn chết à, Cò - Tôi thè lưỡi nhích ra xa.
Cắn quái gì nữa! Mà thứ rắn này cắn cũng như chó cắn thôi. Đưa miệng giỏ lại đây, mau mau đi. Tôi kê miệng giỏ hứng con rắn. Thằng Cò ghé răng cắn chót đuôi con rắn một cái, con rắn đau quá vội tháo khỏi cổ tay thằng Cò, tuột gọn vào lòng giỏ. Thằng cò một tay đậy nắp, một tay chụp cái mác chặt hai đầu sống lá. Cả khúc sống lá chùm dây câu và con rắn đảo lộn, quẫy soạn soạt trong giỏ.
- Hì.. hi... Da con này lột ra phơi, bán bộn tiền. Mai chúng mình bảo má nấu nồi ca-ri ăn chơi?
Con rắn to nhưng cái đầu nó chỉ bé bằng quả bàng thôi. Hai con mắt đục lừ lừ nhìn ngọn đèn soi. Thằng Cò hé nắp giỏ chộp cổ con rắn tháo lưỡi câu ra, lôi khúc sống lá dính chùm dây câu ra khỏi giỏ rồi thong thả đậy nắp, gài chốt lại.
- Để tao thử con rắn cho mày coi - nói xong nó thọc một ngón tay vào mắt giỏ gãi gãi lên lưng con rắn. Khi con rắn quay ngoắt lại toan mổ vào ngón tay thì thằng Cò đã rụt ngón tay ra rồi.
- Cu cậu bị ớt cay, sưng cả miệng đấy, mày thấy không? Vậy, mình mới dễ bẻ răng. Mà nó cũng chẳng cắn mổ gì được nữa...
Tàu lá đằng kia rung lên sàn sạt. Thằng Cò reo lên:
- Sướng rồi? Dính một con nữa rồi!
Tôi chụm chân nhẩy đồm độp trên xuồng, làm chiếc xuồng nghiêng qua lắc lại tí nữa là chìm.
- Ấy là nhờ mình buộc chùm dây câu vào sống lá, phải không Cò? Chứ đến cần câu to bằng cật tre đi nữa thì nó nhổ lên và lôi đi tuột, mày nhỉ!
Con này của mày đó, An nhá? Của mày buộc câu mà.
- Ừ tao làm cũng được, khó gì mấy. Nhưng mà... con này mày cứ bắt nữa đi, Cò ạ. Để tao xem mày bắt vài trận nữa đã. Chừng có con khác mắc câu, tao bắt thử cho mày coi, có được không?
Tàu lá đang bị kéo ghì xuống nước bỗng bật tung trở lên.
Thôi chết cha tôi rồi, An ơi! Mày buộc làm sao mà nó mới kéo có mấy cái đã tuột luốc rồi!
Tôi không biết nói ra sao, tay buông giầm rơi xuống xuồng cái độp, nhìn theo những giọt nước từ trên tàu lá đổ xuống ròng ròng, tiếc ngẩn tiếc ngơ.
(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, 2012)
Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con.
Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào
Một lúc lâu, người đàn bà tươi cười bảo vợ chồng Năm:
- Đã khuya rồi, xin rước ông đi ngủ với nhà cháu, còn bà thì nằm giường trong buồng nghỉ cho đỡ mệt.
Người đàn ông nói tiếp:
- Thật may mắn, nhà cháu vừa mua được cặp chiếu đậu, lại vừa mới giặt chiều qua
Bính cảm ơn, đoạn đến bên cạnh giường kê gần cửa sổ nằm. Bính chợp ngủ đi. Chợt tiếng gà gáy trong mấy xóm rải rác đằng xa vẳng lên. Bính đương mơ màng tỉnh ngay giấc. Rồi thì Bính không sao ngủ được nữa, khi tiếng gà gáy im bặt, những nhịp thở đều đều không biết của người vợ hay người chồng, hay đứa con thơ ở giường ngoài buồng đưa lại, như rót vào tai Bính. Giữa khoảng đêm mưa gió ào ào, hơi thở ngon lành kia lại gợi lên trong lòng Bính ngùn ngụt sự thèm thuồng khao khát một cuộc đời trong sạch êm đềm dù nghèo nàn.
Nhưng Bính đau tủi biết bao thấy rằng cái ước mong đó không thể nào có được, Bính chỉ có thể gặp cái đêm như đêm nay, một đêm trong cái đời nguy nan điêu đứng dừng bước trong một gia đình ấm cúng nào đấy, để mà tiếc, mà khát khao và xót xa thôi.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học, 2021)
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay...
(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)
NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ THĂNG HOA CÙNG THỜI GIAN
TTXVN - Năm 2023 đánh dấu chặng đường 20 năm Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Suốt chặng đường đó, chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cùng những người làm công tác văn hóa, đặc biệt là các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc công Nhã nhạc cung đình Huế đã không ngừng nghỉ bảo tồn, phát huy di sản.
Chặng đường di sản

Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Di sản Cố đô, Ký ức và Trao truyền”.
(Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN)
Khác với ca trù phát sinh từ dân gian rồi vào cung đình, Nhã nhạc có quá trình hình thành, lan tỏa trái ngược và được UNESCO đánh giá là loại hình âm nhạc duy nhất đạt tới tầm vóc quốc gia trong các thể loại nhạc cổ truyền.
Nhã nhạc cung đình xuất hiện vào những năm đầu của triều Lý (1010 - 1225). Tuy nhiên, phải đến thời Nguyễn (1802 - 1945), loại hình âm nhạc này mới thực sự phát triển rực rỡ. Âm nhạc của Nhã nhạc cung đình tao nhã, thiêng liêng thường dùng trình diễn trong các dịp đại lễ trang nghiêm của triều đình, cúng tế thần linh và không thể thiếu dưới triều đại bấy giờ. Từ đây, Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúng chuẩn, bài bản với hàng trăm nhạc chương. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung vào năm 1945, Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.
Từ năm 1992, công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến. Năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể tại Thừa Thiên - Huế. Tại đây, một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã nhạc cung đình Huế được đệ trình UNESCO. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa và Thông tin cùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế - Nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của thế giới.
Giáo sư Trần Văn Khê là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (âm nhạc cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Không chỉ góp phần hoàn thiện bộ hồ sơ đệ trình, sinh thời, giáo sư còn ghi dấu khi trực tiếp giới thiệu, chơi nhạc cụ truyền thống trước các bạn bè quốc tế.
Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ năm 2008 gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Từ đây, Việt Nam có chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị loại hình âm nhạc này.
(https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/nha-nhac-cung-dinh-hue-thang-hoa-cung-thoi-gian/20037.html)
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở trung tâm Trung Trung Bộ của Việt Nam, phía Tây Nam sông Gianh; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa; phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Vườn Quốc gia có chung ranh giới với Khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Hình ảnh: Động Phong Nha (Phong Nha- Kẻ Bàng)
Dãy núi đá vôi Kẻ Bàng là hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới. Đó là kết quả tiến hóa tự nhiên cách đây gần 400 triệu năm. Quá trình tạo sơn phức tạp đã tạo cho Phong Nha - Kẻ Bàng địa thế hiểm trở, ẩn chứa một quần thể hang động kì vĩ, những tượng thạch nhũ đẹp nhất và những dòng sông tối ngầm dài nhất thế giới. […]
Hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng thuộc loại cổ nhất Đông Nam Á, được hình thành do các đứt gãy kiến tạo trong kỷ Đệ Tam (35 triệu năm), đồng thời với pha tách giãn hình thành Biển Đông. Hệ thống hang động ở đây được phát triển trên một khối đá vôi lớn nhất Đông Nam Á, từ kỷ Devon muộn (377 triệu năm) đến kỷ Permi (250 triệu năm). Bao quanh khối đá vôi là các tầng địa hình phi carbonat, là điều kiện thu nước tốt cho khối đá vôi hình thành hang động, đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trong khu vực. Có 2 hệ thống hang chính: hang Phong Nha, với tổng chiều dài 5.076m; hang Vòm, với tổng chiều dài 36.063m, hầu hết còn mang tính nguyên sơ.
[...] Phong Nha-Kẻ Bàng chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, sông suối, hang động và các hệ sinh thái thứ sinh.
Phong Nha-Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên Trái đất, đó là rừng nhiệt đới thường xanh, chủ yếu là cây lá kim, dưới tán là các loài “lan hài vệ nữ”, phân bố trên núi đá vôi, ở độ cao hơn 700m - 1000m và có 15 kiểu rừng, đặc biệt là kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi, có tầm quan trọng quốc tế. Những giá trị nổi bật trong quá trình phát triển về địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và giúp Phong Nha - Kẻ Bàng trở thành một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới. Phong Nha và Kẻ Bàng được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế đánh giá là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam.
Đến nay, đã xác định sự có mặt của 2.651 loài thực vật bậc cao có mạch, 735 loài động vật có xương sống, 369 loài côn trùng trong khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Trong đó, 116 loài thực vật và 129 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Có tới 28 loài động, thực vật có giá trị kinh tế và khoa học cao đang bị đe dọa nguy cấp ở mức toàn cầu, như voọc Hà Tĩnh, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, hổ, sao la, sóc bay đen trắng, chó sói, gà lôi, rùa...
Sự đa dạng sinh cảnh ở đây là điều kiện lý tưởng cho 9/21 loài linh trưởng (chiếm 43% của Việt Nam) sinh sống. Có 3 loài linh trưởng đặc hữu của dãy Trường Sơn là voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu, vượn bạc má. Khu hệ dơi với 46 loài (chiếm 43% tổng số loài của Việt Nam) ở đây, được xem là đa dạng nhất cả nước, đồng thời là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi.
[…] Tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. […]
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một di tích và danh thắng hội tụ được nhiều giá trị nổi bật. Chính những giá trị này đã mang lại cho Phong Nha - Kẻ Bàng một sự hấp dẫn đặc biệt riêng. […]
(Theo Hoàng Phúc, Hồ sơ xếp hạng di tích, tư liệu Cục Di sản văn hóa)
NHỮNG NGÔI SAO HÌNH QUANG GÁNH
Họ gánh về cho tôi mùa ổi mùa xoài mùa mận
Mùa sen mùa cốm trên vai
Cả nắng ban mai cả hoàng hôn tím
Ngày đi rưng rưng đôi dép lê
[...] Họ gánh về cổng tôi bao mùa trinh nguyên, những mùa
tôi sẽ quên nếu thiếu họ
Hương nhãn Hưng Yên vừa vào mùa, sen Tây Hồ vừa nở,
cốm làng Vòng vừa trăn trở những hạt xanh
Họ gánh tặng tôi ngọn gió mát lành đồng quê
Nơi mẹ và con và chồng họ đứng chờ
Nơi những cơn mơ
Vùng vằng khát
Tôi văng vẳng nghe họ hát
“Khó thời đòn gánh đè vai
Lần hồi nuôi mẹ mặc ai chê cười [1]”
Những ngôi sao của tôi
Gánh trên vai mình hẩm hiu số phận
Vô danh giữa đời thường
Dẫu đôi lúc đặt vào mắt tôi bao tia nhìn mang hình dấu hỏi.
(Trích Những ngôi sao hình quang gánh, Nguyễn Phan Quế Mai, NXB Hội nhà văn, 2011, tr.18)
Chú thích: Nguyễn Phan Quế Mai (1973), quê Ninh Bình. Các sáng tác của Nguyễn Phan Quế Mai đóng vai trò là cầu nối văn chương Việt Nam và thế giới, tiếng nói cho hòa bình, bình đẳng.
- Bài thơ Những ngôi sao hình quang gánh đạt giải nhất cuộc thi viết về Hà Nội.
[ ... ] Đường tít tắp, không gian như bể Anh chờ em cho em vịn bàn tay Trong tay anh, tay của em đây Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ Trời mưa lạnh tay em khép cửa Em phơi mền vá áo cho anh Tay cắm hoa, tay để treo tranh Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc | Tay em dừng trên vầng trán lo âu Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ Lấy thời gian đan thành áo mong chờ Lấy thời gian em viết những dòng thơ Để thấy được chúng mình không cách trở ...
Bàn tay em, gia tài bé nhỏ Em trao anh cùng với cuộc đời em. (Trích Bàn tay em, Xuân Quỳnh, Tinh hoa thơ Việt, NXB Hội nhà văn, 2012, tr.253) |
