Đề thi tham khảo ĐGNL Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 4
22 câu hỏi
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, nhưng nhiều loài đang giảm mạnh về số lượng, trong đó hơn 1/3 số loài động vật có vú đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả nghiên cứu được các nhà khoa học người Đức Hanna Höffner tại Đại học Cologne hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn thú Cologne và một số tổ chức quốc tế công bố trên tạp chí Nature Conservation cuối năm 2024.
Dữ liệu phân tích cho thấy, trong danh sách 329 loài động vật có vú xuất hiện tại Việt Nam, có tới 112 loài (khoảng 34%) có nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó, 36 loài là đặc hữu (không tồn tại ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới) và 9 loài được phân loại là siêu đặc hữu, chỉ xuất hiện ở những khu vực rất nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam. Các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất chủ yếu thuộc Bộ Linh trưởng, Bộ Thú ăn thịt, Bộ Guốc chẵn, Bộ Gặm nhấm và Dơi. Toàn bộ các loài động vật linh trưởng ở Việt Nam đều nằm trong danh sách bị đe dọa. Một số động vật linh trưởng như Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) và Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp. “Các khu vực như dãy Hoàng Liên Sơn ở miền Bắc và dãy Trường Sơn ở miền Trung và miền Nam cần quan tâm nhiều hơn đến công tác bảo tồn, bởi vì đây là nơi ẩn náu của nhiều loài đặc hữu”, nhóm nghiên cứu nhận định.
Nguyên nhân làm giảm số lượng loài chủ yếu đến từ sự gia tăng dân số, biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế nhanh chóng. Các hoạt động như chặt phá rừng để lấy đất trồng trọt, phát triển cơ sở hạ tầng và khai thác tài nguyên ngày càng làm gia tăng áp lực lên các hệ sinh thái tự nhiên. Ngoài ra, nạn săn bắn và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp cũng là một mối đe dọa lớn.
Nhóm nghiên cứu ủng hộ “Phương pháp tiếp cận Một kế hoạch (OPA)” của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đối với công tác bảo tồn loài. Đây là một chiến lược bảo tồn tích hợp, kết hợp các nỗ lực bảo vệ loài trong tự nhiên (in situ) và nuôi nhốt (ex situ), nhân giống có kiểm soát tại các vườn thú và trung tâm bảo tồn theo một kế hoạch chung. Hiện tại, khoảng 40% số loài bị đe dọa không nằm trong bất kỳ chương trình bảo tồn nuôi nhốt nào, khiến nguy cơ tuyệt chủng của chúng gia tăng. Phương pháp OPA khuyến khích sự hợp tác giữa các nhà khoa học, cơ quan quản lý, tổ chức phi chính phủ (NGO), cộng đồng địa phương và các vườn thú nhằm tối ưu hóa biện pháp bảo vệ loài, giúp giảm nguy cơ tuyệt chủng và đảm bảo sự tồn tại lâu dài của quần thể động vật.
(Theo Lê Hùng, trích Hơn 1/3 động vật có vú ở Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng,
https://vnexpress.net/hon-1-3-dong-vat-co-vu-o-viet-nam-co-nguy-co-tuyet-chung 4861366.html)
Nội dung chính của văn bản trên đề cập đến vấn đề gì?
Các loài động vật hoang dã phổ biến tại Việt Nam.
Vai trò của vườn thú trong việc bảo tồn động vật.
Sự phát triển kinh tế ảnh hưởng đến môi trường Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
- Văn bản tập trung phản ánh thực trạng nhiều loài động vật có vú ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời giới thiệu các nguyên nhân và giải pháp bảo tồn như phương pháp OPA.
A sai vì văn bản không giới thiệu các loài động vật phổ biến.
B sai vì vai trò của vườn thú chỉ là một phần của giải pháp.
C sai vì phát triển kinh tế chỉ là một trong các nguyên nhân.
D đúng vì khái quát đầy đủ nội dung của toàn văn bản.
=> Chọn D.
Phương pháp bảo tồn OPA là gì?
Chỉ tập trung vào việc bảo tồn động vật trong môi trường tự nhiên.
Tập trung vào việc hạn chế săn bắt động vật hoang dã.
Kết hợp bảo tồn trong tự nhiên và bảo tồn nuôi nhốt theo một kế hoạch chung.
Bảo vệ các vườn thú để lưu giữ động vật quý hiếm.
- OPA (One Plan Approach) là chiến lược bảo tồn tích hợp giữa: bảo tồn trong môi trường tự nhiên (in situ); bảo tồn ngoài tự nhiên (ex situ); phối hợp nhiều tổ chức trong một kế hoạch thống nhất.
- Các phương án A, B, D chỉ phản ánh một phần nên chưa đúng.
=> Chọn C.
Sự khác biệt giữa động vật đặc hữu và siêu đặc hữu ở Việt Nam là gì?
Động vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, còn siêu đặc hữu chỉ xuất hiện trong một phạm vi rất nhỏ ở Việt Nam.
Động vật đặc hữu chỉ xuất hiện ở Việt Nam và Trung Quốc, còn siêu đặc hữu chỉ có ở Đông Nam Á.
Động vật siêu đặc hữu có số lượng nhiều hơn động vật đặc hữu.
Động vật đặc hữu dễ thích nghi hơn động vật siêu đặc hữu.
- Theo văn bản: Động vật đặc hữu: chỉ có ở Việt Nam. Động vật siêu đặc hữu: chỉ xuất hiện ở một phạm vi rất nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam. Các phương án còn lại đều không đúng với thông tin được nêu.
=> Chọn A.
Vì sao việc phát triển kinh tế lại góp phần làm giảm số lượng loài động vật hoang dã?
Vì phát triển kinh tế làm giảm nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã.
Vì phát triển kinh tế đi đôi với gia tăng dân số và mở rộng cơ sở hạ tầng, làm mất môi trường sống tự nhiên.
Vì các quốc gia phát triển thường không quan tâm đến bảo vệ động vật hoang dã.
Vì nền kinh tế không liên quan đến bảo tồn động vật.
- Văn bản chỉ rõ: phát triển kinh tế kéo theo mở rộng cơ sở hạ tầng, khai thác tài nguyên, phá rừng..., làm mất môi trường sống của động vật. Do đó: B đúng.
- Các phương án khác trái với nội dung văn bản.
=> Chọn B.
Việc bảo tồn động vật hoang dã là trách nhiệm của riêng các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Để bảo vệ đa dạng sinh học, cần có sự hợp tác giữa nhiều bên, bao gồm chính phủ, tổ chức khoa học và cộng đồng.
Bảo tồn động vật chỉ nên tập trung vào các loài đặc hữu.
Không cần bảo tồn động vật nuôi nhốt, vì chỉ bảo vệ trong tự nhiên là đủ.
- Tác giả nhấn mạnh việc bảo tồn chỉ hiệu quả khi có sự phối hợp giữa: nhà khoa học;
cơ quan quản lí; tổ chức phi chính phủ; cộng đồng địa phương; các vườn thú.
=> Chọn B.
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 6 đến câu 12
Các nghiên cứu xã hội học đã chỉ ra rằng, “tật muộn giờ” của người Việt Nam là do nền sản xuất nông nghiệp hàng nghìn năm tạo ra, khi người ta không cần phải chính xác từng phút như sản xuất công nghiệp. Nhưng “di chứng” này liệu vẫn còn rơi rớt đến tận ngày nay, ở những con người sinh ra và trưởng thành tại thành thị, hầu như không, hoặc rất ít chịu ảnh hưởng bởi văn hóa nông nghiệp?
Tôi cho rằng, ngoài yếu tố mang tính lịch sử, văn hóa này, “bệnh muộn giờ” ngày nay có phần xuất phát từ tâm lý đám đông - mọi người đều thế cả, mình việc gì phải đúng giờ. Ai đến sớm hơn, đợi lâu hơn, chỉ có thiệt. Mặt khác, với tâm lý ngại va chạm, muốn dĩ hòa vi quý, không mấy ai lên tiếng chỉ trích người đến muộn, vì tránh “chuyện bé xé ra to”. Nhưng có thật muộn giờ chỉ là “chuyện bé”? Điều này thì những ai từng mất công việc, mất tiền, mất cơ hội, mất quan hệ vì muộn giờ, mới hiểu được.
Một căn nguyên khác của tật muộn giờ là thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng. Muộn giờ chính là chiếm dụng tài nguyên của người khác, bao gồm thời gian, công sức, sự hăng hái và cả những cơ hội.
Thói quen sử dụng “giờ cao su” của người lớn cũng có thể lây lan, ảnh hưởng đến trẻ nhỏ. Một đứa trẻ thường xuyên thấy cha mẹ muộn giờ sẽ khó mà rèn được tính kỷ luật. […]
Ở công sở, thói quen dễ dãi này còn thể hiện ở việc chậm deadline (không hoàn thành công việc đúng hạn), chậm phản hồi, chậm đưa ra quyết định, và nghĩ ra đủ loại lý do cho những sự chậm trễ đó. Mà ở Việt Nam, lý do luôn có sẵn: mưa gió, lụt lội, nóng quá, lạnh quá, tắc đường, hỏng xe, đau đầu, đau bụng, thậm chí bị công an giao thông bắt phạt ... Nếu là trong công việc, thì sự chậm trễ sẽ đi kèm phản xạ đổ lỗi: đối tác thiếu nhiệt tình, khách hàng quá khó tính, đồng nghiệp không hợp tác ... Chỉ có cái lỗi thuộc về bản thân thì ít người thẳng thắn nói ra. […] Một báo cáo của Heathrow Express ở Anh năm 2017 cho thấy thói quen đi làm muộn gây thiệt hại 11,7 tỷ USD cho nước này. Ở Mỹ, việc người lao động đi muộn khiến bang New York mất 700 triệu USD mỗi năm, con số này ở bang California là một tỷ USD.
Đúng giờ, là tôn trọng, cũng là tự trọng. Đúng giờ không khiến ta thiệt đi xu nào, nhưng lại có thể mang về vô số “lợi nhuận” trong tương lai. Ngược lại, muộn giờ chính là rước lấy những “khoản lỗ” không thể đo lường được, dù trước mắt ta không coi là to tát.
(Theo Trịnh Hằng, trích Việc gì phải đúng giờ, theo https://vnexpress.net/viec-gi-phai-dung-gio4797823.html, 28/9/2024)
Do nông nghiệp đòi hỏi sự chính xác từng phút.
Do nông nghiệp không yêu cầu sự chính xác cao về thời gian.
Do người làm nông thường xuyên muộn giờ.
Do nông nghiệp chú trọng hiệu suất hơn thời gian.
- Theo văn bản, nền sản xuất nông nghiệp không đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối về thời gian như sản xuất công nghiệp nên hình thành thói quen chưa coi trọng giờ giấc.
=> Chọn B.
Yếu tố nào sau đây KHÔNG được nhắc đến là nguyên nhân của tật muộn giờ?
Tâm lý đám đông.
Thói ích kỷ và vô kỷ luật.
Tính tự trọng cao.
Tâm lý ngại va chạm.
- Những nguyên nhân được nêu: tâm lí đám đông; ngại va chạm; ích kỉ; vô kỉ luật; thiếu tự trọng. “Tính tự trọng cao” hoàn toàn không phải nguyên nhân.
=> Chọn C.
Luận đề chính của văn bản là gì?
Chứng minh rằng thói quen muộn giờ của người Việt có nguồn gốc từ nền sản xuất nông nghiệp.
Phân tích nguyên nhân và hậu quả của thói quen muộn giờ trong đời sống hiện đại.
So sánh cách tuân thủ giờ giấc của người Việt với các quốc gia khác.
Chỉ ra rằng muộn giờ chỉ là một thói quen nhỏ, không đáng quan tâm.
- Luận đề xuyên suốt là: phân tích nguyên nhân và hậu quả của thói quen muộn giờ, từ đó kêu gọi thay đổi.
=> Chọn B.
Trong câu “Một căn nguyên khác của tật muộn giờ là thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng”, tác giả muốn nhấn mạnh về điều gì?
Chứng minh rằng muộn giờ là điều hiển nhiên trong xã hội hiện đại.
Nhấn mạnh rằng muộn giờ không ảnh hưởng đến người khác.
Phản bác quan điểm cho rằng muộn giờ là chuyện bình thường.
Đánh giá tính chất đạo đức của hành vi muộn giờ.
- Câu văn: “Một căn nguyên khác của tật muộn giờ là thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng.” không chỉ nêu nguyên nhân mà còn đánh giá bản chất đạo đức của hành vi muộn giờ.
=> Chọn D.
Từ “phản xạ đổ lỗi” trong ngữ cảnh văn bản cần được hiểu như thế nào?
Chấp nhận trách nhiệm cá nhân.
Thời gian phản ứng khi đổ lỗi.
Tìm lý do từ đối tác, khách hàng, đồng nghiệp.
Thừa nhận những sai sót của mình trong công việc.
- “Phản xạ đổ lỗi” là thói quen tìm nguyên nhân ở: đối tác; khách hàng; đồng nghiệp; hoàn cảnh... thay vì nhận lỗi về mình.
=> Chọn C.
Phê phán thói quen muộn giờ và kêu gọi thay đổi nhận thức.
Chỉ ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thói quen muộn giờ.
Chứng minh rằng thói quen muộn giờ chỉ tồn tại trong môi trường công sở.
Khẳng định đúng giờ là biểu hiện của sự tôn trọng và tự trọng.
- Văn bản không hề cho rằng muộn giờ chỉ tồn tại trong môi trường công sở, mà còn đề cập trong gia đình, xã hội.
=> Chọn C.
Thông điệp chính mà tác giả muốn gửi gắm là gì?
Muộn giờ không chỉ là một thói quen nhỏ, mà còn ảnh hưởng lớn đến cá nhân và xã hội.
Việt Nam cần có luật nghiêm khắc hơn để xử phạt những người đi muộn.
Nền sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chính gây ra thói quen muộn giờ.
Con người không thể thay đổi thói quen muộn giờ do đã hình thành từ lịch sử.
- Thông điệp của bài viết: đúng giờ là biểu hiện của sự tôn trọng; muộn giờ gây thiệt hại cho cá nhân và xã hội; cần thay đổi thói quen này.
=> Chọn A.
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 13 đến câu 20
12 giờ đêm 28/9/1971
Như Anh có thích đọc những dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang nằm trên bờ một con sông. Sông đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp lặn xuống chân trời.
Đồng đội của T. người thì đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T. kê, có 2 lá thư sắp gửi cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ánh đèn. Chỉ những vì sao, soi cho T. viết những dòng này.
Bắt đầu cuộc đời bộ đội là thế này đây. Tối qua, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây, sẽ có nhiều lúc T. viết thế này. Chắc xấu như ma lem.
(Hành quân đây - chào Như Anh nhé - Thật tiếc) ...
Đến ga rồi, ga Văn Điển. Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân dụng. Chẳng chịu được nữa, mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói giấu các “o văn công” chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội” (!). Những chuyến tàu đêm chạy từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra những cuộn khói, những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi xa ...
Sau cùng thì cũng xếp được ba lô lên tàu. Tàu T.Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng, đành đứng trước chỗ đi giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.
Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia rồi, là Hà Nội, là phố Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà Nội, 3 hoặc 4 tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó với cuộc đời ta...
Sông Hồng ban đêm, mùa nước, cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện. Những con mắt chói ngời kia bảo ta, đó là bờ ... Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi chảy qua thành Iêckut, đêm nào có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu ấy. Gió đừng thổi mà mái tóc lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài ... Gió đừng thổi, hơi lành lạnh đấy, mà áo thì mỏng về nhà lại ốm ...
Bắt đầu xuất hiện bạch đàn dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quý. Cây bạch đàn chép lại cho ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch đàn ơi, chạy theo anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh nằm xuống, bạch đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn với đời, cứ hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca về cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh ... Ta bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:
“Các em ơi, đã học chưa
Các anh dựng cho em trường mới nữa.
Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đứng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng ...”
Ta đã đi qua vùng đồi trung du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn hằn rõ ở đây. Ta đã nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu gang thép. Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình chỉ cho ta giá trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của mảnh vườn tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi viết bài thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vết bom thù đã khơi dậy cho con ...
(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2003)
Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Hồi ký.
Nhật ký.
Truyện ngắn.
Phóng sự.
- Văn bản ghi rõ: “12 giờ đêm 28/9/1971” và ghi chép những suy nghĩ theo trình tự thời gian của chính người viết. Đó là đặc trưng của nhật ký.
=> Chọn B.
Yếu tố nào trong văn bản thể hiện tính phi hư cấu?
Những địa danh có thật như Hà Nội, Bắc Thái.
Lối kể chuyện giàu cảm xúc.
Hình ảnh cây bạch đàn mang tính biểu tượng.
Việc liên tưởng đến dòng sông Ănggara
- Tính phi hư cấu thể hiện ở việc ghi chép các sự kiện, địa danh có thật: Hà Nội; ga Văn Điển; ga Hàng Cỏ; Bắc Thái...
=> Chọn A.
Giọng điệu chủ đạo của văn bản là gì?
Trang nghiêm, hùng tráng.
Trữ tình, lãng mạn.
Bi thương, u buồn.
Kịch tính, căng thẳng
- Giọng điệu của đoạn nhật ký vừa: giàu cảm xúc; tha thiết; nhiều liên tưởng; yêu thiên nhiên, quê hương và con người. Đó là giọng trữ tình, lãng mạn.
=> Chọn B.
Dòng nào sau đây KHÔNG lý giải vì sao tác giả nhắc đến “cây bạch đàn” nhiều lần trong văn bản?
Cây bạch đàn gắn với ký ức tuổi thơ của tác giả.
Cây bạch đàn tượng trưng cho sức sống mãnh liệt.
Cây bạch đàn là biểu tượng của quê hương, nơi tác giả luôn nhớ về.
Cây bạch đàn đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến.
- Cây bạch đàn trong đoạn trích:gợi tuổi thơ; gợi quê hương; tượng trưng cho sức sống và những kỉ niệm đẹp. Văn bản không hề nói cây bạch đàn giữ vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến.
=> Chọn D.
Hình ảnh con tàu trong đoạn nhật ký mang ý nghĩa gì?
Là phương tiện di chuyển đơn thuần.
Là biểu tượng của hành trình xa nhà và những ước mơ.
Là nơi tác giả cảm thấy mệt mỏi.
Không có ý nghĩa đặc biệt.
- Con tàu không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn biểu tượng cho: hành trình ra trận; sự trưởng thành; chia tay Hà Nội; mang theo bao ước mơ và hi vọng.
=> Chọn B.
Trong câu “Đêm âm u quá, cánh đồng vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì.” đã sử dụng biện pháp tu từ gì?
Nhân hoá.
Ẩn dụ.
Hoán dụ..
So sánh
- Biện pháp nhân hóa: “Con tàu thở phì phì” - gán hoạt động của con người cho con tàu.
=> Chọn A.
Văn bản phản ánh điều gì về tâm trạng của người lính trẻ?
Sự mệt mỏi, chán nản khi hành quân.
Sự lo lắng về tương lai.
Cảm giác đơn độc, lạc lõng.
Lòng háo hức với hành trình mới nhưng cũng đầy suy tư.
- Người lính: háo hức lên đường; yêu cuộc sống; nhớ quê hương; suy ngẫm về chiến tranh và trách nhiệm.
=> Chọn D.
Nhật ký gửi gắm thông điệp gì về người lính?
Người lính cũng có tâm hồn lãng mạn, giàu tình cảm.
Người lính chỉ biết chiến đấu, không quan tâm đến cuộc sống.
Người lính luôn sợ hãi trước những khó khăn.
Người lính không có thời gian suy tư về quê hương.
- Qua đoạn nhật ký, người đọc thấy: người lính không chỉ dũng cảm mà còn rất giàu cảm xúc; yêu quê hương; yêu thiên nhiên; có tâm hồn lãng mạn.
=> Chọn A.
PHẦN II: NGHỊ LUẬN
Viết đoạn văn (khoảng 200 - 250 chữ) phân tích hình tượng cái “Tôi” tác giả trong đoạn trích Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 - 250 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích hình tượng cái “Tôi” tác giả trong đoạn trích Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc).
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau:
- Giới thiệu hình tượng cái “tôi” trong đoạn nhật ký.
- Cái “tôi” hiện lên là một người lính trẻ giàu cảm xúc, yêu thiên nhiên, yêu quê hương và Hà Nội.
- Có tâm hồn lãng mạn, tinh tế qua những cảm nhận về trăng, dòng sông, cây bạch đàn, đoàn tàu...
- Luôn hướng về người thân, bạn bè, mái trường và những kỉ niệm tuổi trẻ.
- Dù hành quân gian khổ vẫn lạc quan, giàu lí tưởng, sẵn sàng lên đường bảo vệ Tổ quốc.
- Nghệ thuật: ngôi kể thứ nhất; kết hợp tự sự với biểu cảm; ngôn ngữ chân thực; nhiều hình ảnh giàu chất thơ.
- Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ thanh niên thời kháng chiến.
d. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Viết bài luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về tinh thần trách nhiệm của giới trẻ hiện nay.
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tinh thần trách nhiệm của giới trẻ hiện nay.
c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo
hướng :
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, tinh thần trách nhiệm là phẩm chất quan trọng giúp người trẻ khẳng định bản thân và đóng góp cho đất nước.
* Thân bài:
- Giải thích: Tinh thần trách nhiệm là ý thức tự giác thực hiện tốt bổn phận của mình đối với bản thân; gia đình; cộng đồng; đất nước đồng thời dám chịu trách nhiệm về hành động của mình.
- Bàn luận:
+ Vai trò: Giúp cá nhân trưởng thành, tạo dựng uy tín và niềm tin, nâng cao hiệu quả học tập và công việc, góp phần xây dựng xã hội văn minh.
+ Biểu hiện: Học tập nghiêm túc, giữ lời hứa, đúng giờ, trung thực, chủ động cống hiến, có trách nhiệm với môi trường, có trách nhiệm trên không gian mạng.
+ Phê phán: Một bộ phận giới trẻ: sống thờ ơ; thiếu kỉ luật; đùn đẩy trách nhiệm; chỉ quan tâm lợi ích cá nhân; thiếu ý thức cộng đồng. Đó là những biểu hiện cần thay đổi.
- Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người trẻ cần rèn luyện tính tự giác; biết chịu trách nhiệm với lời nói và hành động; không ngừng học tập; sống trung thực; cống hiến cho cộng đồng; góp phần xây dựng đất nước.
* Kết bài:
- Khẳng định: Tinh thần trách nhiệm là nền tảng của nhân cách và là điều kiện để tuổi trẻ phát huy năng lực, đóng góp tích cực cho xã hội. Mỗi thanh niên cần nuôi dưỡng phẩm chất này bằng những hành động thiết thực trong học tập, lao động và cuộc sống hằng ngày.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt: bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.




