Đề thi Giữa kì 1 Tiếng Việt lớp 5 cấu trúc mới (có đáp án) - Đề 1
12 câu hỏi
II. Đọc thầm và làm bài tập: (8 điểm)
Giấc mơ thơ ấu
Hôm nay bỗng mơ về
Thuở còn thơ ngày ấy
Học hành và chạy nhảy
Trốn tiệt cả ngủ trưa
Ngồi lên cả tàu dừa
Trượt dọc sân, hè, ngõ.
Tiếng thước cô gõ nhỏ
Chỉ bảng nhỏ trên tường
Tiếng mẹ phía sau vườn
Đang cùng cha trồng cải.
Tiếng mèo kêu meo meo
Lại rất hay leo trèo
Tiếng chó sủa gâu gâu
Thích trêu gà trên ổ.
Giật mình dậy trầm trồ
Ra là mơ ngày nhỏ
Lớn rồi vẫn rất nhớ
Một thời, thuở còn thơ.
Theo Thư Linh

(0,5 điểm). Hôm nay, nhân vật “tôi” bỗng mơ về điều gì?
Mơ cùng mẹ đi trồng cải.
Mơ đang chơi trượt tàu dừa.
Mơ về ngày còn nhỏ.
Mơ thấy tiếng gọi của cô và mẹ.
(0,5 điểm). Trong bài thơ, nhân vật “tôi” thường trốn ngủ trưa để làm gì?
Để trêu những chú gà con trên ổ.
Để chơi trượt tàu dừa cùng các bạn.
Để ra cuối ngõ nghe tiếng cô giáo giảng bài.
Để chạy nhảy, vui đùa khắp sân, hè, ngõ xóm. Hướng dẫn giải:
(0,5 điểm). Câu thơ “Tiếng thước cô gõ nhỏ/ Chỉ bảng nhỏ trên tường” gợi cho chúng ta nghĩ đến hình ảnh nào?
Hình ảnh cô giáo và các bạn học sinh đang ngồi trong lớp học.
Hình ảnh cô giáo đứng giảng bài cho các bạn học sinh.
Hình ảnh cô giáo bên chiếc bảng đen.
Cả A và B đều đúng.
(0,5 điểm). Tuổi thơ của nhân vật “tôi” gắn liền với những hoạt động nào?
Học hành, chạy nhảy, trốn ngủ trưa và chơi trượt tàu dừa.
Chạy nhảy, nô đùa cùng những chú chó, chú mèo.
Cùng các bạn đạp xe đi học trên con đường làng.
Những buổi trưa trốn mẹ đi chơi cùng các bạn.
(1,0 điểm). Phân loại các từ ngữ in đậm trong đoạn văn sau vào bảng dưới đây:
Một tối đầu đông, Đức nhờ mẹ hướng dẫn làm bài tập. Khi mẹ cầm bút, Đức để ý đến bàn tay của mẹ. Đôi bàn tay nứt nẻ xen lẫn vài vết chai sạn do mẹ phải làm việc vất vả.
(Trích “Đôi tay của mẹ” - Uyển Ly)

(1,0 điểm). Gạch chân vào từ không cùng từ loại với các từ còn lại:
(a) Chằng chịt / mịt mùng / chi chít / mải mê.
(b) Hạn hán / động đất / sạt lở / sóng thần.
(c) Nghĩ ngợi / nghe ngóng / mong chờ / nghi ngút.
(1,0 điểm). Tìm các tính từ có trong đoạn văn dưới đây:
“Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm. Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn. Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà. Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy, li ti giữa những cánh hoa. Mỗi cuống hoa ra một trái. Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến. Mùa trái rộ vào tháng tư, tháng năm ta.”
(1,0 điểm). Tìm các từ dùng để xưng hô trong mỗi đoạn dưới đây. Nhận xét về thái độ của người nói qua các từ đó.
(a) Trông thấy tôi theo mẹ vào đến cổng, bà buông cái chổi, chạy ra nắm tay tôi.
– Cu Dũng lớn ngần này rồi ư?
[...]
Bà xăng xái xuống bếp lấy dao ra vườn chặt mía đem vào.
– Mía ngọt lắm, mẹ con ăn đi cho đỡ khát.
Bà róc, bà tiện, bà chẻ từng khẩu mía đưa cho tôi:
– Ăn đi! Cháu ăn đi! Răng bà yếu rồi, bà chả nhai được đâu.
(Theo Vũ Tú Nam)
(b) Cánh cam vùng chạy, nhớn nhác tìm lối thoát. Chuột cống cười phá lên:
– Ha ha! Ta đã cho bịt kín tất cả lối ra vào. Nhà ngươi chớ có nhọc công vô ích! Tất cả các ngươi đã trở thành nô lệ của ta. Dưới cống này, ta là chúa tể, các ngươi không biết sao?
(Vũ Tú Nam)
(1,0 điểm). Tìm 2 từ đồng nghĩa với các bức tranh sau:

(1,0 điểm). Đặt câu để phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ sau:
- Bụng:
+ Bộ phận cơ thể người hoặc động vật, chứa ruột, dạ dày…
+ Biểu tượng của ý nghĩ, tình cảm sâu kín của con người.
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Viết bài văn tả cảnh quê hương nơi em đang sống.
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (2 điểm)
- GV cho học sinh đọc đoạn văn bản “Thanh âm của gió” (Trang 8, 9 – SGK Tiếng Việt 5 tập 1 - Kết nối tri thức với cuộc sống). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 – 5 phút/ HS.
- Dựa vào nội dung bài đọc, HS trả lời câu hỏi: Em Bống đã phát hiện ra trò chơi gì? Theo em, vì sao các bạn thích trò chơi đó?








