Bộ 10 đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Kết nối tri thức có đáp án - Đề 6
9 câu hỏi
Đọc đoạn văn sau:
CÂU CHUYỆN BÓ ĐŨA
Ngày xưa, trong một ngôi làng nọ có một người giàu có, ông có năm người con. Lúc nhỏ, anh em rất hoà thuận. Khi lớn lên, anh có vợ, em có chồng, tuy mỗi người một nhà nhưng vẫn hay va chạm. Dù cuộc sống sung túc nhưng những đứa con của ông không hòa thuận mà còn đố kỵ lẫn nhau – điều này khiến ông rất buồn.
Ít lâu sau người cha bị bệnh nặng, biết mình không qua khỏi. Một hôm, ông bảo giai nhân đem ra một bó đũa và một túi tiền trên bàn, rồi ông gọi năm người con lại và bảo:
"Các con hãy thử bẻ bó đũa này xem ai có thể bẻ gãy được."
Người con cả gắng hết sức nhưng không thể bẻ nổi bó đũa. Người con thứ cũng bẻ, nhưng vô ích. Các người con còn lại cũng lần lượt lấy hết sức bình sinh để bẻ, bó đũa vẫn không bị gãy một chiếc nào.
Người cha cầm lấy bó đũa và tháo ra, rồi bẻ từng chiếc một, không cần mất sức cũng bẻ gãy hết rồi ôn tồn nói với các con:
"Các con ạ, bó đũa được ví như năm anh em các con đó, nếu mỗi người các con đều chung tay gánh vác mỗi người một việc thì không kẻ thù nào làm các con gục ngã được, còn nếu các con chỉ nghĩ đến bản thân mình thì sẽ trở nên lẻ loi và bị thất bại trong cuộc đời. Hãy hứa với cha rằng, ba con sẽ chung sống hoà thuận và đoàn kết, thương yêu nhau sau khi cha nhắm mắt xuôi tay."
Sau khi người cha qua đời các con ông đã học được bài học lớn và trở nên yêu thương nhau hơn.
(Theo Ngụ ngôn Việt Nam)

Điều gì làm người cha thấy rất buồn?
Người cha bệnh nặng.
Các con quá cực nhọc.
Các con luôn bất hòa.
Người cha sống cô độc.
C. Các con luôn bất hòa.
Vì sao không người con nào bẻ gãy được bó đũa?
Vì họ cầm cả bó đủa mà bẻ.
Vì họ bẻ từng chiếc một.
Vì họ không đủ mạnh.
Vì từng chiếc đũa quá cứng.
A. Vì họ cầm cả bó đủa mà bẻ.
Hành động của người cha dạy cho các con điều gì?
Hiểu được sức mạnh của sự đoàn kết.
Biết được sức mạnh của bản thân mình.
Cảm nhận được lòng cha thương con.
Cho thấy các con không đủ mạnh.
A. Hiểu được sức mạnh của sự đoàn kết.
Vị ngữ trong câu sau cho biết điều gì về đối tượng nêu ở chủ ngữ?
Hôm nay, tôi đã làm bài kiểm tra giữa học kì 2. |
Vị ngữ “đã làm bài kiểm tra giữa học kì 2” cho biết hoạt động của đối tượng là “tôi” được nêu ở chủ ngữ.
Gạch chân vào trạng ngữ, cho biết trạng ngữ bổ sung thông tin gì?
a) Vì nhà nghèo, Linh phải nghỉ học để phụ mẹ chăm hai em.
b) Ở quê, không khí trong lành lắm.
a) Vì nhà nghèo, Linh phải nghỉ học để phụ mẹ chăm hai em.
- Trạng ngữ bổ sung thông tin về nguyên nhân diễn ra sự việc.
b) Ở quê, không khí trong lành lắm.
- Trạng ngữ bổ sung thông tin về địa điểm diễn ra sự việc nêu trong câu.
Nối chủ ngữ ở cột A với vị ngữ ở cột B để tạo câu:
Bác Hồ |
| cần biết quan tâm và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. |
Con cháu |
| luôn mong con cháu chăm ngoan, thảo hiền. |
Ông bà |
| luôn dành tình yêu thương cho các cháu thiếu nhi. |
Bác Hồ | ![]() | cần biết quan tâm và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. |
Con cháu | | luôn mong con cháu chăm ngoan, thảo hiền. |
Ông bà |
| luôn dành tình yêu thương cho các cháu thiếu nhi. |
Em hãy viết thêm vị ngữ để hoàn thiện câu:
a) Cây bàng ở sân trường
b) Những còn đò
c) Bộ bàn ghế nhà ông tôi
a) Cây bàng ở sân trường tỏa bóng mát rượi.
b) Những còn đò xuôi ngược trên dòng sông.
c) Bộ bàn ghế nhà ông tôi dùng đã lâu rồi nhưng còn mới lắm.
Nghe – viết
TỨC CẢNH PÁC BÓ
(Trích)
Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Hồ Chí Minh
Chính tả
- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):
0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.
0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.
- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):
Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm
2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;
Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.
- Trình bày (0,5 điểm):
0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.
0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa vài chỗ.
Tập làm văn
Em hãy viết một kết thúc khác cho câu chuyện “Vệt phấn trên mặt bàn”.
Luyện tập
- Trình bày dưới dạng một đoạn văn, viết kết thúc khác cho câu chuyện “Bài học quý”, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu, không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Giới thiệu về câu chuyện “Vệt phấn trên mặt bàn”.
Triển khai:
- Viết tiếp cái kết khác cho câu chuyện: (1) Sau hai tuần, cuối cùng Thi Ca cũng quay trở lại đi học. (2) Sáng hôm đó, Minh đến lớp từ rất sớm, cẩn thận dùng khăn ướt lau sạch vệt phấn trên mặt bàn và cả hộc bàn – nơi Thi Ca thường để tay vào. (3) Minh lấy hết can đảm, chủ động nói lời chào với Thi Ca và xin lỗi chuyện lần trước. (4) Nghe vậy, Thi Ca cười xòa, hai bạn bắt tay để chính thức làm hòa. (5) Từ ngày hôm đó, Minh và Thi Ca trở thành đôi bạn thân thiết, cùng nhau học tập chăm chỉ.
Kết thúc
- Suy nghĩ của em về cái kết mới của câu chuyện.
Bài làm tham khảo
Sau hai tuần, cuối cùng Thi Ca cũng quay trở lại đi học. Sáng hôm đó, Minh đến lớp từ rất sớm, cẩn thận dùng khăn ướt lau sạch vệt phấn trên mặt bàn và cả hộc bàn – nơi Thi Ca thường để tay vào. Sau vài phút thấp thỏm, hình dáng quen thuộc đã xuất hiện ở cửa lớp. Lấy hết can đảm, Minh chủ động nói lời chào với Thi Ca. Khi bạn còn đang bất ngờ, Minh liền xin lỗi về chuyện lần trước. Nghe vậy, Thi Ca cười xòa và đưa cánh tay phải lên cho em xem. Cánh tay ấy trước đây bị bệnh nên cậu ấy phải giấu trong ngăn bàn và viết tay trái. Nhưng bây giờ thì không cần phải làm như vậy nữa, vì tay của Thi Ca đã được chữa khỏi rồi. Biết tin Minh rất mừng, liền xin bắt tay bạn để chính thức làm hòa. Từ ngày hôm đó, Minh và Thi Ca trở thành đôi bạn thân thiết, cùng nhau học tập chăm chỉ. Câu chuyện vệt phấn trên mặt bàn ngày trước giờ đây đã hoàn toàn chìm vào quá khứ rồi. Em cảm thấy đây là một kết thúc tốt đẹp cho tình bạn của Minh và Thi Ca.









