Đề thi tham khảo ĐGNL Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 3
Đề thi

Đề thi tham khảo ĐGNL Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 3

A
Admin
ĐHSP TP.Hồ Chí MinhĐánh giá năng lực2 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Chuyện người di cư quên từ vựng trong ngôn ngữ mẹ đẻ, diễn đạt câu cú kỳ quặc, hay nói tiếng mẹ đẻ bằng giọng nước sở tại vốn không có gì lạ. Thách thức lớn hơn với những người đã “quên” ngôn ngữ quê nhà là làm sao truyền lại cho con cái thứ mà chính họ hầu như còn không mấy thông thạo.

Theo The New York Times, trong suốt một thời gian dài, trọng tâm của ngành ngôn ngữ học hầu như chỉ xoay quanh chuyện làm thế nào học các thứ tiếng. Nhưng vài thập kỷ trở lại đây, xuất hiện một lĩnh vực nghiên cứu mới - hiện tượng suy mòn tiếng mẹ đẻ (language attrition). Trong Memory Speaks (2021), cuốn sách viết về tình trạng quên ngôn ngữ và hành trình học lại tiếng Czech thời thơ ấu, nhà ngôn ngữ học Julie Sedivy viết: “Không có độ tuổi nào mà một ngôn ngữ, ngay cả tiếng mẹ đẻ, gắn chặt vào não đến mức không thể bị một ngôn ngữ mới thay thế hoặc thay đổi. Giống như một gia đình chào đón một đứa trẻ mới, một tâm trí đơn lẻ không thể tiếp nhận một ngôn ngữ mới mà không có tác động nào đến các ngôn ngữ khác đã biết trước đó”. Monika S. Schmid, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực suy mòn ngôn ngữ tại Đại học York, cho biết: “Khi bạn có hai ngôn ngữ sống trong não, mỗi lần bạn nói điều gì đó, mỗi lần bạn dùng một từ, mỗi lần bạn ghép câu, bạn phải đưa ra lựa chọn. Đôi khi ngôn ngữ này được chọn, nhưng có khi lại là ngôn ngữ kia”.

Theo Schmid, tuổi tác là yếu tố quan trọng trong việc duy trì ngôn ngữ. Trẻ em từ 8-10 tuổi có thể thành thạo một ngôn ngữ ở trình độ người bản xứ, nhưng nếu ngừng sử dụng trước 12 tuổi, khả năng quên ngôn ngữ đó là rất cao. Ngôn ngữ được học từ nhỏ thường có sự gắn kết cảm xúc mạnh mẽ, nhưng khi không còn sử dụng, nó có thể phai mờ dần. Một nghiên cứu về những người đã trưởng thành được nhận nuôi tại Pháp từ Hàn Quốc trong khoảng 3-8 tuổi cho thấy khả năng nhận biết câu tiếng Hàn của họ chỉ ngang ngửa nhóm người Pháp bản ngữ. Một nghiên cứu những người di cư Hà Lan đến Úc khi trưởng thành cho thấy thay vì mất đi ngôn ngữ gốc, họ lại có hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, tiếng Hà Lan và tiếng Anh bắt đầu trộn lẫn với nhau, họ khó phân biệt và giữ riêng từng ngôn ngữ.

“Thằng mù lại dắt thằng mù” (The Blind Leading the Blind), tên bức tranh của danh họa Pieter Bruegel đã thành thành ngữ trong tiếng Anh, chỉ việc dẫn dắt người khác khi chính mình còn thiếu hiểu biết. Những bậc cha mẹ là dân nhập cư thế hệ thứ hai cũng đành sắm vai những thầy mù dắt con cái họ đi trên con đường chinh phục lại tiếng mẹ đè, dẫu biết giới hạn ngôn ngữ của bản thân.

(Theo Phan Bảo, trích Tiếng mẹ đẻ Ngỡ mãi không quên, nhưng rồi sẽ mất, https://tuoitre.vn/tieng-me-de-ngo-mai-khong-quen-nhung-roi-se-mat 20250224174932177.htm)

Đoạn văn

Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 6 đến câu 12

Khi nghiên cứu về tính cách người Việt ở Nam bộ, các nhà nghiên cứu không thể không nhắc đến tính năng động sáng tạo của người Việt trên mảnh đất này. Tính cách này thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau như thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt trên vùng đất mới, các yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được cải biến để hòa hợp với điều kiện mới. Chính điều này đã tạo cho người dân Nam bộ có những nét riêng khá độc đáo đối với các vùng miền khác.

Trên vùng đất mới còn hoang sơ, rừng thiêng nước độc, hùm beo, rắn rết đầy rẫy, vừa khơi dậy tiềm năng khai thác dồi dào vừa là một thách thức nghiệt ngã đối với những con người phải dấn thân. Nếu như không phát huy được tính cần lao, dũng cảm vốn có của người dân Việt thì khó có thể tồn tại được. Trong buổi đầu khai khẩn vùng đất Nam bộ, chúng ta thấy có đủ hạng người đến đây quần tụ: phần đông là những người mất phương kế sinh nhai nơi quê cũ vì rất nhiều lý do mà giai cấp thống trị phong kiến ràng buộc họ như bị tước đoạt ruộng đất, những người chống đối lại triều đình, trốn lính, hay những kẻ phải mang những bản án vào thân ... Tất cả họ đều muốn tìm một cuộc sống mới trên vùng đất mới dù biết trước những khó khăn, khắc nghiệt không dễ vượt qua.

Phải nói rằng vùng đất phương Nam từ khi bắt đầu khai phá và phát triển trải qua mấy thế kỷ nay vẫn là địa bàn sôi động nhất, bắt buộc mọi người đến đây không kể nguồn gốc xuất xứ đều năng động, sáng tạo mới có thể vươn lên trong đấu tranh, xây dựng cuộc sống. [ ... ]

Tiêu xài rộng rãi cũng là một đặc điểm thường được nhắc tới khi nói về tính cách người Nam bộ. Thiên nhiên hào phóng thì cũng sẽ tạo ra những con người hào phóng, người ta ít lo lắng cho cuộc sống của mình ở ngày mai. Tất cả chỉ có tình người dù họ biết rằng ngày mai, ngày mốt mình không còn cái gì để sống. Lối sống đó trở thành một tập quán xã hội, ảnh hưởng đến tất cả mọi người, cả những khi đời sống vật chất khó khăn. Người nông dân bị bóc lột cơ cực, ít có hy vọng trở nên khá giả thì không cần dành dụm, làm được bao nhiêu cứ xài cho hết. Khi lâm vào cảnh thất nghiệp họ vẫn có thể thức đến tận khuya để uống rượu và đờn ca tài tử, chẳng bận tâm gì cho cuộc sống ngày mai.

(Theo Trần Minh Thuận, trích Đôi nét về tính cách người Nam bộ,

https://nhamyngocsuong.blogspot.com/2022/03/oi-net-ve-tinh-cach-nguoi-nam-bo-tran.html)

Đoạn văn

Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 13 đến câu 20

Lược trích: Trần Ốc là một tên ăn trộm. Ốc và Ngao đến ăn trộm nhà Trùm Sò. Bị lộ, Ốc chạy thoát còn Ngao bị bắt. Bị Lí Hà đánh đòn, Ngao buộc phải nhận là mình đi ăn trộm. Ngao bị giam ở điếm canh. Ốc đến cứu Ngao trốn thoát:

Lớp 5:

TRẦN ỐC:

May may mà rủi rủi

Rủi rủi lại may may!

May chân Ốc chạy hay,

Rủi cho Ngao bị bắt

Việc tưởng đà rất ngặt,

Thế ta phải sớm toan1

Mau chân Ốc vội vàng,

Cứu thầy Ngao cho được.

(Hạ)

 

Lớp 6:

LÍ HÀ:

Trai đinh! Cùm chân nó lại.

(Chúng dân cùm, Ngao không cho)

LỮ NGAO:

Đứa nào động đến móng chân thầy, thầy đá cho mà chết.

DÂN CHÚNG:

Bẩm thầy Lí, nó đá.

LÍ HÀ:

Bay lấy dây cột đầu treo lên xà nhà cho tao!

(Chúng dân cùm Ngao)

LỮ NGAO:

Thôi được, thầy cho bay cùm.

LÍ HÀ:

Cùm cả hai chân.

LỮ NGAO:

Ấy, ấy! Thầy không cho.

TRÙM SÒ:

Lấy dùi đục gõ mắt cá chân đi!

LỮ NGAO:

Thôi, bay nói hết lời, thầy cho bay cùm hai chân đây.

TRÙM SÒ:

Thôi anh em dân canh giữ lấy nó.

Gia đinh bay! Về ngay!

Mời thầy Lí về nhà tôi xơi chén rượu.

 

Lớp 7:

TRẦN ỐC:

Khuyến bí vật bi! Vật bi2

Hữu ngô lai trợ! Lai trợ!

Gian nan hà túc lự?

Khẩn cấp khả đào sanh.

(Quân canh ngủ. Ốc sờ soạng lại chỗ Ngao, Ngao hất Ốc ra)

LỮ NGAO:

A! A! Thầy biết rồi. Thằng Trùm Sò mời thằng Lí Hà về uống rượu, rồi bàn bạc với nhau, thấy bắt thầy cùm là thất lí3, mới cho người mở cùm cho thầy, để thầy đi đàng thầy cho trôi. Chớ giải thầy lên quan thì phải tốn kém. Thầy dại gì cho bay mở cùm! Tao nằm đây, con dòi to bằng cổ tay tao chưa về ... Phen này, Trùm Sò phải hết cửa hết nhà với thầy cho coi! Bay giải thầy lên quan, trước hết phải mua chai rượu làm lễ ra mắt quan. Quan Huyện mới nhận chai rượu đó, mới đưa vào trong cho bà Huyện. Quan mới xử lăng nhăng chi chi đó, rồi quan nạt quan nộ, lão Trùm Sò phải lén ngõ sau mua lại cho bà Huyện, để thưa thưa, bẩm bẩm lần nữa. Vậy là nay khai, mai báo, chai rượu đó cứ luân hồi trước ngõ sau làm cho Trùm Sò phải hết nhà! Hết nhà! Hà hà ... Bay có khôn ra đây, thầy bày cho! Bay sắm khay trầu can rượu với chừng dăm quan tiền thôi, bay qua thưa với mụ thầy là con vợ tao đấy, nói khó với nó một tiếng, nó qua nhận thầy về. Vậy mà chắc chi thầy đã về cho! Em chết rồi, em Sò của thầy ơi! Hà hà ...

TRẦN ỐC:

(Phải giả tiếng mèo để làm hiệu riêng gọi) Ngao! Ng ... a ... o!

LỮ NGAO:

(Đoán biết ám hiệu, cũng theo tiếng mèo đáp lại) Ốc! Ốc!

(Ốc đến mở cùm cõng Ngao chạy. Quân canh thức dậy, hô hoán truy lùng ... )

TRẦN ÓC:

Lâm nước bí! Lâm nước bí!

Khó thoát thân! Khó thoát thân!

Qủa dân đinh đã đuổi theo.

Đốt xích hậu mới mong chạy thoát.

(Ốc giấu Ngao một nơi, trở lại đốt xích hậu, chúng dân đồ về chữa cháy. Ốc cõng Ngao chạy thoát)

(Trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến, Khuyết danh, In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,

tập 12, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)

Chú thích:

1. Toan: Lo liệu, mưu tính.

2. Khuyên gã chớ buồn, chớ buồn.

Có ta đến giúp! Đến giúp!

Gian nan đâu đủ cho ta phải lo?

Mau gấp lên có thể chạy thoát.

3. Thất lí: đuối lí (vì không có bằng chứng)