1000+ câu Trắc nghiệm Luật dân sự, hình sự, hành chính (có đáp án) - Phần 19
30 câu hỏi
Tranh tụng trong tố tụng dân sự chỉ diễn ra tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Đúng hay Sai?
Sai (Điều 24 Bộ luật TTDS 2015, Bảo đảm tranh tụng trong xét xử, bao gồm các hoạt động giao nộp, công khai chứng cứ, hỏi đáp, tranh luận tại phiên tòa từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến giải quyết xong vụ án)
Từ 01/7/2016, việc dân sự yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết hội đồng cổ đông thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Đúng hay Sai?
Đúng (Khoản 1 Điều 31 Bộ luật TTDS 2015)
Tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty TNHH hoặc thành viên HĐQT, Giám đốc, Tổng Giám đốc trong công ty cổ phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Đúng hay Sai?
Đúng (Khoản 4 Điều 30 Bộ luật TTDS 2015)
Từ 01/7/2016, Tòa án được áp dụng tập quán để giải quyết vụ, việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định, Đúng hay Sai?
Sai (Khoản 1 Điều 45 Bộ luật TTDS 2015 phải có thêm điều kiện tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự)
Đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án áp dụng, trường hợp các đương sự viện dẫn tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc và không trái với các nguyên tắc cơ bản của PL dân sự, Đúng hay Sai?
Đúng (Khoản 1 Điều 45 Bộ luật TTDS 2015)
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự chỉ được cung cấp các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì lý do chính đáng, Đúng hay Sai?
Sai (Điểm b Khoản 1 Điều 287 Bộ luật TTDS 2015 còn có cả trường hợp Tòa sơ thẩm không yêu cầu và đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm)
Tại phiên tòa phúc thẩm, khi nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Đúng hay Sai?
Sai (Điều 300 Bộ luật TTDS 2015, Thỏa thuận phải tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hộI. Khi đó HĐXX ra bản án phúc thẩm sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự)
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì HĐXX không chấp nhận nếu bị đơn không đồng ý, Đúng hay Sai?
Đúng (Điểm a Khoản 1 Điều 299 Bộ luật TTDS 2015, HĐXX hỏi bị đơn, nếu bị đơn không đồng ý thì HĐXX không chấp nhận)
Sau khi thụ lý vụ án để xét xử theo thủ tục rút gọn, bị đơn có yêu cầu phản tố thì vụ án phải được chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường, Đúng hay Sai?
Đúng (Điểm đ Khoản 3 Điều 317 Bộ luật TTDS 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn được xem là tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn)
Tranh chấp dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn không có việc hóa giải, Đúng hay Sai?
Sai (Khoản 3 Điều 320 Bộ luật TTDS 2015 Không tổ chức hòa giải riêng mà được tiến hành ngay sau khi khai mạc phiên tòA..
Mọi trường hợp đương sự là người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng dân sự đều phải có nghi đại diện tham gia tố tụnG.
Sai. Bởi lẽ, khoản 6 Điều 57 BLTTDS quy định về năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự như sau: “Đương sự là ngôi từ đủ mườii lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó”.
Như vậy không phải trong tất cả các trường hợp đương sự là ngôi dưới 18 tuổi đều phải có người đại diện tham gia tố tụnG. Do đó khẳng định trên là Sai.
Trong trường hợp xét thấy cần thiết, để làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự Thẩm phán phải ra quyết định trng cầu giám địnH.
Sai. Bởi lẽ, theo quy định của BLTTDS, Thẩm phán ra quyết định trng cầu giám định theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự. Khoản 1 Điều 50 BLTTDS quy định: “Theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trng cầu giám địnH...”
Ngoài ra theo quy định tại điểm ở Tiểu mục 1.1. Mục I Phần IV Nghị quyết số 4/2005 ngày 17/09/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” quy định: “Chỉ khi đang sự có yêu cầu, thì Toà án mới tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ... Trưng cầu giám định, giám định bổ sung giám định lại (Điều 20 của BLTID)...”.
Đương sự có thể tham gia tố tụng với tư cách là ngôi đại diện cho đương sự khác trong cùng vụ án dân sự.
Khẳng định trên là Đúng. Bởi lẽ, điểm a khoản 1 Điều 75 BLTTDS: “Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật:
Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện...”.
Như vậy, theo quy định trên, pháp luật chỉ không cho phép đương sự tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho đương sự khác trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện và người được đại diện đối lập nhau. Các trường hợp pháp luật không cấm. Từ đó có thể hiểu rằng đương sự có thể tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho đương sự khác trong cùng vụ án dân sự nếu quyền và lợi ích hợp pháp của họ không đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm.
Khẳng định trên là Đúng. Bởi lẽ, Điều 243 BLTTDS quy định: “Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”.
Như vậy đối chiếu với quy định trên thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm.
Mọi trường hợp, người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện.
Khẳng định trên là Sai. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 120 của BLTTDS quy định: “Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu...”
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 6, 7, 8, 10, 11 Điều 102 bao gồm”
- Kê biên tài sản đang tranh chấp.
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
- Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ.
- Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước phong toả tài sản ở nơi gửi giữ.
Ngoài những biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, BLTTDS còn quy định một số biện pháp khẩn cấp tạm thời khác như: Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động: Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao độnG... và các biện pháp này khi được yêu cầu áp dụng thì không cần phải ký quỹ.
Như vậy, không phải tất cả các trường hợp người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện.
Toà án có thể ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về một phần của vụ án.
Khẳng định trên là Sai. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 2 Điều 187 của BLTTDS thì: “Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”
Như vậy, Toà án không thể ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về một phần của vụ án.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đáp án: Khẳng định trên là Sai. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật tố tụng dân sự”. Như vậy, theo quy định này trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Toà án sẽ không tiến hành hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự đó.
Khẳng định trên là Sai. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 193 BLTTDS quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, theo quy định trên thì nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự đó.
Tại phiên toà phúc thẩm, khi nguyên đơn và bị đơn thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Khẳng định trên là Sai. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 270 BLTTDS thì tại phiên toà phúc thẩm, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyên, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Mặt khác, Tiểu mục 5.2 Mục 5 Phần III Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Tại phiên toà phúc thẩm nếu các đương sự thỏa thuận đối với với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận này phải được ghi vào biên bản phiên toà. Nếu xét thấy thoả thuận của các đương sự là tự nguyện không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, thì hội đồng xét xử vào phòng nghị án thảo luận và ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.”
Như vậy, tại phiên toà phúc thẩm, khi nguyên đơn và bị đơn tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng thoả thuận đó là trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử không công nhận sự thoả thuận của đương sự. Nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của đương sự.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nếu bị đơn không đồng ý.
Khẳng định trên là Đúng. Bởi lẽ, điểm a khoản 1 Điều 269 BLTTDS quy định: “Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn cả đồng ý hay không bị dồn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn”,
Theo quy định tại BLTTDS có hiệu lực từ 1/7/2016 thì trong mọi trường hợp KSV vắng mặt tại phiên tòa, phiên tòa sẽ buộc phải hoãn. Theo anh chị Đúng hay Sai?
Sai, HĐXX chỉ hoãn phiên tòa khi KSV vắng mặt trường hợp VKS có kháng nghị.
Theo thủ tục phúc thẩm đối với QĐ sơ thẩm bị khủng cho kháng nghị thì trong mọi trường hợp không phải triệu tập các đương sự. Theo anh chị Đúng hay Sai?
Khẳng định trên là Sai vì trong trường hợp cần thiết thì vẫn triệu tập đương sự đến để nghe ý kiến của họ.
Thẩm quyền của HĐXXPT có 2 quyền: Giữ nguyên bản án sơ thẩm và sửa bản án sơ thẩm . Theo anh chị Đúng hay Sai?
Khẳng định trên là Sai HĐXX còn có quyền hủy án và định chỉ việc giải quyết, đình chỉ XXPT.
Tại phiên tòa phúc thẩm KSV phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong BLTTDS? Theo anh chị Đúng hay Sai?
Khẳng định trên là Sai vì ngoài phát biểu với tuân theo pháp luật về TTDS còn phát biểu vì giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau thì không bên nào phải chịu án phí sơ thẩm.
Theo anh chị Đúng hay Sai?.
Khẳng định trên là Sai vì đương sự vẫn phải chịu án phí, nếu các đương sự không thỏa thuận được với nhau thì tòa án quyết địnH.
Trong mọi trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX phải đình chỉ giải quyết vụ án. Theo anh chị Đúng hay Sai?
Sai vì nếu bị đơn đồng ý thì HĐXX mới ra QĐ hủy án sơ thẩm và định chỉ giải quyết vụ án.
Thời bạn kháng nghị phúc thẩm đối với bản án của Tòa án cấp sơ thầm của VKS cấp trên trực tiếp là 2 thánG.
Theo anh chị là Đúng hay Sai?
Sai vì thời hạn kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp là 1 thánG.
HĐXX phải hoãn phiên tòa phúc thẩm nếu đã triệu tập hợp lệ đương sự đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt.
Theo anh chị Đúng hay Sai?
Khẳng định trên là Sai, vì đã triệu tập đến lần thứ 2 mà không có lý do chính đáng thì coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo.
Trong tố tụng dân sự, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không tự mình thu thập được và có yêu cầu tòa án tiến hành thu thập chứng cứ.
Sai. Bởi lẽ, theo quy định tại Khoản 2 Điều 85, Điều 86, Điều 87, Điều 88, Điều 89 BLTTDS đã sửa đổi, bổ sung năm 2011, Tòa án vẫn có thể tiến hành lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, tiến hành đối chất, xem xét, thẩm định tại chỗ ngay cả khi không có yêu cầu của đương sự.
Toà án phải triệu tập người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham dự phiên hòa giải, tham gia phiên toà giải quyết vụ án dân sự.
Đúng. Bởi lẽ, theo quy định tại Khoản 3 Điều 64 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, Khoản 1 Điều 17 Nghị quyết số 05/2012/NQ- HĐTP, Điều 199 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì Tòa án phải triệu tập người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòA.








