Đề thi tham khảo ĐGNL Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 3
22 câu hỏi
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Chuyện người di cư quên từ vựng trong ngôn ngữ mẹ đẻ, diễn đạt câu cú kỳ quặc, hay nói tiếng mẹ đẻ bằng giọng nước sở tại vốn không có gì lạ. Thách thức lớn hơn với những người đã “quên” ngôn ngữ quê nhà là làm sao truyền lại cho con cái thứ mà chính họ hầu như còn không mấy thông thạo.
Theo The New York Times, trong suốt một thời gian dài, trọng tâm của ngành ngôn ngữ học hầu như chỉ xoay quanh chuyện làm thế nào học các thứ tiếng. Nhưng vài thập kỷ trở lại đây, xuất hiện một lĩnh vực nghiên cứu mới - hiện tượng suy mòn tiếng mẹ đẻ (language attrition). Trong Memory Speaks (2021), cuốn sách viết về tình trạng quên ngôn ngữ và hành trình học lại tiếng Czech thời thơ ấu, nhà ngôn ngữ học Julie Sedivy viết: “Không có độ tuổi nào mà một ngôn ngữ, ngay cả tiếng mẹ đẻ, gắn chặt vào não đến mức không thể bị một ngôn ngữ mới thay thế hoặc thay đổi. Giống như một gia đình chào đón một đứa trẻ mới, một tâm trí đơn lẻ không thể tiếp nhận một ngôn ngữ mới mà không có tác động nào đến các ngôn ngữ khác đã biết trước đó”. Monika S. Schmid, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực suy mòn ngôn ngữ tại Đại học York, cho biết: “Khi bạn có hai ngôn ngữ sống trong não, mỗi lần bạn nói điều gì đó, mỗi lần bạn dùng một từ, mỗi lần bạn ghép câu, bạn phải đưa ra lựa chọn. Đôi khi ngôn ngữ này được chọn, nhưng có khi lại là ngôn ngữ kia”.
Theo Schmid, tuổi tác là yếu tố quan trọng trong việc duy trì ngôn ngữ. Trẻ em từ 8-10 tuổi có thể thành thạo một ngôn ngữ ở trình độ người bản xứ, nhưng nếu ngừng sử dụng trước 12 tuổi, khả năng quên ngôn ngữ đó là rất cao. Ngôn ngữ được học từ nhỏ thường có sự gắn kết cảm xúc mạnh mẽ, nhưng khi không còn sử dụng, nó có thể phai mờ dần. Một nghiên cứu về những người đã trưởng thành được nhận nuôi tại Pháp từ Hàn Quốc trong khoảng 3-8 tuổi cho thấy khả năng nhận biết câu tiếng Hàn của họ chỉ ngang ngửa nhóm người Pháp bản ngữ. Một nghiên cứu những người di cư Hà Lan đến Úc khi trưởng thành cho thấy thay vì mất đi ngôn ngữ gốc, họ lại có hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, tiếng Hà Lan và tiếng Anh bắt đầu trộn lẫn với nhau, họ khó phân biệt và giữ riêng từng ngôn ngữ.
“Thằng mù lại dắt thằng mù” (The Blind Leading the Blind), tên bức tranh của danh họa Pieter Bruegel đã thành thành ngữ trong tiếng Anh, chỉ việc dẫn dắt người khác khi chính mình còn thiếu hiểu biết. Những bậc cha mẹ là dân nhập cư thế hệ thứ hai cũng đành sắm vai những thầy mù dắt con cái họ đi trên con đường chinh phục lại tiếng mẹ đè, dẫu biết giới hạn ngôn ngữ của bản thân.
(Theo Phan Bảo, trích Tiếng mẹ đẻ Ngỡ mãi không quên, nhưng rồi sẽ mất, https://tuoitre.vn/tieng-me-de-ngo-mai-khong-quen-nhung-roi-se-mat 20250224174932177.htm)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Nhà ngôn ngữ học Julie Sedivy đã sử dụng hình ảnh gia đình chào đón một đứa trẻ mới để so sánh với điều gì? so sánh việc học một ngôn ngữ mới?
Sự khó khăn của việc học tiếng mẹ đẻ.
Tác động của việc học một ngôn ngữ mới đến các ngôn ngữ đã biết.
Tiếng mẹ đẻ được sử dụng thành thạo hơn nếu học một ngôn ngữ mới.
Tác động của tiếng mẹ đẻ đối với việc học một ngôn ngữ mới.
- Julie Sedivy viết: “Một tâm trí đơn lẻ không thể tiếp nhận một ngôn ngữ mới mà không có tác động nào đến các ngôn ngữ khác đã biết trước đó”. Hình ảnh gia đình đón thêm một đứa trẻ mới được dùng để so sánh với việc não bộ tiếp nhận thêm một ngôn ngữ mới, khiến các ngôn ngữ đã có cũng chịu ảnh hưởng.
- Các đáp án khác:
A: không nói về việc học tiếng mẹ đẻ.
C: trái với nội dung văn bản.
D: ngược chiều ý so sánh.
=> Chọn B.
Tại sao tác giả sử dụng câu thành ngữ “Thằng mù lại dắt thằng mù” ở cuối văn bản?
Để mô tả sự thiếu hiểu biết của người nhập cư.
Để chỉ ra khó khăn của người nhập cư trong việc dạy tiếng mẹ đẻ cho con cái.
Để thể hiện sự phê phán đối với người di cư.
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học ngôn ngữ mới.
- Thành ngữ “Thằng mù lại dắt thằng mù” được dùng như một hình ảnh ẩn dụ. Tác giả muốn nói rằng nhiều cha mẹ nhập cư thế hệ thứ hai muốn dạy tiếng mẹ đẻ cho con nhưng chính bản thân họ cũng không còn thành thạo tiếng mẹ đẻ. Không nhằm phê phán hay chê trách người nhập cư.
=> Chọn B.
Theo Schmid, yếu tố nào quyết định khả năng duy trì ngôn ngữ?
Mức độ thông minh của người học.
Động lực cá nhân của người học.
Sự phổ biến của ngôn ngữ đó trên thế giới.
Tuổi tác và mức độ sử dụng ngôn ngữ.
- Văn bản khẳng định: “Theo Schmid, tuổi tác là yếu tố quan trọng...”. Đồng thời, việc ngừng sử dụng ngôn ngữ làm khả năng quên ngôn ngữ tăng lên. → Khả năng duy trì ngôn ngữ phụ thuộc vào tuổi tác và mức độ sử dụng ngôn ngữ.
=> Chọn D.
So sánh tác động của việc học một ngôn ngữ mới đối với trí não theo Julie Sedivy và Monika Schmid, ta thấy điểm chung nào giữa hai quan điểm?
Cả hai đều cho rằng ngôn ngữ mới sẽ hoàn toàn thay thế ngôn ngữ cũ.
Chỉ có Schmid cho rằng ngôn ngữ cũ có thể bị thay thế.
Cả hai đều cho rằng việc học ngôn ngữ mới làm thay đổi khả năng sử dụng ngôn ngữ cũ.
Sedivy nhấn mạnh đến việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ, trong khi Schmid cho rằng điều đó không quan trọng.
- Julie Sedivy cho rằng việc học thêm ngôn ngữ mới sẽ tác động đến các ngôn ngữ đã biết. Monika Schmid cũng cho rằng khi hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong não, con người luôn phải lựa chọn giữa chúng và có hiện tượng giao thoa ngôn ngữ. → Cả hai đều khẳng định việc học ngôn ngữ mới ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ cũ.
=> Chọn C.
Quan điểm của Julie Sedivy có ý nghĩa gì đối với những người học song ngữ?
Việc học ngôn ngữ mới sẽ thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ cũ.
Học nhiều ngôn ngữ không ảnh hưởng đến nhau.
Chỉ có tiếng mẹ đẻ là quan trọng, không cần học ngôn ngữ khác.
Một ngôn ngữ mới không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn tiếng mẹ đẻ.
- Quan điểm của Julie Sedivy giúp người học song ngữ hiểu rằng: Việc tiếp nhận thêm một ngôn ngữ không diễn ra độc lập, mà sẽ làm thay đổi quá trình sử dụng những ngôn ngữ đã biết. Các phương án khác đều trái với nội dung văn bản.
=> Chọn A.
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 6 đến câu 12
Khi nghiên cứu về tính cách người Việt ở Nam bộ, các nhà nghiên cứu không thể không nhắc đến tính năng động sáng tạo của người Việt trên mảnh đất này. Tính cách này thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau như thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt trên vùng đất mới, các yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được cải biến để hòa hợp với điều kiện mới. Chính điều này đã tạo cho người dân Nam bộ có những nét riêng khá độc đáo đối với các vùng miền khác.
Trên vùng đất mới còn hoang sơ, rừng thiêng nước độc, hùm beo, rắn rết đầy rẫy, vừa khơi dậy tiềm năng khai thác dồi dào vừa là một thách thức nghiệt ngã đối với những con người phải dấn thân. Nếu như không phát huy được tính cần lao, dũng cảm vốn có của người dân Việt thì khó có thể tồn tại được. Trong buổi đầu khai khẩn vùng đất Nam bộ, chúng ta thấy có đủ hạng người đến đây quần tụ: phần đông là những người mất phương kế sinh nhai nơi quê cũ vì rất nhiều lý do mà giai cấp thống trị phong kiến ràng buộc họ như bị tước đoạt ruộng đất, những người chống đối lại triều đình, trốn lính, hay những kẻ phải mang những bản án vào thân ... Tất cả họ đều muốn tìm một cuộc sống mới trên vùng đất mới dù biết trước những khó khăn, khắc nghiệt không dễ vượt qua.
Phải nói rằng vùng đất phương Nam từ khi bắt đầu khai phá và phát triển trải qua mấy thế kỷ nay vẫn là địa bàn sôi động nhất, bắt buộc mọi người đến đây không kể nguồn gốc xuất xứ đều năng động, sáng tạo mới có thể vươn lên trong đấu tranh, xây dựng cuộc sống. [ ... ]
Tiêu xài rộng rãi cũng là một đặc điểm thường được nhắc tới khi nói về tính cách người Nam bộ. Thiên nhiên hào phóng thì cũng sẽ tạo ra những con người hào phóng, người ta ít lo lắng cho cuộc sống của mình ở ngày mai. Tất cả chỉ có tình người dù họ biết rằng ngày mai, ngày mốt mình không còn cái gì để sống. Lối sống đó trở thành một tập quán xã hội, ảnh hưởng đến tất cả mọi người, cả những khi đời sống vật chất khó khăn. Người nông dân bị bóc lột cơ cực, ít có hy vọng trở nên khá giả thì không cần dành dụm, làm được bao nhiêu cứ xài cho hết. Khi lâm vào cảnh thất nghiệp họ vẫn có thể thức đến tận khuya để uống rượu và đờn ca tài tử, chẳng bận tâm gì cho cuộc sống ngày mai.
(Theo Trần Minh Thuận, trích Đôi nét về tính cách người Nam bộ,
https://nhamyngocsuong.blogspot.com/2022/03/oi-net-ve-tinh-cach-nguoi-nam-bo-tran.html)
Đặc điểm nổi bật trong tính cách người Nam Bộ được nhắc đến trong bài là gì?
Tính bảo thủ, kiên định và sáng tạo.
Tính năng động, sáng tạo và rộng rãi.
Tính nhẫn nhịn, bảo thủ và chịu đựng.
Tính cẩn thận, năng động và tiết kiệm.
- Ngay đầu văn bản tác giả khẳng định: “Tính năng động sáng tạo…”. Đến cuối văn bản tiếp tục nhấn mạnh tiêu xài rộng rãi, hào phóng. → Đặc điểm nổi bật là năng động, sáng tạo và rộng rãi.
=> Chọn B.
Tính cách người Nam Bộ có nét độc đáo so với các vùng miền khác nhờ vào đâu?
Sự ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên.
Quá trình khai phá và thích nghi trên vùng đất mới.
Tác động của các nền văn hóa phương Tây.
Ảnh hưởng từ truyền thống nông nghiệp lúa nước.
- Văn bản nhiều lần nhấn mạnh: vùng đất mới, khai phá, thích nghi với điều kiện mới.
→ Chính quá trình ấy hình thành tính cách riêng của người Nam Bộ.
=> Chọn B.
Ý nghĩa của cụm từ “địa bàn sôi động nhất” trong bài là gì?
Nơi có nhiều hoạt động kinh tế phát triển mạnh mẽ.
Nơi diễn ra nhiều cuộc xung đột.
Khu vực chịu nhiều tác động từ thiên nhiên.
Khu vực đông dân cư nhất cả nước.
- “Địa bàn sôi động nhất” không chỉ nói về kinh tế. Đây là vùng đất luôn diễn ra quá trình khai phá, xây dựng cuộc sống mới, buộc con người phải năng động sáng tạo. → Nghĩa gần nhất là nơi có nhiều hoạt động phát triển mạnh mẽ.
=> Chọn A.
Tập quán xã hội của người Nam Bộ khi đối mặt với khó khăn là gì?
Tiết kiệm để dành dụm cho tương lai.
Hướng về cộng đồng và tình người.
Rời bỏ quê hương tìm miền đất mới.
Chấp nhận số phận và chịu đựng.
- Văn bản viết: “Tất cả chỉ có tình người...”, “...lối sống đó trở thành một tập quán xã hội...” → Khi khó khăn, người Nam Bộ vẫn coi trọng tình người, sống rộng rãi, chan hòa.
=> Chọn B.
Bài viết cho thấy điều gì về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người Nam Bộ?
Thiên nhiên khắc nghiệt khiến con người phải đấu tranh để sinh tồn.
Thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho con người.
Thiên nhiên và con người có mối quan hệ đối lập.
Thiên nhiên hào phóng giúp hình thành tính cách hào phóng.
- Đoạn cuối nêu rõ: “Thiên nhiên hào phóng thì cũng sẽ tạo ra những con người hào phóng.” → Thiên nhiên góp phần hình thành tính cách con người.
=> Chọn D.
Dòng nào dưới đây thể hiện hàm ý của câu: “Thiên nhiên hào phóng sẽ tạo ra những con người hào phóng”?
Thiên nhiên quyết định tính cách con người.
Người Nam Bộ luôn phung phí tài sản của mình.
Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến lối sống và thói quen con người.
Tính cách con người không thay đổi dù ở môi trường nào
- Câu nói: “Thiên nhiên hào phóng sẽ tạo ra những con người hào phóng” không có nghĩa thiên nhiên quyết định hoàn toàn tính cách.
Ý tác giả là: môi trường sống có ảnh hưởng rất lớn đến cách sống, thói quen và tính cách con người.
=> Chọn C.
Dòng nào dưới đây thể hiện mục đích viết của văn bản trên?
Phê phán thói quen tiêu xài của người Nam Bộ.
Ca ngợi tinh thần khai phá, năng động và hào phóng của người Nam Bộ.
So sánh tính cách người Nam Bộ với các vùng miền khác.
Chứng minh rằng thiên nhiên ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống con người.
- Toàn văn nhằm giới thiệu và làm nổi bật: tinh thần khai phá, tính năng động, sự hào phóng, khả năng thích nghi của người Nam Bộ.
=> Chọn B.
Thí sinh đọc văn bản và lựa chọn một phương án đúng theo yêu cầu từ câu 13 đến câu 20
Lược trích: Trần Ốc là một tên ăn trộm. Ốc và Ngao đến ăn trộm nhà Trùm Sò. Bị lộ, Ốc chạy thoát còn Ngao bị bắt. Bị Lí Hà đánh đòn, Ngao buộc phải nhận là mình đi ăn trộm. Ngao bị giam ở điếm canh. Ốc đến cứu Ngao trốn thoát:
Lớp 5:
TRẦN ỐC:
May may mà rủi rủi
Rủi rủi lại may may!
May chân Ốc chạy hay,
Rủi cho Ngao bị bắt
Việc tưởng đà rất ngặt,
Thế ta phải sớm toan1
Mau chân Ốc vội vàng,
Cứu thầy Ngao cho được.
(Hạ)
Lớp 6:
LÍ HÀ:
Trai đinh! Cùm chân nó lại.
(Chúng dân cùm, Ngao không cho)
LỮ NGAO:
Đứa nào động đến móng chân thầy, thầy đá cho mà chết.
DÂN CHÚNG:
Bẩm thầy Lí, nó đá.
LÍ HÀ:
Bay lấy dây cột đầu treo lên xà nhà cho tao!
(Chúng dân cùm Ngao)
LỮ NGAO:
Thôi được, thầy cho bay cùm.
LÍ HÀ:
Cùm cả hai chân.
LỮ NGAO:
Ấy, ấy! Thầy không cho.
TRÙM SÒ:
Lấy dùi đục gõ mắt cá chân đi!
LỮ NGAO:
Thôi, bay nói hết lời, thầy cho bay cùm hai chân đây.
TRÙM SÒ:
Thôi anh em dân canh giữ lấy nó.
Gia đinh bay! Về ngay!
Mời thầy Lí về nhà tôi xơi chén rượu.
Lớp 7:
TRẦN ỐC:
Khuyến bí vật bi! Vật bi2
Hữu ngô lai trợ! Lai trợ!
Gian nan hà túc lự?
Khẩn cấp khả đào sanh.
(Quân canh ngủ. Ốc sờ soạng lại chỗ Ngao, Ngao hất Ốc ra)
LỮ NGAO:
A! A! Thầy biết rồi. Thằng Trùm Sò mời thằng Lí Hà về uống rượu, rồi bàn bạc với nhau, thấy bắt thầy cùm là thất lí3, mới cho người mở cùm cho thầy, để thầy đi đàng thầy cho trôi. Chớ giải thầy lên quan thì phải tốn kém. Thầy dại gì cho bay mở cùm! Tao nằm đây, con dòi to bằng cổ tay tao chưa về ... Phen này, Trùm Sò phải hết cửa hết nhà với thầy cho coi! Bay giải thầy lên quan, trước hết phải mua chai rượu làm lễ ra mắt quan. Quan Huyện mới nhận chai rượu đó, mới đưa vào trong cho bà Huyện. Quan mới xử lăng nhăng chi chi đó, rồi quan nạt quan nộ, lão Trùm Sò phải lén ngõ sau mua lại cho bà Huyện, để thưa thưa, bẩm bẩm lần nữa. Vậy là nay khai, mai báo, chai rượu đó cứ luân hồi trước ngõ sau làm cho Trùm Sò phải hết nhà! Hết nhà! Hà hà ... Bay có khôn ra đây, thầy bày cho! Bay sắm khay trầu can rượu với chừng dăm quan tiền thôi, bay qua thưa với mụ thầy là con vợ tao đấy, nói khó với nó một tiếng, nó qua nhận thầy về. Vậy mà chắc chi thầy đã về cho! Em chết rồi, em Sò của thầy ơi! Hà hà ...
TRẦN ỐC:
(Phải giả tiếng mèo để làm hiệu riêng gọi) Ngao! Ng ... a ... o!
LỮ NGAO:
(Đoán biết ám hiệu, cũng theo tiếng mèo đáp lại) Ốc! Ốc!
(Ốc đến mở cùm cõng Ngao chạy. Quân canh thức dậy, hô hoán truy lùng ... )
TRẦN ÓC:
Lâm nước bí! Lâm nước bí!
Khó thoát thân! Khó thoát thân!
Qủa dân đinh đã đuổi theo.
Đốt xích hậu mới mong chạy thoát.
(Ốc giấu Ngao một nơi, trở lại đốt xích hậu, chúng dân đồ về chữa cháy. Ốc cõng Ngao chạy thoát)
(Trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến, Khuyết danh, In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 12, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)
Chú thích:
1. Toan: Lo liệu, mưu tính.
2. Khuyên gã chớ buồn, chớ buồn.
Có ta đến giúp! Đến giúp!
Gian nan đâu đủ cho ta phải lo?
Mau gấp lên có thể chạy thoát.
3. Thất lí: đuối lí (vì không có bằng chứng)
Lớp kịch thứ 5 trong đoạn trích là lời thoại của nhân vật nào dưới đây?
Lữ Ngao.
Trần Ốc.
Lí Hà.
Trùm Sò.
- Lớp 5 chỉ gồm lời thoại của nhân vật Trần Ốc.
=> Chọn B.
Chủ đề chính của đoạn trích là gì?
Tình bạn giữa Trần Ốc và Lữ Ngao.
Sự gian xảo của Trùm Sò và Lí Hà.
Sự tha hóa của tầng lớp quan lại phong kiến và thủ đoạn của kẻ tiểu nhân.
Sự đối đầu giữa người dân và chính quyền.
- Đoạn trích không chỉ kể chuyện trộm cắp. Qua tình huống xét xử, tác giả phê phán:
quan lại tham nhũng, cường hào gian xảo, xã hội phong kiến mục nát.
=> Chọn C.
Ý nghĩa của chi tiết “chai rượu luân hồi” trong lời thoại của Lữ Ngao là gì?
Chai rượu là vật biếu có giá trị lớn.
Thể hiện sự tham nhũng của quan lại.
Biểu tượng cho sự giàu có của Trùm Sò.
Cho thấy Lữ Ngao là người trọng lễ nghĩa.
- Hình ảnh “chai rượu luân hồi” được dùng đầy mỉa mai. Chai rượu phải đi qua nhiều người: quan huyện → bà huyện → mua lại → tiếp tục biếu... → phản ánh nạn đút lót, tham nhũng trong bộ máy quan lại.
=> Chọn B.
Chi tiết Lữ Ngao thao thao kể về việc “chai rượu... cứ luân hồi trước ngõ sau” cho thấy điều gì về nhân vật này?
Là người ngây thơ, tin tưởng tuyệt đối vào quan lại.
Là người từng trải, hiểu rõ thói tham nhũng của bộ máy quan lại phong kiến.
Là người chỉ quan tâm đến việc uống rượu và hưởng thụ.
Là người luôn tôn trọng pháp luật và tin vào công lí.
- Khi Trần Ốc đến mở cùm, Ngao tưởng người của Trùm Sò. Hắn nghĩ: nếu được tha dễ dàng thì sẽ mất cơ hội khiến Trùm Sò phải tốn tiền chạy kiện. → Ngao cố tình không chịu mở cùm ngay để tiếp tục tính toán kế có lợi cho mình.
=> Chọn B.
Nhân vật Lữ Ngao trong đoạn trích có đặc điểm tính cách gì nổi bật?
Thông minh nhưng gian xảo.
Chính trực và ngay thẳng.
Chăm chỉ và hiền lành.
Bộc trực nhưng trung thực.
- Lữ Ngao rất nhanh trí: đoán được tình huống, hiểu bộ máy quan lại, ứng biến linh hoạt. Nhưng đồng thời cũng: xảo quyệt, gian manh, lợi dụng mọi hoàn cảnh.
=> Chọn A.
Nghệ thuật châm biếm trong đoạn trích KHÔNG được thể hiện qua yếu tố nào?
Lời thoại của nhân vật.
Cách xây dựng tình huống kịch.
Sự trớ trêu trong cách quan lại xử lý vụ việc.
Lời chỉ dẫn hành động của tác giả.
- Nghệ thuật trào phúng được tạo nên chủ yếu bởi: lời thoại, tình huống kịch, mâu thuẫn trớ trêu. Lời chỉ dẫn sân khấu chỉ hướng dẫn diễn xuất, không phải yếu tố chính tạo tiếng cười châm biếm.
=> Chọn D.
Qua những lời dự đoán của Lữ Ngao về kết cục của Trùm Sò, đoạn trích phản ánh thực trạng gì của xã hội phong kiến?
Bộ máy quan lại tham nhũng, dân đen bị áp bức.
Xã hội công bằng, chính trực.
Quan lại luôn xử lý mọi việc minh bạch.
Người dân luôn được bảo vệ trước cường quyền.
- Qua lời Ngao kể: quan huyện nhận rượu, bà huyện nhận quà, mua đi bán lại, chạy án. → Tác giả phơi bày bộ máy quan lại tham nhũng, dân bị áp bức.
=> Chọn A.
Dòng nào dưới đây khái quát về ý nghĩa của đoạn trích?
Ca ngợi sự thông minh của Lữ Ngao.
Cảnh báo về sự lộng hành của quan lại.
Khẳng định sức mạnh của nhân dân.
Phê phán bản chất tham nhũng của xã hội phong kiến.
- Toàn bộ đoạn trích sử dụng tiếng cười để đả kích:quan tham, cường hào, nạn đút lót, xã hội phong kiến mục nát. Đây là ý nghĩa bao quát nhất của đoạn trích.
=> Chọn D.
PHẦN II: NGHỊ LUẬN
Viết đoạn văn (khoảng 200 - 250 chữ) phân tích nghệ thuật trào phúng được thể hiện trong đoạn trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến (khuyết danh).a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 - 250 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau:
- Đoạn trích sử dụng tình huống kịch giàu tính trào phúng: một tên trộm bị bắt nhưng vẫn bình tĩnh, còn những người đại diện cho pháp luật lại hiện lên lố bịch, tham lam.
- Xây dựng nhân vật điển hình mang tính châm biếm:
+ Lí Hà và Trùm Sò đại diện cho tầng lớp cường hào, quan lại địa phương lạm quyền, tham nhũng.
+ Lữ Ngao tuy là kẻ gian nhưng lanh lợi, hiểu rõ bản chất của bộ máy quan lại.
- Lời thoại sinh động, giàu tính hài hước:
+ Lời nói của Lữ Ngao đầy mỉa mai, cường điệu.
+ Chi tiết “chai rượu... luân hồi trước ngõ sau” vừa gây cười vừa phơi bày nạn hối lộ, tham nhũng trong xã hội phong kiến.
- Xây dựng tình huống nghịch lí:
+ Kẻ bị bắt lại chủ động tính toán mọi việc.
+ Người thực thi pháp luật hiện lên bất tài, tham lam và đáng cười.
- Qua nghệ thuật trào phúng, tác giả dân gian: phê phán bộ máy quan lại phong kiến mục nát;
lên án nạn tham nhũng, cửa quyền; thể hiện tiếng cười sắc sảo của nhân dân đối với hiện thực xã hội.
d. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Viết bài luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về áp lực và cơ hội khi trở thành công dân toàn cầu.
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Áp lực và cơ hội khi trở thành công dân toàn cầu.
c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo
hướng :
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, giới trẻ có nhiều cơ hội hội nhập nhưng cũng phải đối diện với không ít áp lực để trở thành những công dân toàn cầu.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Công dân toàn cầu là người có khả năng học tập, làm việc và hợp tác trong môi trường quốc tế; có kiến thức, kĩ năng, trách nhiệm và ý thức đóng góp cho cộng đồng trong phạm vi toàn cầu.
+ Áp lực là những yêu cầu, thách thức mà cá nhân phải vượt qua.
+ Cơ hội là những điều kiện thuận lợi giúp con người phát triển bản thân và khẳng định giá trị.
- Bàn luận:
+ Những cơ hội:
Tiếp cận tri thức nhanh chóng thông qua internet và công nghệ.
Có nhiều cơ hội học tập, nghiên cứu, giao lưu quốc tế.
Mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong môi trường toàn cầu.
Phát triển năng lực ngoại ngữ, công nghệ, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng.
Hiểu biết nhiều nền văn hóa, mở rộng tầm nhìn.
+ Những áp lực:
Cạnh tranh gay gắt về trình độ chuyên môn và kỹ năng.
Áp lực sử dụng ngoại ngữ và công nghệ.
Áp lực thích nghi với sự thay đổi nhanh của khoa học và thị trường lao động.
Nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa hoặc bị ảnh hưởng bởi các giá trị lệch chuẩn.
Áp lực cân bằng giữa hội nhập quốc tế và gìn giữ bản sắc dân tộc.
+ Cần làm gì để trở thành công dân toàn cầu:
Không ngừng học tập, rèn luyện ngoại ngữ và kỹ năng số.
Trau dồi năng lực tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác.
Chủ động thích ứng với những thay đổi của xã hội.
Có trách nhiệm với cộng đồng, tôn trọng sự khác biệt.
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lòng yêu nước và ý thức công dân.
- Mở rộng:
+ Phê phán những người: ngại học hỏi, thiếu tinh thần hội nhập; chạy theo xu hướng toàn cầu một cách mù quáng; coi nhẹ giá trị văn hóa dân tộc.
+ Khẳng định: công dân toàn cầu không chỉ cần tri thức mà còn cần trách nhiệm, đạo đức và bản lĩnh.
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của việc trở thành công dân toàn cầu trong thời đại mới.
- Mỗi người trẻ cần chủ động chuẩn bị kiến thức, kỹ năng và phẩm chất để biến áp lực thành động lực, biến cơ hội thành thành công.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt: bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.




