Bài tập cuối Tuần 8 Tiếng Việt lớp 4 (có đáp án)
8 câu hỏi
Đọc thầm câu chuyện sau:
GẤU BÔNG CÁC-MEN
Ba năm trước, Át-li, con gái tôi bị ung thư. Sau cuộc đại phẫu thuật, con bé trở nên nhút nhát và đầy nghi ngại với thế giới xung quanh. Một hôm, khi chúng tôi đang cùng xem chương trình ti vi về một phóng viên đã đi vòng quanh nước Mĩ bằng cách đi nhờ xe. Át-li bỗng thốt lên: “Con ước gì có thể làm được như vậy!”. Tôi nhìn vào đôi mắt với ánh lửa nhiệt tình của con gái và chợt | ![]() |
nhớ đến con gấu bông Các-men của Át-li. Tại sao không để cho Các-men thay Át-li đi vòng quanh nước Mĩ?
Chúng tôi mua cho Các-men một cuốn sổ xinh xắn để làm nhật kí hành trình và Át-li viết vào trang đầu tiên trong cuốn nhật kí hành trình của Các-men:
“Tên tôi là Át-li và tôi mới lên mười. Tôi xem trên ti vi thấy có một phóng viên đi vòng quanh nước Mĩ bằng cách đi nhờ xe. Tôi rất muốn làm được như vậy, nhưng bố mẹ tôi không đồng ý. Tôi muốn gấu bông Các-men thay tôi làm điều đó. Tiếc là nó không thể tự đi được, bạn có thể giúp nó được không?.... Hãy để Các-men đi cùng bạn và hãy bảo vệ nó. Tôi sẽ nhớ Các-men nhiều lắm.
Những người bạn mới. Các-men và Át-li.”
Đến khoảng giữa tháng Chín, Các-men trở về nhà trong một cái hộp đóng dấu bưu điện Ha-oai. Cái hộp đựng đầy vật lưu niệm của những vùng đất Các-men đã tới và những con người nó gặp. Một cái mũ rơm vùng Guy-con-sin. Một cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki. Một bức ảnh chụp chung với chuột Míc-ki. Một bức ảnh nữa chụp Các-men đang bơi ở một bể bơi A-ri-dô-na. Các-men đã đi tới mười sáu bang, kể cả Ha-oai.
Nhưng Các-men đã mang về nhà còn nhiều hơn thế, nó còn trở về với những người bạn. Những người bạn mà một cô bé mười tuổi sống ở vùng nông thôn I-ô-goa như Át-li đáng lẽ không bao giờ có cơ hội gặp mặt.
(Ma-ri-ta I-guyn)
Dựa vào nội dung bài đọc, hãy khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng nhất hoặc làm theo các yêu cầu dưới đây:
Át-li mong muốn điều gì khi xem chương trình ti vi?
Được đi vòng quanh nước Mĩ như người phóng viên trên ti vi.
Được bố mẹ đưa đi dạo quanh chơi quanh nước Mĩ cùng với gấu bông.
Được đi nhờ xe để đến chơi với các bạn khắp nơi trên thế giới.
Được bố mẹ cho đi du lịch vòng quanh thế giới cùng chú gấu bông.
A. Được đi vòng quanh nước Mĩ như người phóng viên trên ti vi.
Át-li làm thế nào để thực hiện được mong muốn của mình?
Xin bố mẹ cho mình tự do dạo quanh nước Mĩ bằng cách đi nhờ xe.
Cùng với gấu bông Các-men đi nhờ xe để dạo quanh nước Mĩ.
Nhờ bố đưa Các-men đi vòng quanh nước Mĩ.
Cho gấu bông Các-men thay mình đi nhờ xe dạo quanh nước Mĩ.
D. Cho gấu bông Các-men thay mình đi nhờ xe dạo quanh nước Mĩ.
Dòng nào dưới đây nêu đúng và đủ những vật lưu niệm mà gấu bông Các-men đem về cho Át-li?
Cái hộp đóng dấu bưu điện Ha-oai, mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp bể bơi A-ri-dô-na.
Mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp với chuột Míc-ki và chụp ở bể bơi A-ri-dô-na.
Cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, bức ảnh chụp chung với chuột Míc-ki, ảnh chụp Các-men đang bơi ở bể bơi ở A-ri-dô-na.
Cái hộp đóng dấu bưu điện Ha-oai, mũ rơm vùng Guy-con-sin, ảnh chụp Các-men đang bơi ở bể bơi ở A-ri-dô-na.
B. Mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp với chuột Míc-ki và chụp ở bể bơi A-ri-dô-na.
Em hiểu “những người bạn” trong câu “Nhưng Các-men đã mang về nhà còn nhiều hơn thế, nó còn trở về với những người bạn” là ai?
Là những người theo Các-men về nhà sau chuyến vòng quanh nước Mĩ.
Là những món quà mà mọi người gửi Các-men đem về.
Là những người Các-men gặp gỡ trên đường đi vòng quanh nước Mĩ.
Là những người bạn tốt bụng đã đưa Các-men đi vòng quanh nước Mĩ
D. Là những người bạn tốt bụng đã đưa Các-men đi vòng quanh nước Mĩ.
Câu chuyện để lại cho em suy nghĩ gì?
Câu chuyện để lại cho em suy nghĩ: mọi người trên khắp thế giới đều là bạn, họ luôn sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ nhau.
Hãy đánh số từ 1 đến 4 vào ô trống để được các bước tìm nghĩa của từ “niềm tin” trong từ điển Tiếng Việt.
☐Tìm từ niềm tin.
– Tìm tiếng niềm.
– Tìm tiếng đứng sau niềm: niềm + tin => niềm tin.
☐Đọc ví dụ để hiểu thêm nghĩa và cách dùng.
☐Tìm mục chữ N trong từ điển.
☐Đọc nghĩa của từ niềm tin.
2 | Tim từ niềm tin. – Tìm tiếng niềm – Tìm tiếng đứng sau niềm: niềm + tin => niềm tin. |
4 | Đọc ví dụ để hiểu thêm nghĩa và cách dùng. |
1 | Tìm mục chữ N trong từ điển. |
3 | Đọc nghĩa của từ niềm tin. |
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để được câu văn nêu đúng công dụng của từ điển.
______ từ thông qua các ______ .
Từ điển có công dụng cung cấp thông tin về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) và giúp chúng ta hiểu nghĩacủa từ đó, ngoài ra, nó còn cung cấp cách sử dụngtừ thông qua các ví dụ.
Dựa vào dàn ý đã lập tuần trước, em hãy viết bài văn kể lại một câu chuyện mà em yêu thích (em đã đọc hoặc đã nghe).
Gợi ý
1. Mở bài: Giới thiệu câu chuyện mà em muốn kể lại:
– Câu chuyện đó có tên là gì? Em đã đọc được (hoặc nghe kể) ở đâu?
– Câu chuyện đó có nội dung như thế nào? (truyện cổ tích em yêu thích, nằm trong sách giáo khoa Tiếng Việt, có nhân vật chính là trẻ em).
2. Thân bài: Kể lại nội dung câu chuyện đó theo trình tự thời gian:
Chú ý:
– Kể lại câu chuyện theo ngôi thứ 3.
– Kể đầy đủ các sự việc chính của câu chuyện.
– Kết hợp các chi tiết miêu tả (ngoại hình, cảm xúc, hành động của nhân vật) khi kể.
– Kết hợp các chi tiết thể hiện tình cảm, cảm xúc của em đối với sự kiện được kể (bất ngờ, hồi hộp, thích thú, xúc động...).
3. Kết bài:
– Tình cảm, cảm xúc của em dành cho câu chuyện vừa kể.
– Bài học mà em rút ra được từ câu chuyện đó.Ngày xưa có hai anh em mồ côi cha mẹ. Khi cha mẹ mất, người anh tham lam chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và cây khế sau vườn. Người em hiền lành nên đành chấp nhận và chăm chỉ làm ăn.
Đến mùa, cây khế sai trĩu quả. Một hôm có con chim lớn bay đến ăn khế. Người em buồn bã nói rằng mình chỉ có cây khế để sống. Nghe vậy, chim liền nói:
“Ăn một quả, trả cục vàng/ May túi ba gang, mang đi mà đựng.”
Người em làm theo lời chim. Hôm sau, chim chở người em bay qua biển đến một hòn đảo đầy vàng bạc. Người em chỉ lấy vừa đủ vàng rồi trở về. Nhờ vậy, cuộc sống của hai vợ chồng người em trở nên khá giả. Thấy em giàu có, người anh liền gạ đổi toàn bộ tài sản lấy cây khế. Người em đồng ý. Khi chim lại đến ăn khế và nói câu nói cũ, người anh may một chiếc túi thật to để đựng vàng. Chim chở anh ta ra đảo vàng. Vì quá tham lam, người anh nhặt rất nhiều vàng cho đầy túi. Khi bay về, túi vàng quá nặng khiến chim không bay nổi. Cuối cùng người anh rơi xuống biển.
Câu chuyện cho chúng ta bài học rằng: không nên tham lam, người hiền lành và biết đủ sẽ gặp điều tốt lành.



