Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức có đáp án
20 câu hỏi
HOÀNG HÔN MÀU CỎ
(Hoàng Trần Cương)
Khói lửa tạm lắng rồi
Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ
Con trở về miền ao ước
Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
Ngực để trần
Áo trận lỏng tay
Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
Không còn sợ thần sắc long đong
Không còn lo chùm bom thù đi lạc
Mẹ bảo
Còn hai bàn tay là còn của nả
Còn nhớ về những nấm mộ rừng xa
Thế kỉ này vẫn lắm quỷ nhiều ma
Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại
Những chiều tà
Dân làng không túm tụm nhau ngoài bãi
Hoảng hốt nhìn những lằn chớp đen chèn ngang lễ cưới
Hoảng hốt nhìn những sân trường sạch bóng trẻ con
Hoảng hốt nhìn vào lòng mình thấy ruột gan nóng rần như lửa đốt
Bói đâu ra bóng dáng của ngày thường
Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng
Tiếng mõ trâu chùng cả dáng chiều
Mẹ ơi!
Con nào dám cầu xin chi nhiều
Sau chuỗi ngày chinh chiến
Sau chuỗi ngày rụng rơi như bồ hóng
Những năm tháng hoả lò không sót lại muội than
Cho con xin vỏn vẹn một ngày
Trải lá chuối lên xó vườn rậm cỏ
Nằm dang tay dang chân
Để nghe gió thì thào to nhỏ
Để dõi theo mây núi trắng ngần
Để nỗi nhớ lần về tận ngõ
Theo chuyến đò ngang
[...]
Mẹ ơi
Xin cho con thêm một lần thả mình trên cỏ
Thiếp đi dưới bóng của làng
Giữa mơ màng thức ngủ
Nghe thì thầm trong đất
Nẻo đường dẫn đến mùa thu
Nẻo đường ngược về lịch sử
Nẻo đường dài ngắn xưa sau
Trời trong vắt
Mắt người xa xứ
Nỗi nhớ thì gần
Cái nhớ thì xa
(Hoàng Trần Cương, Trầm tích, NXB Hội Nhà văn, 1996)
Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện nào vào tâm hồn nhà thơ? Xác định một số dòng/hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc.
- Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện khi nhà thơ được trở về sau chiến tranh: Khói lửa tạm lắng rồi/ Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ/ Con trở về miền ao ước
- Dòng/ Hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc: Học sinh tự xác định theo đánh giá của cá nhân
Gợi ý: Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường; Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng; Tiếng mõ trâu chùng cả ráng chiều,…
Khổ thơ đầu gợi hình dung gì trong em, biểu tượng nào gợi ra cảnh ngộ của con người? Phân tích những cảm xúc, tâm trạng thể hiện trong khổ thơ.
* Khổ thơ đầu gợi hình dung:
- Chiến tranh tạm yên; Người lính (không còn trẻ) trở về từ chiến trường với chiếc ba lô căng phồng; Ngực để trần…với chiếc áo lính cầm tay tâm trạng thoải mái
- “Khói lửa”, “Áo trận” là biểu tượng cho chiến tranh, loạn lạc gợi ra cảnh ngộ con người vừa trải qua
* Cảm xúc, tâm trạng của người trở về:
- Vui mừng, hồ hởi:
+ Tâm trạng thoái mái hồ hởi (không phải căng mình đối mặt với trận chiến – “Áo trận lỏng tay”) ngày trở về quê hương gợi ra từ 2 dòng thơ đầu, từ hình ảnh chiếc ba lô căng phồng
+ Niềm hạnh phúc vô bờ của người lính được trở về quê hương được bộc lộ trực tiếp ở dòng thơ “Con trở về miền ao ước” → Miền ao ước là quê hương, là khát vọng, là ao ước cháy bỏng trong tâm hồn người lính
+ “Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường” là sáng tạo độc đáo bởi nghệ thuật ẩn dụ diễn tả niềm vui của người lính được trở về quê hương, về ngôi nhà thân yêu của mình, niềm vui ấy bao trùm cả không gian, lan vào “xó xỉnh”, vào từng góc của ngôi nhà
- Thoáng buồn nhớ tới cảnh chiến trận: Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
→ Dòng thơ giàu sức gợi, gợi nhớ cảnh chiến trường giữa núi rừng hoang vu, với nỗi buồn mất mát, cô đơn khiến nhịp thơ chậm lại, chùng xuống
Đọc khổ 2,3 và thực hiện các yêu cầu kế tiếp:
a. Hai khổ thơ gợi không gian, những cảm xúc, tâm trạng nào của ai, ở đâu, khi nào?
b. Những dòng thơ: “Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả/ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại” diễn tả, nói về điều gì trong cảm nhận người con?
c. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính ở khổ 2,3 và hiệu quả thẩm mĩ của chúng?
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò, vị trí như thế nào đối với toàn tác phẩm?
a. Hai khổ thơ gợi ra: Không gian vắng lặng, thiếu sự sống của con người; cảm xúc, tâm trạng hốt hoảng lo âu của dân làng trong chiến tranh
b. Những dòng thơ nói về cảm nhận người con:
+ Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả: Niềm tin của người con vào mình vào con người sau sự hủy diệt của chiến tranh
+ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại: Khẳng định sức sống, sự hồi sinh kì diệu của con người và quê hương. Hai chữ “trong trẻo” gợi ra không gian tươi sáng, niềm tin vào ngày mai. Cuộc sống mới sẽ bắt đầu như chưa từng có thương đau
c. Nghệ thuật chính:
- Nghệ thuật đối lập: Quá khứ vắng lặng, đau thương trong chiến tranh với cuộc sống thanh bình, niềm tin vào sức hồi sinh của quê hương (học sinh lựa chọn dẫn chứng)
- Điệp từ: Không còn; hoảng hốt; bói đâu
→ Hiệu quả thẩm mĩ: gợi cảnh tượng hoang tàn, tố cáo sự hủy diệt của chiến tranh nhằm diễn tả khao khát về cuộc sống bình yên, trù phú của làng quê xưa (trẻ em tới trường, tiếng gà trưa đảo trứng, tiếng mõ trâu chiều) và cuộc sống thanh bình ngày nay
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò vị trí quan trọng đối với toàn bài thơ:
- Thể hiện cấu tứ độc đáo của bài thơ: Trở về trong thanh bình – hồi tưởng quá khứ đau thương trong chiến tranh – khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình
- Tái hiện chiến tranh đau thương nơi quê nhà làm nổi bật nỗi nhớ, khát khao sống trong hòa bình của người con trải qua trận mạc, hi sinh
Người con khao khát điều gì? Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt như thế nào?
- Người con khao khát:
+ Một ngày được nằm trên lá chuối ở xó vườn với cảm giác thật thoải mái để nghe gió, bay theo mây, thả hồn vào chuyến đò ngang để ngắm nhìn, đắm mình trong cảnh vật thiên nhiên của quê hương
+ Ngủ dưới bóng tre làng, lắng nghe tiếng đất để hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu nỗi lòng của những người xa quê
- Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt:
+ Giãi bày nỗi niềm với mẹ (thốt gọi “Mẹ ơi”! mở đầu hai nỗi khát khao); xin mẹ cho mình thực hiện khát vọng
+ Dùng nhiều điệp từ, điệp ngữ tạo nên những điệp khúc mở ra những giá trị, những khát khao cháy bỏng của mình về làng quê
+ Khát vọng của người con đi theo trình tự từ hẹp đến rộng, từ những điều cụ thể đến những giá trị lớn lao: nghe gió mây, ngắm chuyến đò → hiểu văn hóa, lịch sử, con người, để thấu hiểu có cái nhớ mới làm nên nỗi nhớ
BƠ VƠ
(chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ. Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lên xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đọan trích sau là chương 2 của tác phẩm:
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..] ấy đến nay ùng do hay d tiền ăn tiền tàu từ đã
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã Nam để trả ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chăng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp C thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa. (2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngầng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại.
* Những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính?
- Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô.
Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào?
- Bính phải bỏ nhà ra đi vì:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?
b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính rất cơ cực:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô Bính nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính - cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng.
Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc?
- Điều khiến Tám Bính nhớ quê hương và gia đình: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…
- Cô nhớ về gia đình, cha mẹ nhiều nhất:
+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;
+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận
+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian
- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật.
- Vai trò của điểm nhìn đối với văn bản đọc: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính.
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ? Khuôn mặt trẻ đẹp chim vào những miền xa nào..
Đứa bé đang lẫm chẫm muôn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước tìmg bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơii dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Thể thơ của văn bản: thể tự do
Hãy chỉ ra nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản trên.
Nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản: Thông thường người yếu đuối tìm nơi dựa ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại. Người mẹ trẻ khỏe dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dạn dày chiến trận dựa vào cụ già bước từng bước run rẩy trên đường.
Xác định các dạng của phép điệp trong văn bản trên và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.
– Các dạng của phép điệp trong văn bản: điệp từ (đứa bé, bà cụ, …), điệp ngữ (ai biết đâu, lại chính là nơi dựa, …), điệp cấu trúc (câu mở đầu của 2 đoạn có cấu trúc giống nhau, câu kết của 2 đoạn cũng vậy), điệp kết cấu giữa hai đoạn.
– Hiệu quả nghệ thuật: tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa giữa hai đoạn thơ, góp phần khẳng định nơi dựa của mỗi người trong cuộc sống chính là nơi ta tìm thấy niềm vui và hạnh phúc
Thông điệp nào trong văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/ chị?
Thông điệp trong văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với em: Mỗi người luôn cần một nơi dựa. Nơi dựa ấy là nơi dựa tinh thần, nơi con người tìm thấy niềm vui, ý nghĩa sống,…
TRONG SƯƠNG HỒNG HIỆN RA
(Tóm tắt: Nhà Al của khu nhà tập thể Cánh Đồng Xanh bị sụt nghiêng khiến Tân, một chàng trai 17 tuổi, bị điện giật rơi vào cơn hôn mê. Trong cơn hôn mê, Tân đã đi ngược thời gian về 20 năm trước. Ở đó, Tân đã được sống trong hoàn cảnh chiến tranh, chứng kiến những trận ném bom phả hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, được gặp bà (khi đã bà con trẻ). gặp cha mẹ mình thuở mới yêu nhau và gặp những con người của 20 năm trước. Chuyến du hành xuyên thời gian đã giúp Tân hiểu thêm nhiều điều về cuộc sống và thêm trân quý những khoảnh khắc đầm ấm bên gia đình.).
– Này cháu – Bà mẹ lay nhẹ bên vai trần nóng giẫy của chàng trai – Cháu hãy dậy nào... [...]
– Ôi, bà! – Chàng trai mệt mỏi thốt lên.
– Cháu hãy gọi là bác – Bà mẹ dịu dàng sửa lại.
Gọi là bác? Không đâu, sao có thể lạ lùng như vậy? Cặp môi bà với những rãnh nhỏ màu quết trầu. Nửa đường lông mày bên trái bạc trắng từ hồi nào trong qus khứ. Đúng là bà rồi. Nhưng bà có chiếc áo bông sa tanh đen chần hạt lựu bao giờ đâu? Nhưng vì sao bà bỗng quả trẻ và ăn mặc khác lỗi như vậy? Nhưng vì sao bà nhắc mình hãy gọi bà là bác?
– Cháu tên là gì, cháu từ đâu tới đây? – Bà mẹ hỏi.
– Ôi, sao bà lại hỏi cháu như vậy? – Chàng trai rất muốn ngồi dậy, ôm lấy bà quay một vòng như vẫn đùa mỗi khi ở trường về, nhưng tấm thân sốt nóng vẫn dán chặt trên giường. – Cháu Tân đây mà. Nhà cháu ở đây... [...]
Từ phía đầu giường, Độ nhích lại, đừng sát bên mẹ. Lúc này Tân mới thấy cùng với bà trong nhà còn có một chàng trai nữa. Nhưng tại sao lại là chàng trai? Bố đấy thôi. Cái mùi mồ hôi nồng nàn, mùi da thịt của bố, Tân đã hít thở từ thuở sơ sinh được bế ẵm trong lòng. [...]
– Bố ơi.
Tân gọi như rên. Lúc ốm, cậu bỗng muốn nũng nịu một chút.
-Mình tên là Độ, – Chàng trai lúng túng vì cách xưng hô của Tân, vội vàng giới thiệu. – Thế là chúng ta đã quen nhau. Hãy gọi mình là anh. [...]
Lúc bữa cơm được dọn ra bàn, Độ đánh thức Tân dậy. Bà mẹ đưa cho Tân hai viên thuốc cảm và cốc nước nóng, rồi chép miệng ái ngại:
– Cháu uống thuốc đi, rồi ra ăn cơm. Thời tiết độ này làm nhiều người cảm cúm quá.
Tân lờ đờ bước lại bên bản ăn, trên người là bộ quần áo ẩm Độ vừa đưa cho, có cảm giác gần gũi khi nhận ra những món ăn quen thuộc và ưa thích của gia đình. Có thể theo thời gian, con người sẽ thay đổi nhiều hơn là những món ăn hợp khẩu vị của họ.
– Thế không chở mẹ cháu về cùng ăn hả bà? – Tân cầm đũa và thuận miệng hỏi. – Sao cơ? Cháu đến đây cùng mẹ à? Mẹ cháu đâu rồi? Mẹ cháu là ai? [...] Mặc dù chưa lấy lại được sự hoạt bát bình thưởng. Tân không khỏi mỉm cười thích thú:
– Mẹ cháu là ai? Bà quên thì để cháu nhắc cho bà nhớ: mẹ cháu là ma-đam Yến, giảng viên trường Đại học Sư phạm. Còn bố cháu là Hoàng Độ, cán bộ sở Giao thông.
Nói câu cuối cùng, Tân láu lỉnh đưa mắt nhìn Độ như kéo thêm một đồng minh để cùng đùa bà nội. Nhưng Độ đã buông bát, ngồi thẳng đơ, hết nhìn Tân lại nhìn mẹ, vừa ngạc nhiên, vừa ngượng. Chú chàng này đã đọc vanh vách tên họ nghề nghiệp của Đô cùng với tên cô bạn gái mà Đô mới chia tay cách đây một giờ. Đô chưa hề giới thiệu Yến với mẹ, và anh chỉ muốn ra hiệu cho Tân, như với một người bạn trót để lộ một bí mật chưa công bổ, nhưng không kịp. [...]
Tân lạc về tận năm sáu mươi bảy, hai mươi năm trước thời điểm cậu đang sống. Không thể nhớ được Tân đã đi bằng phương tiện gì để tới đây? Lần cuối cùng ở năm tám bảy thì Tân đã nhớ ra, đó là lúc nhà A1 của khu tập thể Cánh Đồng Xanh bị sụt nghiêng. Tân dịu bỏ chạy ra bãi cỏ, rồi quay trở vào. Cảm giác cuối cùng là bị tuột dép bên chân phải, bàn chân bỏng giẫy, đau nhói lên tận tim óc. Sau đó là chuyến bay trong lòng đất, dọc theo một đường hầm hun hút gió... Một chuyển ra đi như thế, làm sao biết được bao giờ mới đến ngày về, và về bằngphương tiện gì đây?
Đây cũng là nhà của Tân, có bà, có bố, nhưng không phải là bà và bố của những năm Tân sống. Tân bỗng nhớ cồn cào những buổi chiều sau khi tắm giặt và ăn chút chè đỗ đen, rồi đến nhà cô bạn xấu xí, rủ nhau đi học nhảy. Nhớ không khí gia đình những buổi tối ngồi xem ti vi, vừa xem vừa ổn ào bình phẩm và tranh cãi. ...
Chuyện như còn hiển hiện ra đó, những buổi tối đoàn tụ cùng gia đình sau một ngày lao động vất vả vào cái năm tám bảy, thế mà đã thành quákhứ, lại là “quákhứ” của năm 1967? Cũng như đôi khi Tân ao ước được trở lại tuổi thơ, được sắm quần áo mới sặc sỡ, được mua nhiều quàbánh, bây giờ đây Tân mong được trở lại với “quákhứ” biết bao.
(Hồ Anh Thái, Trong sương hằng hiện ra, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2005, tr. 221 – 239)
Đoạn Tóm tắt cung cấp những thông tin gi?
Đoạn Tóm tắt cung cấp thông tin khái quát về cốt truyện, bối cảnh diễn ra câu chuyện và nhân vật chính (Tân).
Đoạn trích trên kể về cuộc gặp gỡ giữa Tân với những ai và vào thời gian nào?
Đoạn trích trên kể về cuộc gặp gỡ xuyên thời gian giữa Tân với bà và bố vào “năm sáu mươi bảy, hai mươi năm trước thời điểm cậu đang sống.”.
“Quá khứ” mà nhân vật Tân “mong được trở lại" là gì? Vì sao?
“Quá khứ” mà nhân vật Tân “mong được trở lại” là “năm tám bảy” (1987). Vì đó là hiện thực có thật chứ không phải là trong cơn hôn mê; vì ở vào thời điểm ấy, Tân được sống lại những kí ức đẹp đẽ của một thời thanh bình, không có chiến tranh.
Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn sau:
– Này cháu. – Bà mẹ lay nhẹ bên vai trần nóng giẫy của chàng trai.
- Cháu ơidậy nào... [...]
– Ôi, bà! – Chàng trai mệt mỏi thốt lên.
– Cháu hãy gọi là bác. – Bà mẹ dịu dàng sửa lại.
Gọi là bác? Không đâu, sao có thể lạ lùng như vậy? Cặp môi bà với những rãnh nhỏ màu quết trầu. Nửa đường lông mày bên trái bạc trắng từ hồi nào trong quákhứ. Đúng là bà rồi. Nhưng bà có chiếc áo bông sa tanh đen chần hạt lựu bao giờ đâu? Nhưng vì sao bà bỗng quả trẻ và ăn mặc khác lối như vậy? Nhưng vì sao bà nhắc mình hãy gọi bà là bác?
-Cháu tên là gì, cháu từ đâu tới đây? – Bà mẹ hỏi.
Đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn:
- Hình thức đối thoại, có sự đổi vai giữa người nói và người nghe (Tân và bà).
- Ngôn ngữ giản dị, đời thưởng, sử dụng các từ biểu cảm, từ hô gọi để thể hiện thái độ, cảm xúc của những người tham gia giao tiếp (Cháu ơi dậy nào, Ôi, bà!, Không đâu, sao có thể, bà bông quá trẻ,...).
Câu 5:
HS có thể nêu những thông điệp khác nhau nhưng cần phù hợp với nội dung đoạn trích và chỉ ra ý nghĩa của thông điệp đó với cuộc sống hiện nay.
Gợi ý: Đoạn trích đề cao tình cảm yêu thương giữa con người với con người hoặc đề cao tình cảm gia đình. Đây là những vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân văn, nhất là trong bối cảnh hiện nay, con người bị tác động bởi mặt trái của đời sống thị trường và công nghệ.
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
Tô Hoài và Kim Lân đều là một trong những tác giả tiêu biểu của văn xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các tác phẩm của họ đều lấy cảm hứng từ cuộc sống hiện thực của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng tám. Hai tác phẩm “Vợ Nhặt” và “Vợ chồng A Phủ” tuy phản ánh số phận của hai người nông dân khác nhau nhưng đều mang một kết thúc mở. Nơi mà niềm hy sinh về cuộc sống mới tự do và hạnh phúc của họ được gửi gắm. Kết truyện không chỉ là những tình tiết khép lại câu chuyện mà còn là nơi mà các nhà văn thể hiện những quan niệm, tư tưởng và mở ra những con đường cho nhân vật của mình. Nếu kết thúc truyện Chí Phèo là sự giải thoát cho một kiếp người bị tha hóa bởi xã hội thì cái kết của "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" lại được nhà văn Kim Lân, Tô Hoài mở ra bằng một hướng đi mới cho những số phận đau khổ cho những con người trong hai tác phẩm đó.
Hai tác phẩm "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" là hai tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của hai tác giả. Nếu như Kim Lân viết về tình cảnh thê thảm, tang thương của những người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945 thì Tô Hoài lại viết về cuộc sống tủi nhục, tối tăm của những người nông dân nghèo vùng núi Tây Bắc. Tuy khác nhau về chủ đề và cách thức thể hiện nhưng cả hai tác phẩm đều có những nét tương đồng, cả hai truyện ngắn đều viết về cuộc sống và số phận của những người nông dân nghèo; đều thể hiện sự đồng cảm, trân trọng của nhà văn với số phận và vẻ đẹp của các nhân vật, điều này được thể hiện rõ nét qua phần kết của hai tác phẩm.
Truyện ngắn "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân được viết năm 1954 về cuộc sống của những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhân vật chính của câu chuyện là Tràng - một người đàn ông nghèo khổ, xấu xí sống trong xóm Ngụ Cư. Trước sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của mọi người, Tràng bất ngờ có vợ ngay khi nạn đói đang hoành hành dữ dội nhất. Truyện kết thúc trong chi tiết bữa cơm thảm hại ngày đói của gia đình Tràng: "có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo" và tiếng tiếng trống thúc thuế dồn dập. Trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh những dòng người "ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm".
Kết thúc của Vợ nhặt được Kim Lân lấy cơ sở từ chính hiện thực cuộc sống của đất nước ta lúc bấy giờ. Bởi sau nạn đói năm 1945, cả đất nước ta đang chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền và tiên phong chính là phong trào đi phá kho thóc Nhật để chia cho dân nghèo. Những người nông dân cả đời chân lấm tay bùn, họ ít học, ít hiểu, thế những cái đói khát cùng cực đã giúp họ nhận rõ kẻ thù của mình, đó chính là thực dân Pháp và Phát xít Nhật. Trong khi thực dân Pháp thực hiện chính sách vơ vét của cải thì bọn phát xít Nhật lại bắt dân ta "nhổ cỏ trồng đay", đây cũng chính là nguyên nhân chính gây ra thảm họa nạn đói khủng khiếp 1945 cho dân tộc Việt Nam. Sống trong đói khát, trong cái chết rình rập nên những người nông dân đã ý thức được và tìm cách đấu tranh giành lấy sự sống. Và họ đến với cách mạng như một điều tất yếu, một lẽ đương nhiên. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không thể hiện rõ ràng rằng Tràng có đi theo "lá cờ đỏ" ấy không, nó chỉ mở ra một hướng liên tưởng cho người đọc. Thế nhưng phải chăng qua cái "kết thúc mở" ấy, nhà văn Kim Lân muốn cho người đọc hiểu rằng cuộc đời của các nhân vật trong câu chuyện của mình rồi sẽ thay đổi nếu như họ bắt gặp được ánh sáng Cách mạng? Cuộc đời của Tràng mở ra bằng ánh chiều tà chập choạng với những cảnh "đói sầm vì đói khát", thế nhưng khi kết thúc lại là ánh bình minh của người mới với hình ảnh của "lá cờ đỏ" kia. Tuy là một kết thúc mở nhưng nó đã gieo vào lòng chúng ta niềm tin mãnh liệt vào sự đổi đổi của Tràng, của gia đình Tràng, của hàng ngàn người dân nghèo khác.
Với "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài lại dẫn người đọc đến với cuộc sống của những người nông dân nghèo vùng Tây Bắc. Nhân vật chính trong truyện là Mị và A Phủ. Nếu như Mị là cô "con dâu gạt nợ" nhà thống lý Pá Tra, phải sống kiếp "con trâu, con ngựa", bị đày đọa cả thể xác lẫn tinh thần thì A Phủ trở thành người ở không công cho nhà thống lí chỉ vì đánh nhau với con quan. Hai con người đau khổ ấy gặp nhau, cảm thông, thấu hiểu cho nhau từ những giọt nước mắt và họ đã quyết định giải thoát cho nhau khỏi thân phận nô lệ.
Truyện kết thúc ở chi tiết Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và vụt chạy theo A Phủ để giải phóng chính mình. Sau đêm tình mùa xuân, Mị trở về với cuộc sống lầm lũi, cam chịu như trước kia. Trong một lần "thổi lửa hơ tay", Mị đã bắt gặp "một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Chính dòng nước mắt ấy đã làm cho Mị bừng tình, nhận thức được quyền sống của mỗi con người, nhận thức được sự độc ác của giai cấp thống trị. Vậy nên Mị đã "rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây" cắt đứt sợi dây trói cho A Phủ và thả A Phủ chạy thoát. Thế nhưng chỉ vài phút "đứng lặng trong bóng tối", Mị cũng "vụt chạy ra" theo A Phủ. Và rồi hai con người khốn khổ ấy "lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi". Sau này, hai người trở thành vợ chồng và dưới ánh sáng của cách mạng, họ cùng nhau chiến đấu bảo vệ quê hương.
Cái kết của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã cho chúng ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc giữa những con người khốn khổ, cho ta thấy được sức sống tiềm tàng của họ, nhận thực sâu sắc của họ về quyền sống, quyền được tự do và hạnh phúc cùng với đó là tinh thần đấu tranh với bọn địa chủ phong kiến. Nếu như trước đây, Mị sống "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", sống vô cảm, vô hồn thì giọt nước mắt của A Phủ đã đánh thức trong tâm hồn Mị ý thức về sự sống. Hành động cắt đứt dây trói giải thoát cho A Phủ của Mị cũng là sự giải thoát cho chính bản thân mình. Giọt nước mắt ấy đã đánh thức khao khát sống tự do, hạnh phúc của cô. Và rồi hai con người đau khổ của đất Hồng Ngài đã dẫn nhau "lẳng lặng" "lao chạy xuống dốc núi" trốn thoát khỏi những hủ tục phong kiến, những sự thống trị tàn bạo và dã man, đó là sự tự ý thức của họ về quyền sống, tự do của một con người.
Tuy hai nhà văn Kim Lân và Tô Hoài viết về hai đề tài khác nhau nhưng cách kết thúc trong hai truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" và "Vợ nhặt" lại có những điểm tương đồng. Đầu tiên đó là hai cái kết đều mở ra một tương lai mới tươi sáng và tự do cho người nông dân nghèo khổ. Cả hai nhà văn đều hướng những nhân vật của mình đến với ánh sáng của cách mạng với hy vọng chắc chắn rằng cách mạng sẽ giúp họ đổi đời. Tuy có nhiều điểm giống nhau nhưng Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ cũng có những điểm khác biệt rất rõ ràng. Nếu như Vợ nhặt là hình ảnh của những người nông dân phải sống trong đói nghèo, trong cái chết rình rập, họ thấy được tội ác của bọn phát xít thực dân để từ đó hình ảnh "lá cờ đỏ" cùng đoàn người đi "phá kho thóc Nhật" in đậm trong tâm trí họ, cho họ thấy được con đường thoát khỏi đói nghèo thì Vợ chồng A Phủ lại cho ta thấy sức sống tiềm tàng của những người nông dân, họ tự vùng lên để giải thoát cho chính mình.
Hai chi tiết, hai cái kết trong Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt là khác nhau nhưng ta thấy rõ được những tâm tư, những tình cảm, những giá trị nhân đạo mà cả Kim Lân và Tô Hoài đều hướng tới. Đó là lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc trước những số phận đau khổ bị đày đọa bởi đói nghèo, bởi giai cấp thống trị. Để từ đó hướng họ tới một tương lai tươi sáng hơn khi họ vùng lên dưới ánh sáng cách mạng.
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.
Tự tình II và Thuyền và biển là hai bài thơ tiêu biểu của hai nữ thi sĩ Việt Nam Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh. Mặc dù thuộc hai thế hệ nhưng quan điểm, những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ đều được thể hiện trọn vẹn qua hai tác phẩm và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Tự tình II nằm trong chùm thơ Tự tình gồm có ba bài. Cả ba bài đều thể hiện nhất quán nỗi tự thương mình trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi và khao khát hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt. Những vần thơ còn thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng. Thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn.
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu đưa hương say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”, câu thơ cất lên đầy ai oán chua xót. Trong một bài thơ khác Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” để cho thấy rõ hơn số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Tuổi xuân người con gái có được là bao nhiều, xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy. Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ - càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.
Cũng thể hiện khát vọng của người phụ nữ, Xuân Quỳnh của thế kỷ XX đã thể hiện được những rung động, tha thiết trong tình yêu.
Em sẽ chia sẻ với anh
…
Đưa thuyền khắp nơi
Bài thơ bắt đầu với hình ảnh của thuyền và biển. Thuyền và biển là hai hình tượng hòa quyện với nhau, không thể tách rời, mang đến vẻ đẹp trữ tình giản dị và tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ. câu chuyện của một tình yêu chung thủy “Từ ngày nào không biết. Thuyền nghe theo lời biển khơi”. Câu thơ như một sự thú nhận ngần ngại, e ấp, rằng từ lâu em đã thích anh, sẵn sàng xây dựng hạnh phúc lứa đôi với anh. Không biết từ khi nào em đã yêu anh, nhưng tình yêu ấy là chân thành và vĩnh cửu.
Thông thường, biển thường tượng trưng cho người con trai vì sức mạnh của nó, nhưng Xuân Quỳnh đã tạo ra một sự đảo ngược, sử dụng hình ảnh của biển để biểu hiện người con gái, vì biển cũng có sự dịu dàng, chân thật, đặc biệt là với sự rộng lớn như tình yêu của nhà thơ.
Khi yêu, chúng ta không thể dự đoán được hướng đi. Trong tình yêu, con người ta thường theo đuổi theo cảm xúc, để tình yêu dẫn đường.Cảm xúc của đôi lứa không ngừng chuyển động, không bao giờ có thể nén trong vài câu từ, nó là một thế giới sống động và tuyệt vời, tình yêu không phải ai cũng có thể diễn đạt được, nhưng Xuân Quỳnh đã thực hiện nhiệm vụ đó rất tốt. Với Xuân Quỳnh, tình yêu được định nghĩa bởi sự cảm thông, sự thấu hiểu và lòng hy sinh. Tình yêu là sự kết nối tất yếu với sự khao khát tìm kiếm, mong muốn hiểu rõ lòng nhau. Trong bài thơ, Xuân Quỳnh thông minh tách “hiểu” và “biết”, cùng lúc sử dụng hai lần từ “chỉ có”, làm nổi bật sự riêng tư của “thuyền và biển”, cũng như của “anh và em”, không có ai thứ ba nào thấu hiểu. Đó là cảm giác tự hào, tự tin trong tình yêu của chúng ta. Đó là cảm xúc và là khao khát của mỗi người khi yêu. Hình ảnh thuyền và biển vẫn liên quan chặt chẽ với nhau, biểu tượng cho tình yêu không thể chia rẽ. Trái tim của Xuân Quỳnh, khi “Thuyền và biển” ra đời, vẫn còn trẻ và ấm áp. Như một ước mơ, một định mệnh, Xuân Quỳnh trở thành thi sĩ của tình yêu, sống vì tình yêu. Có lẽ đó là sự bù đắp cho cuộc đời của Xuân Quỳnh, cũng như là cơ hội để Quỳnh có thể trở thành chính bản thân mình. Yêu thương và khao khát, cuộc sống của Xuân Quỳnh trở thành một hành trình tìm kiếm hạnh phúc. Với trái tim hồn nhiên trong thời kỳ đó, Xuân Quỳnh mong muốn một tình yêu lý tưởng, chung thủy, duy nhất và hiểu biết tận cùng.
Qua đó có thể thấy, hai bài thơ Tự tình II và Thuyền và biển đều thể hiện rất tốt cảm xúc, tâm trạng của người phụ nữ trong các hoàn cảnh của cuộc đời. Nhưng có lẽ chính bởi hai tác giả thuộc hai thế hệ khác nhau nên dù cho cả hai đều có cách tân trong việc thể hiện nỗi lòng người phụ nữ nhưng ở Tự tình – khi tư tưởng còn bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, người đọc thấy một tâm trạng bi ai, than thân trách phận của người phụ nữ thời xưa, khi họ khao khát được bày tỏ nỗi lòng nhưng không được chấp nhận và phải sống cuộc đời “tầm gửi”. Ngược lại, Thuyền và biển đã thể hiện rõ ràng tâm trạng, mong muốn, khát vọng tình yêu của người phụ nữ, để thấy được rằng, trong tình yêu, người phụ nữ cũng mạnh mẽ, sẵn sàng cho đi hơn bất kì ai khác.

