Bộ 20 đề thi Giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 2
Đề thi

Bộ 20 đề thi Giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 2

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 457 lượt thi
12 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)

I. Đọc thành tiếng: (2 điểm)

- GV cho học sinh đọc đoạn văn bản “Bầu trời trong quả trứng” (Trang 39, 40 – SGK Tiếng Việt 4 tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 – 5 phút/ HS.

- Dựa vào nội dung bài đọc, HS trả lời câu hỏi: Tác giả muốn nói điều gì qua bài thơ?

Xem đáp án

Trả lời câu hỏi:Tác giả muốn nói với chúng ta: Mỗi chặng đường của cuộc sống có những điều thú vị riêng.

Đoạn văn

II. Đọc thầm và làm bài tập: (8 điểm)

CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC

Vào một buổi chiều thứ bảy đầy nắng ở thành phố Ô-kla-hô-ma, tôi cùng một người bạn và hai đứa con của anh đến một câu lạc bộ giải trí. Bạn tôi tiến đến quầy vé và hỏi: “Vé vào cửa là bao nhiêu? Bán cho tôi bốn vé”. Người bán vé trả lời: “Ba đô là một vé cho người lớn và trẻ em trên sáu tuổi. Trẻ em từ sáu tuổi trở xuống được vào cửa miễn phí. Các cậu bé này bao nhiêu tuổi?”

- Đứa lớn bảy tuổi và đứa nhỏ lên bốn. - Bạn tôi trả lời. - Như vậy tôi phải trả cho ông 9 đô la tất cả.

Người đàn ông ngạc nhiên nhìn bạn tôi và nói: “Lẽ ra ông đã tiết kiệm cho mình được 3 đô la. Ông có thể nói rằng đứa lớn mới chỉ sáu tuổi, tôi làm sao mà biết được sự khác biệt đó chứ!". Bạn tôi từ tốn đáp lại: “Dĩ nhiên, tôi có thể nói như vậy và ông cũng sẽ không thể biết được. Nhưng bọn trẻ thì biết đấy. Tôi không muốn bán đi sự kính trọng của mình chỉ với 3 đô la”.

(Pa-tri-xa Pho-rip)

blobid2-1769524551.jpg

2. Trắc nghiệm
1 điểm

Câu lạc bộ giải trí miễn phí cho trẻ em ở độ tuổi nào? (0,5 điểm)

7 tuổi trở xuống.

4 tuổi trở xuống.

6 tuổi trở xuống.

8 tuổi trở xuống.

Xem đáp án

Đáp án đúng: C

3. Trắc nghiệm
1 điểm

Người bạn của tác giả đã trả tiền vé cho những ai? (0,5 điểm)

Cho mình, cho bạn và cho cậu bé bảy tuổi.

Cho mình, cho cậu bé bảy tuổi và cậu bé bốn tuổi.

Cho mình, cho bạn và cho cậu bé bốn tuổi.

Cho mình, cho bạn và cho cậu bé sáu tuổi.

Xem đáp án

Đáp án đúng: A

4. Trắc nghiệm
1 điểm

Người bạn của tác giả lẽ ra tiết kiệm được 3 đô la bằng cách nào? (0,5 điểm)

Nói dối rằng cả hai đứa còn rất nhỏ.

Nói dối rằng cậu bé lớn mới có sáu tuổi.

Nói dối rằng cậu bé lớn mới có năm tuổi.

Nói dối rằng hai cậu bể dưới sáu tuổi.

Xem đáp án

Đáp án đúng: B

5. Trắc nghiệm
1 điểm

Tại sao bạn của tác giả lại không “tiết kiệm 3 đô la” theo cách đó? (0,5 điểm)

Vì ông ta rất giàu, 3 đô la không đáng để ông ta phải nói dối.

Vì ông ta sợ bị phát hiện ra thì xấu hổ.

Vì ông ta là người trung thực và muốn được sự kính trọng của con mình.

Vì ông ta sợ như vậy là nói dối sẽ bị pháp luật trừng phạt.

Xem đáp án

Đáp án đúng: C

6. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn văn sau, xác định các danh từ và xếp vào các nhóm. (1 điểm)

Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.

Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,… như gọi thấp xuống những vì sao sớm.

Đọc đoạn văn sau, xác định các danh từ và xếp vào các nhóm. (1 điểm) Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả d (ảnh 1)

Xem đáp án

Đọc đoạn văn sau, xác định các danh từ và xếp vào các nhóm. (1 điểm) Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả d (ảnh 2)

7. Tự luận
1 điểm

Gạch dưới các danh từ trong đoạn văn sau: (1 điểm)

Có thể cần phải xem lại giấc mơ đó của Lin-da, nhưng bé vẫn còn đủ thời gian để lựa chọn. Khi nào thì chúng ta sẽ ngừng ước mơ và loại bỏ đi trong tim những ước mơ về tương lai? Thật đáng sợ khi chúng ta không còn biết ước mơ nữa!

Xem đáp án

Có thể cần phải xem lại giấc mơ đó của Lin-da, nhưng vẫn còn đủ thời gian để lựa chọn. Khi nào thì chúng ta sẽ ngừng ước mơ và loại bỏ đi trong tim những ước mơ về tương lai? Thật đáng sợ khi chúng ta không còn biết ước mơ nữa!

8. Tự luận
1 điểm

Em hãy tìm các động từ có trong khổ thơ trên. (1 điểm)

Mặt trời rúc bụi tre

Buổi chiều về nghe mát

Bò ra sông uống nước

Thấy bóng mình, ngỡ ai

Bò chào: - “Kìa anh bạn!

Lại gặp anh ở đây!”

Xem đáp án

Các động từ có trong đoạn thơ trên là: rúc, về, ra, uống, chào, gặp

9. Tự luận
1 điểm

Xác định danh từ (DT), động từ (ĐT) trong các từ gạch chân tới đây: (1 điểm)

(a) Vầng trăng tròn quá, ánh trăng trong xanh tỏa khắp khu rừng.

(b) Sau tiếng chuông chùa, mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc

(c) Trên nương, mỗi người một việc, người lớn thì đánh trâu ra cày.

Xem đáp án

a) Vầng trăng tròn quá, ánh trăng trong xanh tỏa khắp khu rừng.

           DT                            DT                       ĐT              DT

b) Sau tiếng chuông chùa, mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc.

                             DT             DT                         ĐT

c) Trên nương, mỗi người một việc, người lớn thì đánh trâu ra cày.

               DT              DT                         DT            ĐT   DT      ĐT

10. Tự luận
1 điểm

Viết tiếp vào chỗ trống để hoàn thành câu, yêu cầu có sử dụng ít nhất 1 động từ: (1 điểm)

(a) Vì trời nắng to nên ..................................................................................................

(b) Nếu hôm qua không thức khuya xem phim thì ......................................................

Xem đáp án

a) Vì trời nắng to nên tôi không chơi ngoài sân nhà được.

b) Nếu hôm qua không thức khuya xem phim thì Hà đến trường đúng giờ.

11. Tự luận
1 điểm

Tìm từ chỉ sự vật, chỉ hoạt động và chỉ đặc điểm có trong đoạn thơ sau: (1 điểm)

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi dang.

Tìm từ chỉ sự vật, chỉ hoạt động và chỉ đặc điểm có trong đoạn thơ sau: (1 điểm) Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón ch (ảnh 1)

Xem đáp án

Tìm từ chỉ sự vật, chỉ hoạt động và chỉ đặc điểm có trong đoạn thơ sau: (1 điểm) Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón ch (ảnh 2)

12. Tự luận
1 điểm

B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)

Đề bài: Em hãy viết một bài văn kể lại một câu chuyện em đã học (đã đọc) mà em ấn tượng nhất.

Xem đáp án

- Trình bày dưới dạng một bài văn ngắn, có số lượng câu từ 10 đến 15 câu, kể lại một câu chuyện em đã học (đã đọc) mà em ấn tượng nhất, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, bố cục đầy đủ, rõ ràng (mở bài, thân bài, kết bài): 10 điểm.

- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu, không đúng nội dung yêu cầu.

Gợi ý chi tiết

a) Mở bài: Giới thiệu về câu chuyện mà ấn tượng nhất: Câu chuyện Điều ước của vua Mi-đát

b) Thân bài: Kể lại diễn biến sự việc của câu chuyện:

- Ở Hy Lạp vào thời xa xưa, có một ông vua vô cùng tham lam là vua Mi-đát

- Khi được gặp thần Đi-ô-ni-dốt, vua Mi-đát đã ước mọi thứ mà mình chạm vào đều sẽ biến thành vàng

- Điều ước trở thành sự thật, khiến vua Mi-đát vô cùng sung sướng, vội thử ngay với các đò vật xung quanh

- Nhưng rồi, ông nhận ra điều ước này có thể giết chết mình, vì ông không thể ăn uống được, vì mọi thứ ông vừa chạm vào đều biến thành vàng

- Nhà vua vô cùng hối hận, lúc này thần Đi-ô-ni-dốt hiện ra, chỉ cho ông cách hóa giải phép thuật: nhúng mình vào dòng sông thần Pác-tôn

- Từ lần đó, vua Mi-đát đã có một bài học đáng nhớ, từ bỏ hẳn thói tham lam

c) Kết bài:

- Tình cảm, cảm xúc của em dành cho câu chuyện vừa kể

- Bài học ý nghĩa mà em rút ra từ câu chuyện

Bài làm tham khảo

Cuộc sống của con người gắn liền với những ước mơ. Có những ước mơ ngọt ngào làm cho ta hạnh phúc, lại có những ước muốn tham lam đem tới cho ta nhiều phiền toái. Câu chuyện sau nói lên điều đó: Điều ước của vua Mi - đát.

Tại đất nước Hi Lạp xa xưa, có ông vua nổi tiếng tham lam tên là Mi - đát. Một ngày nọ, khi Mi - đát đang dạo chơi trong vườn thượng uyển thì gặp thần Đi-ô -ni-dốt và được thần ban cho một điều ước. Sẵn tính tham lam, Mi - đát ước ngay:

- Xin thần cho mọi vật tôi chạm vào đều biến thành vàng!

Thần ban cho Mi - đát cái ước muồn tham lam ấy rồi biến mất. Mi - đát sung sướng bẻ thử cành sồi, cành cây lập tức biến thành vàng. Ông ta lượm một quả táo, quả táo biến thành vàng nốt. Mi - đát hí hửng tưởng rằng lão là người hạnh phúc nhất mà không mảy may ngờ đến rắc rối đang chờ mình ở phía trước ...

Bữa ăn được người hầu dọn ra. Giờ thì ông ta hiểu rằng mình vừa ước một điều khủng khiếp : mọi thức ăn đều biến thành vàng khi ông ta chạm tới. Bụng đói cồn cào, Mi - đát hối hận, miệng không ngừng van nãi thần Đi - ô - ni - dốt. Bỗng, thần hiện ra, với vẻ mặt nghiêm nghị, phán:Hàng tạp hoá

- Nhà người hãy tới sông Pác - tôn, nhúng mình vào dòng nước, phép màu sẽ biến mất.

Mi - đát làm như vậy và quả nhiên phép màu biến mất.

Bạn thấy đấy, hạnh phúc không đến từ ước muốn tham lam mà làm nên từ bàn tay và trí óc.