Đề cương ôn tập giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Cánh diều (có đáp án) - Đề thi tham khảo số 8
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Cánh diều (có đáp án) - Đề thi tham khảo số 8

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 563 lượt thi
10 câu hỏi
1. Tự luận
• 1 điểm

- GV cho học sinh đọc đoạn văn bản “Cậu bé và con heo đất” (Trang 36 - SGK Tiếng Việt 5 tập 2 - Cánh Diều). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút/ HS.

- Dựa vào nội dung bài đọc, HS trả lời câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về việc Hải cùng ba quay lại tiệm tạp hoá để trả số tiền thừa trong con heo đất?    

Xem đáp án

- Đọc trôi chảy, lưu loát, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tốc độ đạt yêu cầu đạt 4 điểm. Tùy theo mức độ đọc của học sinh mà giáo viên cho điểm.

- Trả lời câu hỏi:Việc Hải cùng ba quay lại tiệm tạp hoá để trả số tiền thừa trong con heo đất cho thấy sự trung thực và lòng tốt của Hải. Cậu không giữ số tiền không phải của mình mà đã quyết định trả lại cho người có quyền sở hữu.

Đoạn văn

Đọc bài đọc sau:

HOA TRẠNG NGUYÊN

Hoa trạng nguyên - cái tên mới nghe đã mường tượng ra tiếng pháo đón mừng rồi võng lọng cùng dòng người háo hức đón người thành danh. Những bông hoa có cánh hình lá ấy, màu cứ rực lên như một niềm vui không thể giấu, cười mãi, cười mãi, cười mãi không thôi.

Ai đặt tên cho loài hoa ấy, chắc muốn nó vĩnh viễn gắn liền với tuổi học trò. Hoa trạng nguyên cháy lên từ ngày ôn thi bận mải, thắp lên trong người sắp sửa đi thi một niềm tin. Thế rồi mùa thi đi qua. Bao bạn trẻ từ tiểu học đến trung học hớn hở nhập trường mới. Song dù sao cũng không tránh khỏi có một số ít bạn phải quay về tiếp tục công việc dùi mài kinh sử. Một tối nào đó, chong đèn học khuya, ngước mắt dõi qua cửa sổ, em sẽ thấy có ngọn lửa đỏ cứ lao xao giữ vườn đêm. Hoa trạng nguyên cùng em thức suốt mùa thi đấy.

Đừng bao giờ để tắt ngọn lửa đó trong tim. Em nhé!

  (Theo K.D- NXB Trẻ)

2. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hoa trạng nguyên có màu gì? 

Màu vàng.

Màu đỏ.

Màu tím nhạt.

Màu tím đậm.

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

3. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Những chi tiết nào cho biết hình ảnh hoa trạng nguyên có hình dáng và màu sắc gợi lên một niềm vui?

Những bông hoa có cánh hình lá ấy, màu cứ rực lên như một niềm vui không thể giấu, cười mãi, cười mãi, cười mãi không thôi.

Những bông hoa có cánh hình cung ấy, màu cứ rực lên như một niềm vui không thể giấu, cười mãi, cười mãi, cười mãi không thôi.

Những bông hoa có cánh hình tròn ấy, màu cứ rực lên như một niềm vui không thể giấu, cười mãi, cười mãi, cười mãi không thôi.

Những bông hoa có cánh hình bầu dục ấy, màu cứ rực lên như một niềm vui không thể giấu, cười mãi, cười mãi, cười mãi không thôi.

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

4. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hình ảnh hoa trạng nguyên gợi cho em cảm xúc suy nghĩ gì?

Hoa trạng nguyên gợi cảm xúc về mùa thi và ngọn lửa niềm tin rực cháy trong tim.

Hoa trạng nguyên gợi những kỉ niệm của tuổi học trò về mùa thi.

Hoa trạng nguyên là hoa của học trò.

Hoa trạng nguyên báo hiệu mùa thi cử vất vả sắp đến.

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

5. Tự luận
• 1 điểm

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu: 

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

(Tố Hữu)

a) Tìm các danh từ tác giả dùng để chỉ Bác Hồ.

b) Nhận xét cách viết các danh từ tìm được.

Xem đáp án

a) Các danh từ dùng để chỉ Bác Hồ: Bác, Người, Ông Cụ.

b) Các danh từ đều được viết hoa.

6. Tự luận
• 1 điểm

Chọn kết từ thích hợp cho mỗi * trong các câu ghép sau: “và, rồi, còn, nhưng”. 

a) Trời đang nắng to * cơn mưa bất chợt ập xuống làm mọi người hối hả chạy tìm chỗ trú.

b) Chú mèo tam thể thích đùa nghịch * chú chó vàng chỉ thích nằm ngủ yên tĩnh.

c) Buổi sáng, em cùng bà ra đồng hái rau * buổi chiều, cả nhà quây quần bên nhau nhặt rau.

d) Cả lớp đã học xong bài cũ * cô giáo bắt đầu giảng bài mới.

Xem đáp án

a) Trời đang nắng to nhưng cơn mưa bất chợt ập xuống làm mọi người hối hả chạy tìm chỗ trú.

b) Chú mèo tam thể thích đùa nghịch còn chú chó vàng chỉ thích nằm ngủ yên tĩnh.

c) Buổi sáng, em cùng bà ra đồng hái rau và buổi chiều, cả nhà quây quần bên nhau nhặt rau.

d) Cả lớp đã học xong bài cũ rồi cô giáo bắt đầu giảng bài mới.

7. Tự luận
• 1 điểm

Tìm câu ghép và xác định các vế của câu ghép đó trong đoạn văn sau:

Thần Nắng cũng đem ấm áp đến vùng ngập lũ. Nước rút nhanh, hoa cỏ bừng nở, chim gọi bầy làm tổ, ong tìm hoa làm mật. Vạn vật trút bỏ lớp áo ướt át, vui đón những tia nắng ấm chan hòa. Không ai nói với ai điều gì nhưng thần Mưa và thần Nắng đều hiểu rằng, mùa xuân chỉ trở về trong thuận hòa và yêu thương.

Xem đáp án

Câu ghép là: Nước rút nhanh,/ hoa cỏ bừng nở,/ chim gọi bầy làm tổ, /ong tìm  hoa làm mật/.

Vậy, câu ghép trên có 4 vế.

8. Tự luận
• 1 điểm

Viết tiếp một vế vào chỗ trống để tạo thành câu ghép: 

a) Mùa hè đã đến, .............................................................................................................

b) Mặt trời lặn, .................................................................................................................

c) Nếu trời mưa to, ...........................................................................................................
Xem đáp án

a) Mùa hè đến, bác Mặt trời thức dậy sớm sau lũy tre làng.

b) Mặt trời lặn, bầu trời khoác lên mình chiếc áo màu đen.

c) Nếu trời mưa to, cánh đồng trước nhà tôi có thể bị ngập.

9. Tự luận
• 1 điểm

Nghe – viết 

Tà áo dài Việt Nam

Từ đầu thế kỉ XIX đến sau năm 1945, ở một số vùng, người ta mặc áo dài kể cả khi lao động nặng nhọc. Áo dài phụ nữ có hai loại: áo tứ thân và áo năm thân. Phổ biến hơn cả là áo tứ thân, được may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng. Đằng trước là hai vạt áo, không có khuy, khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau. Áo năm thân cũng may như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải, thành ra rộng gấp đôi vạt phải.

Xem đáp án

- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):

·        0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.

·        0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.

- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):

·        Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm

·        2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;

·        Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.

- Trình bày (0,5 điểm):

·        0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.

·        0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa vài chỗ.

10. Tự luận
• 1 điểm

Đóng vai nhân vật, kể lại câu chuyện mà em thích.

Xem đáp án

Tôi là người em trai trong câu chuyện “Cây khế”. Hôm nay, tôi sẽ kể lại cho các bạn câu chuyện ấy nhé.

Sau khi cha mẹ mất, tôi và anh trai sống cùng nhau. Chúng tôi chăm chỉ làm lụng nên cũng đủ ăn. Từ ngày có vợ, anh của tôi đâm ra lười biếng. Vợ chồng tôi phải làm lụng vất vả mới có của ăn của để.

Một hôm, anh trai gọi tôi đến bàn bạc chuyện chia gia tài. Vì là phận em, tôi xin được nghe theo lời anh. Tôi nhận được một túp lều nhỏ, ở trước cửa có một cây khế. Dù khó khăn, nhưng tôi và vợ vẫn sống hạnh phúc, êm đềm. Hằng ngày, tôi và vợ vẫn thay nhau chăm sóc cây khế. Đến mùa, những chùm quả chín lúc lỉu trên cây. Tôi và vợ bàn nhau hái khế ra chợ bán. Sáng hôm đó, tôi ra vườn cây để hái khế thì nghe thấy trên ngọn cây có tiếng rung mạnh như có người. Tôi gọi vợ ra xem, thì nhìn thấy một con chim lớn đang ăn khế chín. Tôi lấy làm lạ lắm, chưa bao giờ thấy một con chim nào to như vậy. Tôi liền bảo vợ cứ đợi cho chim ăn xong mới ra hái. Suốt một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm.

Vợ tôi xót ruột. Một hôm thấy chim đang ăn khế, liền chạy ra nói:

- Ông chim ơi, ông ăn như thế thì nhà cháu còn khế đâu mà bán! Cả nhà cháu chỉ nhờ vào cây khế thôi!

Chim nói:

- Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Nghĩ đây chắc hẳn là chim thần, tôi bảo vợ làm theo lời chim nói. Sáng sớm hôm sau, chim thần bay đến. Tôi xách túi ra, chim nằm rạp xuống đất cho tôi trèo lên. Tôi ngồi trên lưng chim mà lòng có chút lo lắng. Chim bay qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả. Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo, rồi đáp xuống cửa một cái hang.

Chim ra hiệu cho tôi bước vào. Ngay từ cửa đã có rất nhiều thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ thứ màu. Tôi thấy hang sâu và rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra ngoài. Tôi bảo chim thần bay về. Chim lại cất cánh đưa tôi về nhà. Từ đó, cuộc sống của gia đình tôi trở nên khá giả hơn trước. Chúng tôi còn giúp đỡ được rất nhiều người dân nghèo khổ.

Một hôm, anh trai của tôi đến chơi. Tôi đoán biết anh nghe được chuyện nên đến hỏi thăm. Nghe anh hỏi chuyện, tôi liền kể cho anh nghe. Anh liền thương lượng để đổi tài sản của mình lấy túp lều và cây khế. Thầy anh nài nỉ mãi, tôi cũng ưng thuận.

Kể từ đó, anh trai và chị dâu của tôi dọn đến ở trong túp lều. Tôi nghe người trong làng kể lại. Hằng ngày, họ chỉ ngồi ăn rồi chờ chim đến. Một buổi sáng nọ, khi thấy luồng gió mạnh nổi lên, và ngọn cây khế rung chuyển. Họ biết là chim thần đến liền nói:

- Chim thần ơi, cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn thì tôi lấy gì mà sống?

Chim thần cũng nói y như với tôi:

- Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Anh trai và chị dâu của tôi cứ bàn qua tính lại. Rồi cuối cùng họ quyết định may cái túi to gấp ba lần, như một cái tay nải lớn. Sáng hôm sau, chim thần đến đưa anh tôi ra hòn đảo. Nhìn thấy vàng bạc, kim cương, anh trai tôi cố nhặt cho đầy túi. Không chỉ vậy, anh ta còn cho cả vào túi quần, túi ào. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Anh trai tôi bị sóng cuốn trôi, bao nhiêu của cải mất hết. Còn chim thần chỉ bị ướt lông, ướt cánh nên lại vùng lên trời bay đi. May có người dân đánh cá ngang qua mới cứu được. Anh trai tôi trở về, kể rõ sự tình cho tôi nghe và tỏ ra rất hối hận.

Bạn có thích hoạt động này không?

Bắt đầu ngay
Khám phá các nguồn tài nguyên miễn phí, phù hợp với tiêu chuẩn trong vài giây