Đề thi tham khảo ĐGNL Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 4
0 câu hỏi
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, nhưng nhiều loài đang giảm mạnh về số lượng, trong đó hơn 1/3 số loài động vật có vú đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả nghiên cứu được các nhà khoa học người Đức Hanna Höffner tại Đại học Cologne hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn thú Cologne và một số tổ chức quốc tế công bố trên tạp chí Nature Conservation cuối năm 2024.
Dữ liệu phân tích cho thấy, trong danh sách 329 loài động vật có vú xuất hiện tại Việt Nam, có tới 112 loài (khoảng 34%) có nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó, 36 loài là đặc hữu (không tồn tại ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới) và 9 loài được phân loại là siêu đặc hữu, chỉ xuất hiện ở những khu vực rất nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam. Các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất chủ yếu thuộc Bộ Linh trưởng, Bộ Thú ăn thịt, Bộ Guốc chẵn, Bộ Gặm nhấm và Dơi. Toàn bộ các loài động vật linh trưởng ở Việt Nam đều nằm trong danh sách bị đe dọa. Một số động vật linh trưởng như Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) và Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp. “Các khu vực như dãy Hoàng Liên Sơn ở miền Bắc và dãy Trường Sơn ở miền Trung và miền Nam cần quan tâm nhiều hơn đến công tác bảo tồn, bởi vì đây là nơi ẩn náu của nhiều loài đặc hữu”, nhóm nghiên cứu nhận định.
Nguyên nhân làm giảm số lượng loài chủ yếu đến từ sự gia tăng dân số, biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế nhanh chóng. Các hoạt động như chặt phá rừng để lấy đất trồng trọt, phát triển cơ sở hạ tầng và khai thác tài nguyên ngày càng làm gia tăng áp lực lên các hệ sinh thái tự nhiên. Ngoài ra, nạn săn bắn và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp cũng là một mối đe dọa lớn.
Nhóm nghiên cứu ủng hộ “Phương pháp tiếp cận Một kế hoạch (OPA)” của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đối với công tác bảo tồn loài. Đây là một chiến lược bảo tồn tích hợp, kết hợp các nỗ lực bảo vệ loài trong tự nhiên (in situ) và nuôi nhốt (ex situ), nhân giống có kiểm soát tại các vườn thú và trung tâm bảo tồn theo một kế hoạch chung. Hiện tại, khoảng 40% số loài bị đe dọa không nằm trong bất kỳ chương trình bảo tồn nuôi nhốt nào, khiến nguy cơ tuyệt chủng của chúng gia tăng. Phương pháp OPA khuyến khích sự hợp tác giữa các nhà khoa học, cơ quan quản lý, tổ chức phi chính phủ (NGO), cộng đồng địa phương và các vườn thú nhằm tối ưu hóa biện pháp bảo vệ loài, giúp giảm nguy cơ tuyệt chủng và đảm bảo sự tồn tại lâu dài của quần thể động vật.
(Theo Lê Hùng, trích Hơn 1/3 động vật có vú ở Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng,
https://vnexpress.net/hon-1-3-dong-vat-co-vu-o-viet-nam-co-nguy-co-tuyet-chung 4861366.html)
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 6 đến câu 12
Các nghiên cứu xã hội học đã chỉ ra rằng, “tật muộn giờ” của người Việt Nam là do nền sản xuất nông nghiệp hàng nghìn năm tạo ra, khi người ta không cần phải chính xác từng phút như sản xuất công nghiệp. Nhưng “di chứng” này liệu vẫn còn rơi rớt đến tận ngày nay, ở những con người sinh ra và trưởng thành tại thành thị, hầu như không, hoặc rất ít chịu ảnh hưởng bởi văn hóa nông nghiệp?
Tôi cho rằng, ngoài yếu tố mang tính lịch sử, văn hóa này, “bệnh muộn giờ” ngày nay có phần xuất phát từ tâm lý đám đông - mọi người đều thế cả, mình việc gì phải đúng giờ. Ai đến sớm hơn, đợi lâu hơn, chỉ có thiệt. Mặt khác, với tâm lý ngại va chạm, muốn dĩ hòa vi quý, không mấy ai lên tiếng chỉ trích người đến muộn, vì tránh “chuyện bé xé ra to”. Nhưng có thật muộn giờ chỉ là “chuyện bé”? Điều này thì những ai từng mất công việc, mất tiền, mất cơ hội, mất quan hệ vì muộn giờ, mới hiểu được.
Một căn nguyên khác của tật muộn giờ là thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng. Muộn giờ chính là chiếm dụng tài nguyên của người khác, bao gồm thời gian, công sức, sự hăng hái và cả những cơ hội.
Thói quen sử dụng “giờ cao su” của người lớn cũng có thể lây lan, ảnh hưởng đến trẻ nhỏ. Một đứa trẻ thường xuyên thấy cha mẹ muộn giờ sẽ khó mà rèn được tính kỷ luật. […]
Ở công sở, thói quen dễ dãi này còn thể hiện ở việc chậm deadline (không hoàn thành công việc đúng hạn), chậm phản hồi, chậm đưa ra quyết định, và nghĩ ra đủ loại lý do cho những sự chậm trễ đó. Mà ở Việt Nam, lý do luôn có sẵn: mưa gió, lụt lội, nóng quá, lạnh quá, tắc đường, hỏng xe, đau đầu, đau bụng, thậm chí bị công an giao thông bắt phạt ... Nếu là trong công việc, thì sự chậm trễ sẽ đi kèm phản xạ đổ lỗi: đối tác thiếu nhiệt tình, khách hàng quá khó tính, đồng nghiệp không hợp tác ... Chỉ có cái lỗi thuộc về bản thân thì ít người thẳng thắn nói ra. […] Một báo cáo của Heathrow Express ở Anh năm 2017 cho thấy thói quen đi làm muộn gây thiệt hại 11,7 tỷ USD cho nước này. Ở Mỹ, việc người lao động đi muộn khiến bang New York mất 700 triệu USD mỗi năm, con số này ở bang California là một tỷ USD.
Đúng giờ, là tôn trọng, cũng là tự trọng. Đúng giờ không khiến ta thiệt đi xu nào, nhưng lại có thể mang về vô số “lợi nhuận” trong tương lai. Ngược lại, muộn giờ chính là rước lấy những “khoản lỗ” không thể đo lường được, dù trước mắt ta không coi là to tát.
(Theo Trịnh Hằng, trích Việc gì phải đúng giờ, theo https://vnexpress.net/viec-gi-phai-dung-gio4797823.html, 28/9/2024)
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 13 đến câu 20
12 giờ đêm 28/9/1971
Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp lặn xuống chân trời.
Đồng đội của T. người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T. kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ánh đèn. Chỉ những vì sao, soi cho T. viết những dòng này.
Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối qua, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây, sẽ có nhiều lúc T. viết thế này. Chắc xấu như ma lem.
(Hành quân đây - chào Như Anh nhé - Thật tiếc) ...
Đến ga rồi, ga Văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân dụng. Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói giấu các “o văn công” chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội” (!). Những chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi xa ...
Sau cùng thì cũng xếp được ba lô lên tàu. Tàu T.Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng, đành đứng trước chỗ đi giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.
Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia rồi, là Hà Nội, là phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó với cuộc đời ta...
Sông Hồng ban đêm, mùa nước, cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện. Những con mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ ... Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi chảy qua thành Iêckut, đêm nào có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu ấy. Gió đừng thổi mà mái tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài ... Gió đừng thổi, hơi lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm ...
Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quý. Cây bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch đàn ơi, chạy theo anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh ... Ta bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
“Các em ơi, đã học chưa
Các anh dựng cho em trường mới nữa.
Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đứng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng ...”
Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của mảnh vườn tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi viết bài thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vết bom thù đã khơi dậy cho con ...
(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2003)
