Bộ 20 đề thi Giữa kì 1 Tiếng Việt lớp 4 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 1
12 câu hỏi
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (2 điểm)
- GV cho học sinh đọc văn bản bài “Tờ báo tường của tôi” (trang 24) Tiếng Việt 4 Tập 2 - (Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Dựa vào nội dung bài đọc, HS thực hiện yêu cầu: Nêu cảm nghĩ của em về việc làm của cậu bé trong câu chuyện.
- Đọc trôi chảy, lưu loát, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tốc độ đạt yêu cầu đạt 4 điểm. Tùy theo mức độ đọc của học sinh mà giáo viên cho điểm.
- Trả lời câu hỏi: Em thấy cậu bé là một người rất tốt bụng, để cứu người mà cậu không quan tâm bản thân mình bị sao.
II. Đọc thầm và làm bài tập: (8 điểm)
Đọc đoạn văn sau:
HAI ANH EM MỒ CÔI
(trích)
Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em mồ côi cha mẹ. Nhà tuy nghèo nhưng hai anh em rất thương yêu nhau. Hàng ngày, anh lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em. Cô em gái ở nhà chăm sóc một mảnh vườn rau. Cô vui tươi như chú chim non, tuy làm lụng vất vả nhưng miệng luôn luôn ca hát. Ngày ngày, một bầy chim nhỏ đến giúp cô bắt sâu, nhặt cỏ và nô đùa, ca hát với cô.
Tiếng hát của cô được gió mang đi khắp nơi. Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy lọt vào tai một con quỷ dữ. Nó sục sạo khắp nơi và tìm bắt được bầy chim và cô bé. Quỷ ác mang lên núi cao, nhốt cô bé và bầy chim vào chiếc lồng sắt. Nó hi hửng chờ nghe tiếng hát của cô. Cô bé nhớ anh, nhớ xóm làng, ngồi ủ rũ trong chiếc lồng không buồn cất tiếng hát. Bầy chim cũng lặng im.
Người anh đi kiếm củi về, không thấy em đâu. Anh ta gọi khản cả cổ suốt ngày đêm mà không thấy tiếng em gái đáp lại. Tìm khắp nơi cũng không thấy em đâu, anh bồn chồn thương em vô hạn. Được tin em bị quỷ ác bắt, người anh vội vã lên đường đi cứu. Anh cùng chim vượt không biết bao nhiêu núi cao, băng qua không biết bao nhiêu suối sâu, rừng rậm. Cuối cùng người anh đến nơi em gái bị quỷ ác nhốt. Người anh đã leo lên đến nơi.
Anh rút dao, chặt đứt nan lồng, giải thoát cho bầy chim và em gái. Mùa xuân lại đến. Núi rừng, thôn xóm lại rộn ràng tiếng hát lời ca của cô gái và bầy chim.
Theo Hoàng Anh Dương

Hoàn cảnh của hai anh em trong câu chuyện trên như thế nào? (0,5 điểm)
Sống trong một gia đình giàu có.
Sống cùng cha mẹ, nhà nghèo.
Mồ côi cha mẹ, nhà nghèo.
Sinh ra trong gia đình hiếu học.
Đáp án đúng: C
Vì sao con quỷ lại bắt cô bé? (0,5 điểm)
Vì cô bé xinh đẹp.
Vì cô bé chọc tức con quỷ.
Vì tiếng hát hay của cô bé.
Vì con quỷ muốn lấy cô làm vợ.
Đáp án đúng: C
Theo em, nội dung của câu chuyện trên là gì? (0,5 điểm)
Người anh luôn yêu thương, đùm bọc và chăm lo cho em gái.
Người anh luôn dũng cảm, bảo vệ và chăm sóc cho mọi người.
Người em là một người hiền lành, nhân hậu và yêu động vật.
Tuy hai anh em sống trong nghèo khó nhưng luôn yêu thương nhau.
Đáp án đúng: D
Dùng dấu “/” để ngăn cách hai thành phần chính trong câu sau: (1 điểm)
(a) Hàng ngày, anh lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em.
(b) Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy lọt vào tai một con quỷ dữ.
a) Hàng ngày, anh / lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em.
b) Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy / lọt vào tai một con quỷ dữ.
Em hãy đặt câu hỏi cho bộ phận in đậm trong các câu sau và cho biết đó là thành phần nào của câu: (1 điểm)
(a) Tiếng hát của cô được gió mang đi khắp nơi.
(b) Sau cơn mưa, cầu vồng thật đẹp.
a) Cái gì được gió mang đi khắp nơi?
“Tiếng hát của cô”: là thành phần chủ ngữ.
b) Cầu vồng sau cơn mưa như thế nào?
“thật đẹp”: là thành phần vị ngữ.
Sắp xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau vào nhóm phù hợp: (1 điểm)
Thỏ con phát hiện ra cây hồng. Cây chỉ có một quả, quả lại còn xanh. Thỏ nghĩ: “Chờ hồng chín, mình sẽ thưởng thức vị ngọt lịm của nó.”. Hằng ngày, thỏ chăm chỉ tưới nước cho cây.
(Trích “Quả hồng của thỏ con” – Theo Hà Nhi)


Trong các trường hợp dưới đây, đâu là câu hoàn chỉnh? Vì sao? (1 điểm)
dũng cảm vượt qua khó khăn.
Kim Đồng là một chiến sĩ liên lạc.
Người anh hùng Kim Đồng
tấm gương sáng
Đáp án đúng: B. Kim đồng là một chiến sĩ liên lạc.
(Vì các từ trong câu được sắp xếp theo một trật tự hợp lí, có đầy đủ chữ ngữ và vị ngữ, diễn đạt một ý trọn vẹn, chữ cái đầu câu được viết hoa, cuối câu có dấu kết thúc câu.)
Dấu gạch ngang trong trường hợp sau có công dụng gì? (0,5 điểm)
Mẹ đã mua cho em các tác phẩm sau của Tô Hoài:
- Dế Mèn phiêu lưu ký (truyện dài, 1941).
- Giăng thề (tập truyện ngắn, 1941).
- O chuột (tập truyện ngắn, 1942).
- Quê người (tiểu thuyết, 1942).
Đánh dấu các ý liệt kê.
Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
Nối các từ ngữ trong một liên danh.
Đáp án đúng: A
Dựa vào các bức tranh sau, em hãy: (1 điểm)
(a) Đặt một câu hỏi:

(b) Đặt một câu kể:

a) Hai bạn nhỏ đang làm gì?
b) Em được mẹ đưa đi học.
Hãy gạch chân các từ chỉ hoạt động, đặc điểm của người được dùng để kể, tả các sự vật trong những câu văn sau: (1 điểm)
(a) Dòng sông cả mệt mỏi trôi về cuối thượng nguồn.
(b) Giọt sương nhẹ nhàng, ôm lấy những chiếc lá non.
(c) Nắng vàng nhảy nhót như những chú bé tinh nghịch.
(d) Ngọn cỏ e thẹn, cúi đầu, che giấu những giọt sương mai.
a) Dòng sông cả mệt mỏi trôi về cuối thượng nguồn.
b) Giọt sương nhẹ nhàng, ôm lấy những chiếc lá non.
c) Nắng vàng nhảy nhót như những chú bé tinh nghịch.
d) Ngọn cỏ e thẹn, cúi đầu, che giấu những giọt sương mai.
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết một kết thúc khác cho câu chuyện “Bài học quý”.
- Trình bày dưới dạng một đoạn văn, viết kết thúc khác cho câu chuyện “Bài học quý”, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 10 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu, không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Giới thiệu về câu chuyện “Bài học quý”.
Triển khai:
- Viết tiếp cái kết khác cho câu chuyện: (1) Khi được Chích cho những hạt kê còn lại, Sẻ rất xấu hổ vì đã ích kỉ khi ăn một mình mà không mời Chích. (2) Sẻ đã bay qua nhà bà ngoại xin thêm hạt kê để tặng lại cho Chích. (3) Sẻ đã nhận được một bài học và tự nhủ sẽ không bao giờ ích kỉ như vậy nữa. (4) Sẻ xin lỗi Chích và Chích đã tha thứ cho bạn. (5) Từ đó cả hai thân thiết với nhau, chia sẻ cho nhau những gì mình có.
Kết thúc:
- Suy nghĩ của em về cái kết mới của câu chuyện.
Bài làm tham khảo
“Bài học quý” là câu chuyện mà em vô cùng yêu thích. Câu chuyện kể về tình bạn giữa Chích và Sẻ. Khi được Chích cho những hạt kê còn lại, Sẻ cảm thấy rất xấu hổ vì đã ích kỉ ngồi ăn một mình mà không chia sẻ với Chích. Nhờ lòng tốt bụng của Chích, Sẻ đã nhận ra một bài học sâu sắc về tình bạn và tự nhủ sẽ không bao giờ ích kỉ, tham ăn như vậy nữa. Nhận ra lỗi lầm của mình Sẻ liền đến xin lỗi Chích, Chích cảm động và tha thứ cho Sẻ. Kể từ đó về sau, Chích và Sẻ trở thành những người bạn thân thiết, cùng chia sẻ cho nhau những gì mình có. Em cảm thấy đây là một kết thúc tốt đẹp cho tình bạn của Chích và Sẻ.








